|
|
|
Trang chính Xã hội |
|
| |
|
|
|
Xã hội
|
12/08/2004 |
|
 |
|
Anh Sơn đang may giày dép tại chợ Châu Ổ, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi | Chợ Châu Ổ, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi giữa một trưa tháng bảy nắng vàng mắt. Bên cổng chợ, một người đàn ông ngồi may giày dép và hàn vá đồ nhựa.
“Bao nhiêu tiền hả chú?”. “Một nghìn”. “Năm trăm thôi mà”. “Ừ, thì năm trăm...”. Đó là những mẩu đối thoại diễn ra hằng ngày bên cổng chợ giữa anh và khách hàng. Quanh anh là những đôi giày bị đứt, những chiếc thau nhựa bị bể, những cái giỏ xách rách...
Anh là Lê Thanh Sơn (50 tuổi), người mà một thời là con nghiện nặng, đến mức trong giới nghiện ma túy ở Quảng Ngãi đã từng tôn anh lên hàng sư phụ...
20 năm tăm tối
“Tui là con một nên được cưng chiều hết mực - anh kể - Nhà khá giả nên mẹ gửi tui vô tỉnh (thị xã Quảng Ngãi) để học. Có tiền, tui ăn chơi và làm quen với ma túy từ những năm học trung học. Năm 1969 tui rớt tú tài và bị bắt vô lính. Quá chán nản, tui lao vào ăn chơi, nhiều lần đào ngũ, đến ngày giải phóng trở về...”.
Rồi anh có vợ, lần lượt ba đứa con chào đời. Vẫn mỗi mình vợ anh với mẹt trái cây bán ở chợ vừa lo cho con, vừa lo cho chồng. Từ hút anh chuyển qua chích. Trong nhà có cái gì bán được là anh đem bán, đến khi không còn gì thì anh bán căn nhà.
Nhiều lần anh hứa với vợ là bỏ, nhưng hàng chục lần quyết tâm cai nghiện vẫn không thành. Đầu năm 1996, được Nhà nước cho 4 triệu đồng vô dưỡng đường Lê Văn Sĩ, TP.HCM để cai nghiện. Nhưng được đâu 20 ngày, khi bước ra cổng là anh bị ma túy níu kéo trở lại.
“Ba bỏ chơi cho con học”
 |
| Chị Trầm Hương, vợ anh Sơn, với mẹt trái cây nhỏ tại chợ Châu Ổ - Ảnh: Hoài Nhân | Đến tháng 8-1996, anh quyết định cai nghiện tại nhà. Chị Ngô Thị Trầm Hương, vợ anh, kể: “Tui cứ tin là có ngày ảnh sẽ bỏ được... Mà cái chuyện bỏ được của ảnh cũng chẳng ai tin, lạ thiệt...”. Quả là khó tin, chuyện bắt đầu từ tám năm về trước nhưng đến bây giờ anh vẫn nhớ như in.
Hôm ấy, trong lúc anh vật vã vì đói thuốc thì đứa con trai đầu Lê Thanh Phong từ TP.HCM điện về. Giọng của con, lời của con anh không bao giờ quên được: “Con đậu Đại học Bách khoa rồi ba ơi. Thôi ba nghỉ chơi để cho con học, còn không thì con nghỉ học để ba chơi...”. “Lúc đó tui bật khóc, không nói được..., tui chỉ hứa với nó một câu: ba bỏ chơi để con học”.
Kể từ mùa hè năm 1996 ấy, cứ mỗi lần lên cơn, hình ảnh đứa con trai đang bước vào giảng đường lại hiện ra trong anh... Vì vậy, ban ngày anh tự trói mình nằm ở nhà, ban đêm sợ lên cơn ảnh hưởng đến hàng xóm, một mình anh lang thang ra bờ sông tìm nơi vắng vẻ một mình la hét. Nhiều lúc không chịu nổi anh nhảy xuống sông. Mỗi đêm như thế chị Hương theo sau động viên và đề phòng bất trắc.
Chị Hương nói: “Ròng rã hơn ba tháng trời đêm mô tui cũng thức trắng để theo ảnh. Có đêm tui mệt quá nằm ngủ luôn bên bờ sông”. Hơn một năm sau anh mới cắt được cơn nghiện. Sợ anh nằm nhà một mình nghĩ quẩn, vợ anh bàn tính tìm việc làm cho anh vui. Nói hôm trước, hôm sau anh sắm đồ nghề ra ngồi ở chợ.
Khi Lê Thanh Phong học xong năm 2, anh vào TP.HCM thăm và dự định đưa con về nhà để con thật sự thấy anh đã “nghỉ chơi” mà yên tâm học hành. Nhưng khi anh vào nhà vệ sinh của ký túc xá, tình cờ bắt gặp một sinh viên đang tiêm chích ma túy, anh rùng mình và vội quay ra bến xe đón xe tức tốc về quê. Mãi sau này khi đã ra trường, con anh mới hiểu lần trở về vội vã của anh.
Nhờ học giỏi nên vừa tốt nghiệp ra trường Phong được một công ty của thành phố nhận vào làm việc. Đứa con thứ hai Lê Thanh Sỹ tiếp tục đậu vào khoa kiến trúc Trường ĐH Bách khoa TP.HCM, hiện đang học năm 3; còn con gái út đang vào lớp 12. Anh Sơn tâm sự: “Chừ thì vợ chồng tui đỡ lo rồi, hai đứa đang học đã có thằng Phong lo, vợ chồng chỉ lo buôn bán, dành dụm làm mới lại căn nhà”.
Không chỉ cai cho mình
Chủ tịch UBND thị trấn Châu Ổ, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi đã không tiếc lời khi tôi hỏi về chuyện cai nghiện thành công của anh Lê Thanh Sơn: “Cả thị trấn có bốn người nghiện. Tấm gương của anh Sơn đã giúp chúng tôi vận động các đối tượng khác cai nghiện. Bây giờ, ngoài công việc kiếm sống hằng ngày để nuôi con ăn học, anh Sơn còn tham gia nhiều công tác tại địa phương. Anh còn là một cộng tác viên tích cực của Trung tâm Cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ngãi”.
Thiếu tá Nguyễn Công Binh, trưởng Công an thị trấn Châu Ổ, cho biết: “Có lần nhờ anh mà lực lượng công an chúng tôi phá một đường dây buôn bán ma túy từ Nghệ An đưa vào Quảng Ngãi tiêu thụ...”.
Khi tôi hỏi chuyện anh cùng công an phá đường dây ma túy, anh Sơn bảo nhỏ: “Có chi mô mà kể, mình cố gắng làm những việc có ích được chừng mô hay chừng nấy thôi mà...”. Như lời anh kể, hơn bảy năm sau khi cai nghiện, anh đã giúp đỡ hàng chục anh em nghiện khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ bỏ ma túy từ kinh nghiệm cai nghiện của mình.
Và đến bây giờ anh vẫn dành thời gian đi bất cứ nơi đâu trong tỉnh để nói chuyện với các bạn trẻ về tác hại của ma túy từ cuộc đời thật của mình.
(Tuoi tre) |
|
|
11/08/2004 |
| |
|
 |
|
Cầu Hiền Lương năm 1954 (ảnh tư liệu) |
Chúng tôi về mảnh đất "bên ven bờ Hiền Lương", một ngày trước dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập đặc khu Vĩnh Linh (nay là huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) vào tháng 8 này. Càng đi, càng biết, càng hiểu, lại càng thấy thấm thía câu thơ "Đến Vĩnh Linh vốc lên từng nắm đất/Hiểu thêm nhiều sự thật lạ lùng hơn"...
Chúng tôi đi từ phía Nam ra, từng bước một, chậm rãi như đếm từng tấm ván của cầu Hiền Lương vừa được phục chế theo "bản gốc", cạnh đó là cầu Hiền Lương mới, được hoàn thành bằng công nghệ đúc hẫng tiên tiến nhất hiện nay. Chỉ cần chưa đầy ba mươi giây, xe đã vù qua cầu. Thế mà, suốt 20 năm trước ngày giải phóng, bước chân người từ "ngoài ấy" vào phải dừng lại ở vạch hạn định ba nhịp rưỡi đầu Bắc sơn nâu, người "trong ấy" ra chỉ được bước đến ba nhịp rưỡi đầu Nam sơn xanh của cầu Hiền Lương bảy nhịp. Và đây là địa giới của Vĩnh Linh ngày đó.
Sách cũ chép rằng: Châu Minh Linh có từ đời Lý (thế kỷ XI), trước đó có tên là Ma Linh, sau đổi thành Nam Linh. Đến đời Lê, huyện Minh Linh thuộc phủ Tân Bình (Quảng Bình hiện nay). Vào thế kỷ XIX, lúc thì thuộc dinh Quảng Trị (đời Gia Long), lúc thì thuộc phủ Triệu Phong hoặc huyện Địa Linh (thời Minh Mạng). Năm 1885, gọi là Chiêu Linh (vì húy chữ Minh). Đến năm 1889 thì đổi thành Vĩnh Linh.
Từ châu Minh Linh đến huyện Vĩnh Linh là cả một thời kỳ lịch sử dài (từ triều Lý đến triều Nguyễn). Nhưng sự thay đổi về hành chính, danh xưng và phát triển của cư dân vùng này còn chưa dừng lại ở đó. Năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình trên bán đảo Đông Dương được ký kết, vùng đất Vĩnh Linh dọc dài 10 km (phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy - Quảng Bình, phía Nam giáp sông Hiền Lương - vĩ tuyến 17 - Quảng Trị) trở thành một vùng đất hết sức nhạy cảm từng được gọi là đặc khu Vĩnh Linh. Mới đó mà đã 50 năm rồi!
"Cuối cùng rồi cũng có hòa bình. Hãy quên và tha thứ cho chúng tôi... Hãy để cho chúng tôi rút ra bài học về quá khứ...". Wiliam A.Bery, một cựu binh Mỹ có mặt tại chiến trường miền Nam từ những năm 1966 - 1968 đã viết những dòng này vào sổ lưu niệm Nhà bảo tàng địa đạo Vịnh Mốc năm 1997. Trung bình mỗi mét vuông đất Vĩnh Linh đã hứng chịu 9,6 tấn đạn bom, mỗi người dân từ bé đến lớn phải gánh chịu 7 tấn bom và 10 quả đạn pháo... Không biết ông ta rút ra "bài học" gì ở con số này ? Nhà báo Nguyễn Tiến Đạt, người chứng kiến chuyện này kể lại rằng, lúc ấy có một lão ngư gầy gò cầm cái mai chèo đứng cạnh, hỏi: "Lạo (lão) này viết chi rứa?". Wiliam thấy chiếc mai chèo là lạ nên quay sang bắt chuyện. Lão ngư nghe người phiên dịch nói xong thì cười: "Cái mai chèo này ngày xưa dùng để đánh giặc, bây giờ dùng để nuôi vợ nuôi con. Hồi chiến tranh, ông bay đến vùng ni ném bom thì chắc biết mặt tui". Cho đến sau này, Wiliam vẫn không thể nào biết được, lão ngư ấy chính là anh hùng Lê Văn Ban, người làng Tùng Luật, xã Vĩnh Giang, nơi có bến đò B hai lần anh hùng. Và hẳn, không người Mỹ nào có thể tưởng tượng được bằng cái mai chèo ấy, ông Ban đã dùng để chèo thuyền vượt qua hàng trăm trận bom, thủy lôi và bọn hải tặc để tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ xa bờ 30 hải lý suốt những năm chống Mỹ với tinh thần “Cồn Cỏ còn là Tổ quốc còn”. Ông Ban bảo "biết mặt tui" là vì lẽ đó.
Vào thời sinh viên, tôi có ba tháng làm luận văn ở vùng đất sinh ra chuyện trạng Vĩnh Hoàng. Bản lĩnh của người dân vùng "lũy thép" Vĩnh Linh qua từng câu chuyện khiến tôi bị ám ảnh một thời gian dài, và cho đến nay vẫn không thể nào quên được. Hồi ấy, tôi tìm cách cắt nghĩa cho được, vì sao, hàng ngày trong tiếng máy bay gầm rú, bom đạn cày nát từng tấc đất, người Vĩnh Linh vẫn lạc quan, coi khinh hiểm nguy đến thế.
Tục ngữ Nga có câu: "Anh hãy cho tôi biết anh cười ai, tôi sẽ nói cho anh biết anh là người thế nào". Điều này thấy rõ khi đến đất Vĩnh Linh, nghe người dân kể chuyện cười. Trong hàng trăm câu chuyện ấy, có chuyện một cụ già bị bom vùi lấp, dân quân đến đào hầm để cứu. Khi mới thò được cái đầu khỏi đất, cụ tỉnh rụi: "Cho bọ (bố) xin điếu thuốc đã". Rồi mặc dầu còn bị đất lấp trên người, cụ vẫn thản nhiên: "Sang vườn bên tê cứu mấy mệ cháu nhà bên nớ, còn bọ, hút hết điếu thuốc ni là bọ tự lên được". Khi biết cụ bị thương, y tá định đưa đi viện, cụ ngồi tỉnh queo, tay nắn vào mông, đoạn à lên một tiếng thiệt... Vĩnh Hoàng: "Mệ mi ơi! Cái mảnh bom đây rồi, chà, hắn cứng gớm. Mệ đem đôi đũa bếp ra đây gắp hắn ra cho tui với".
Bom đạn của địch hầu như lúc nào cũng "thường trực", chả thế mà có chuyện một bà mẹ đi chợ về, mấy đứa con phát hiện trong thúng gạo đội trên đầu có một quả bom bi, chuyện khủng khiếp như thế mà giọng bà mẹ vẫn như không: "May mà có thúng gạo ni, không thì hắn mượn cái đội lịp (nón) của tau rồi!". Cách hành xử này vừa có tính hài hước, vừa giễu cợt kẻ thù, nó chứa đựng sức mạnh và bản lĩnh của người Vĩnh Linh khi họ phải đối đầu với hiểm nguy luôn rình rập.
Ai từng đến Vĩnh Linh, hẳn phải thăm địa đạo Vịnh Mốc. "Làng địa đạo Vịnh Mốc" bây giờ là di tích lịch sử văn hóa. Công trình tôn tạo di tích này vừa được hoàn thành vào ngày 22/7 mới rồi. Vĩnh Linh là nơi duy nhất ở nước ta (và có thể của toàn thế giới) có đến 114 "làng hầm" với tổng chiều dài hơn 40 km, nơi sâu nhất âm 30m cùng một hệ thống giao thông hào dài 2.000 km. Các "làng hầm" đều có đủ "cơ sở hạ tầng" như hội trường, bệnh xá, trường học, trụ sở chính quyền, căn hộ, bếp, giếng nước... Đào địa đạo là một chuyện khó, vì theo lời kể của người trong cuộc, trên một trục địa đạo đã được xác định, người ta đào hai cái giếng sâu chừng 20m, từ hai đáy giếng, hai nhóm người phải đào làm sao có thể thông được với nhau kiểu như khoan đường hầm đèo Hải Vân bây giờ vậy. Khó khăn nhất là đoạn giáp mối để thông hầm, vì có thể bên đào lên cao, bên xuống thấp, bên lệch phải, bên qua trái. Kinh nghiệm đào địa đạo của người Vĩnh Linh về chuyện này rất... đơn giản: Cử hai người đang yêu nhau đào hai nhóm, nhờ đó mà hai người này "nghe nhịp đập của trái tim" mà tìm đến nhau. Trong bom đạn ác liệt, cái chết cận kề, người Vĩnh Linh vẫn nghĩ ra chuyện này (cho dù để kể vui) cũng quả thật thông minh và... lãng mạn.
Buổi trưa, uống chè xanh tại nhà bác Bản ở làng Tùng Luật, nghe bác kể chuyện thời chiến tranh, ở ngay bến đò này trong 7 năm (1967 - 1973) người dân quê bác đã đưa hơn 2 triệu lượt bộ đội cùng hàng chục vạn tấn lương thực qua sông chi viện cho chiến trường miền Nam ruột thịt. Bác còn tự hào về cái làng nhỏ nhoi này sinh ra đến 20 nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú. Trong đó có nghệ sĩ Châu Loan, Lệ Thi... một thời đêm đêm cả nước lại ngóng tiếng hát, tiếng ngâm thơ của họ trên đài tiếng nói Việt Nam. Khi biết bác đang giấu trong mình căn bệnh ung thư, chúng tôi không khỏi ái ngại. Bác biết ý và cười: "Có chi mô các chú. Tui sống đến ngày hòa bình là thấy có lời (lãi) rồi. Sống đến chừ thì lời hung!".
Lặn một hơi ra giữa dòng sông Bến Hải, nhìn vào rồi nhìn ra, chỉ cần một hơi nữa là sang phía bên kia. Lạ thật, thế mà suốt hai mươi năm đau đáu một nỗi đau chia cắt. Đau đáu trong nỗi niềm câu hát: "Bên ven bờ Hiền Lương/Chiều nay ra đứng trông về/Mắt đượm tình quê/Đôi mắt đượm tình quê...". Câu hát đó bây giờ mỗi lúc ngân lên tình cảm mỗi người vẫn dâng trào trên khóe mắt. "Hò ơi! Dù cho bến cách sông ngăn/Dễ gì rẽ được duyên anh với nàng/Xé mây cho sáng trăng vàng/Khai sông mở lối cho nàng về anh...".
Năm 1972, người Vĩnh Linh bước lên khỏi địa đạo, họ bảo quê của mình lúc ấy y như cái... mặt trăng. Một phần đất trắng, ba phần là sắt thép đạn bom. Khó khăn nối tiếp khó khăn. Hồi ấy thị trấn Hồ Xá (bấy giờ là huyện lỵ của huyện Bến Hải, sau này tách thành Vĩnh Linh và Gio Linh) xây được cái santono cấp nước nhưng không có nước trông như trái bầu khô, nhà máy điện nhưng điện thì chỉ sáng bằng cái bật lửa, đào ao thả cá nhưng không có nước nên trở thành nơi... đá bóng. Người Vĩnh Linh tự trào: "Hồ Xá có trái bù (bầu) khô/Có nhà máy lả (bật lửa) có hồ đá banh". Chuyện ấy bây giờ đã trở thành quá khứ.
***
Trở lại vĩ tuyến 17, đứng trên cầu Hiền Lương, một người con Quảng Trị từ nghèo khó nay đã trở thành một doanh nhân thành đạt ở xa quê đăm đắm nhìn dòng Bến Hải. Anh đang ôm ấp dự định xây một khu du lịch mang tên Hiền Lương, trong đó có một khách sạn đặt tên là Vĩ tuyến 17 ngay giữa gò nổi con sông. Anh bảo, cái "thương hiệu" này không cần quảng cáo cũng đã nổi tiếng rồi và không thể ai tranh chấp được.
Nhà thơ Ngô Minh viết: "Đến Vĩnh Linh vốc lên từng nắm đất/Hiểu thêm nhiều sự thật lạ lùng hơn". Đêm, tôi áp ngực vào đất Vĩnh Linh, nghe tiếng vọng của những truyền kỳ, nhịp thở của cuộc sống mới, nếu là tôi lúc ấy, bạn sẽ tin như tôi đã tin, kể cả những gì đang ở phía trước.
Quảng Trị cuối tháng 7/2004 |
(Thanh Nien) |
|
|
10/08/2004 |
|
Trong tập chuyên khảo về Đắk Lắk, học giả người Pháp Monfeleur đã miêu tả sinh động những cuộc săn bắt và thuần dưỡng voi rừng của người Bản Đôn, Đắk Lắk xưa (Monographie du Darlac - Hà Nội 1930) khiến người đọc đến nay vẫn say mê. Nét văn hóa độc đáo ấy những tưởng chỉ còn trên trang giấy... Thế nhưng, mới đây những dũng sĩ săn voi ở vùng đất huyền thoại Bản Đôn đang làm sống lại nghề truyền thống nổi tiếng này
Bạt Thông Ngân và Bạt Thông Khăm khiến chúng tôi nhọc công nhất từ trước đến nay bởi chúng đã quá “lờn” người, không còn biết sợ!”. Ông Ama Đen (40 tuổi), người trực tiếp thuần dưỡng 2 con voi rừng mang tên như trên, tâm sự.
Cách đây 3 năm (tháng 7-2001), 6 con voi dữ ở Tánh Linh (Bình Thuận) đã được đưa lên Đắk Lắk để thả vào rừng. Tại Yok Đôn, 4 con voi lớn đã dần hòa nhập và sống chung với đàn voi nhà bản địa. Chỉ có 2 con nhỏ (được giữ lại vườn để chăm sóc, bảo vệ) xung đột dữ dội với đàn voi nhà, phá phách tài sản và hoa màu, trốn sang tận Nam Dong - Cư Jút (Đắk Nông) đe dọa tính mạng nhiều người.
Ông Ngô Tiến Dũng, Giám đốc Vườn Quốc gia Yok Đôn, cho biết: Được cấp trên chấp thuận, vào đầu tháng 5, Vườn Quốc gia thuê một nhóm người dân tộc thiểu số tại địa phương thuần dưỡng 2 chú voi hung dữ đã được 5 tuổi là Bạt Thông Khăm và Bạt Thông Ngân. Nhóm do ông Ama Buôn Thăn phụ trách đã hạ trại sâu trong rừng Yok Đôn ăn ở cùng đàn voi...
Giai đoạn đầu: Voi quần người
Từ ngày được đưa lên Vườn Yok Đôn này, hai chú voi con tấn công cả du khách thăm vườn. Y Măk, người trông coi đàn voi (trong đó có 2 chú Khăm và Ngân), kể: “Cứ thấy bóng người là nó gầm lên chồm tới tấn công,Y Măk cũng nhiều lần bị chúng rượt đuổi “bán sống bán chết”. Hôm đầu tiên thuần dưỡng, cả nhóm (6 người) phải đưa 2 voi nhà đến áp đảo để buộc nó vào gốc cây rừng. Mất một ngày mới tiếp cận được.
Tại một góc rừng già khá bằng phẳng cạnh sông Sêrêpốk (nơi nhóm thuần dưỡng voi hạ trại) vẫn còn nguyên dấu tích những cuộc vật lộån giữa 6 con người và 2 con voi dữ. Bên cạnh nhiều thân cây bị đổ gãy, vặn vẹo từ những cú đánh hông, lắc đầu và giẫm đạp dữ dằn của voi là những hố đất bị dằn xơ xác. Y Măk cho chúng tôi xem nhiều dụng cụ thuần dưỡng voi như: Dùi đinh (gọi là khó), khóa chân làm bằng dây da trâu (pọc) và chùm dây trói cổ (khôn) được bện bằng dây rừng chắc nịch... Cái nào cái nấy đầy rẫy vết xước và lấm lem bùn đất.
Giai đoạn 2: Ngồi lên lưng voi
Đã quá trưa, Y Măk bảo: “Phải chờ vài giờ nữa mới tìm được voi”. Hơn một tuần nay, nhóm bước vào giai đoạn cam go nhất trong quá trình thuần dưỡng. Giai đoạn này dù không nguy hiểm bằng bước đầu làm quen với voi, nhưng đòi hỏi kiên trì hơn. Sở dĩ không bắt 2 con voi Thông Khăm và Thông Ngân vào bãi tập sớm như mọi khi là vì dành thời gian cho chúng ăn thật no, thư giãn nhằm bồi bổ cơ thể, tăng cường sức đề kháng sau gần 50 ngày liên tục bị cùm chân và khống chế, kể cả giam đói.
Y Măk nói: Cả vùng rừng Buôn Đôn trước đây có tất cả 3 điểm thuần dưỡng voi lý tưởng nhất - đấy là Buôn Trí, Yang Lành và bến nước Cây Si này. Nơi được chọn làm bãi thuần dưỡng voi nhất thiết phải gần sông và bằng phẳng, tách biệt hẳn với buôn làng, càng xa càng tốt. Yếu tố gần sông là quan trọng nhất bởi trong quá trình quần nhau giữa voi và người không gì thuận lợi bằng cách... cùng nhau xuống nước. Ở đó, những người thuần dưỡng voi dễ dàng xoay trở và điều khiển từ trên lưng voi. Nếu bị voi hất ngã cũng không đến nỗi bị thương. Khi đã ngồi trên lưng voi rồi, thì làm sao phải bắt nó đi đứng theo ý mình. Y Măk bảo: Đây là bước khó khăn nhất. Người thuần dưỡng voi phải nhờ vào những vòng, những xích và cả cây rừng ken dày để chặn, để buộc giữ voi.
Y Măk tiếc rằng, đến bây giờ buôn Trí và buôn Yang Lành không còn là nơi thuần dưỡng voi rừng như xưa. Bởi rừng ở đó không còn, cư dân tứ xứ đã đến sinh cơ lập nghiệp đông đúc lắm rồi.
Mắt voi sẽ mất vẻ hoang dại
Bất chợt những tiếng gầm từ con suối Đinh Rắk vọng lên, khiến ai cũng giật mình quay ngoắc lại. Trong chớp mắt, tiếng nện gót thình thịch cùng tiếng gầm rú dũng mãnh của 2 con voi dữ Tánh Linh đã ào qua trước mặt, nhắm thẳng bến nước Cây Si lao xuống. Trên lưng 2 con voi, Ama Đen cùng chàng trai trẻ Y Măk vẫn bám chặt. Voi được tắm rửa sạch sẽ dưới bến sông, rồi được Ama Đen dùng dùi đinh khống chế và điều khiển vào bãi tập. Ông chỉ huy những người trong nhóm ép voi vào cây rừng, sau đó dùng dây da trâu, dây mây buộc lỏng vào 2 chân sau và 2 chân trước để nó đi chậm lại, giảm bớt sự hung hãn.
Ama Đen chỉ vào đôi mắt đỏ ngầu như tóe máu của 2 con voi mà bảo: “Phải mất vài tháng nữa mới thuần dưỡng được. Bao giờ chân sau hết đá vào người, vòi thõng xuống và đôi mắt không còn hoang dại nữa mới tháo cùm chân và cổ ra”. Chỉ mỗi việc dùng dây buộc lỏng chân sau và trước của nó cũng phải mất hơn một giờ. Ai nấy trong nhóm đều nhễ nhại mồ hôi. Ama Đen bảo: “Anh em Y Măk không còn phải dùng dây để dắt voi tập đi sang phải, sang trái nữa, mà ngồi trên lưng nó, dùng dùi đinh và búa để điều khiển”.
(NLD) |
|
|
09/08/2004 |
|
Hợp tác xã mây tre lá Hòa Bình, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên thành lập năm 1999 với các ngành nghề sản xuất thủ công mỹ nghệ từ mây, tre, lá như bàn ghế, bình hoa, rổ rá…
|
|
Dịp hè, các em học sinh phụ giúp gia đình gia công đan lác để tăng thêm thu nhập. |
Sau 5 năm hoạt động, HTX đã giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động tại địa phương. Nếu như trước đây, sau những ngày mùa, nhiều người ở vùng lúa Tuy Hòa thường đổ về các đô thị kiếm sống bằng đủ nghề như bán vé số, phụ hồ, giúp việc nhà… thì nay họ có thể ở nhà nhận hợp đồng đan lát sản phẩm cho HTX.
Ông Lương Tấn Thái, Chủ nhiệm HTX cho biết, hàng tháng HTX cử kỹ thuật viên đến hướng dẫn bà con kỹ thuật đan, lát. Sau đó, bà con có thể nhận làm sản phẩm cho HTX. Tùy theo loại sản phẩm phức tạp hay đơn giản mà HTX trả công thích hợp. Chị Trần Thị Thắm ở xã Phước Long nói, chị làm hợp đồng cho HTX theo mùa vụ đã được 3 năm, mỗi tháng cũng kiếm thêm được 500 ngàn đồng.
Theo ông Lương Tấn Thái, hiện nay có khoảng 664 lao động nữ làm việc hợp đồng thường xuyên tại cơ sở, ngoài ra còn có khoảng 1.500 lao động nhận nguyên liệu về nhà làm lúc nông nhàn, với thu nhập từ 300 đến 800 ngàn đồng/tháng/người.
(SGGP)
|
|
|
06/08/2004 |
|
 |
|
Khoa nhi: 3 em một giường! - Ảnh: L.Đ.Dục |
Với thiết kế 300 giường bệnh, từ đầu tháng 7-2004 đến nay, bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị luôn lâm vào tình trạng quá tải do lượng bệnh nhân quá đông.
Ban giám đốc bệnh viện cho biết bình quân số người diều trị nội trú tại đây hơn 400 người/ngày (vượt hơn 100 giường) nên nhiều giường bệnh phải nằm 2 người/giường.
Tại khoa cấp cứu hồi sức nạn nhân tai nạn giao thông (TNGT) chiếm 30% số bệnh nhân, như ngày 1-8 chỉ một ngày tiếp nhận 12 ca TNGT. Tại khoa Nhi, do số lượng bệnh nhân nhiều phải nằm 3 em/giường. Trước mắt, bệnh viện chỉ có thể tăng cường y, bác sĩ cho các khoa đông bệnh nhân còn về chỗ nằm thì..đành chen chúc nhau. |
|
Xem tiếp...
|
|
|
06/08/2004 |
|
 |
|
Chuyến bay BL 909 đưa 150 khách du lịch Nhật Bản đến Đà Nẵng bằng đường bay trực tiếp Nhật Bản- Đà Nẵng | TTO (Đà Nẵng) - Đúng 11 giờ 30, ngày 4-8, máy bay A320, số hiệu BL909 do hãng hàng không Facific Airlines cùng một số công ty lữ hành VN và Nhật Bản phối hợp tổ chức đã đưa 148 hành khách (chủ yếu khách du lịch trong đó 43 khách xuống Đà Nẵng, 105 khách còn lại đi TP.HCM) đáp xuống sân bay quốc tế Đà Nẵng.
Đây là chuyến bay trực tiếp, đầu tiên từ thành phố Okinawa (Nhật Bản) đến Đà Nẵng. Theo đại diện hãng Facific Airlines: chuyến bay này không thường lệ, chỉ mang tính chất thăm dò thị trường.
Tuy nhiên ngay trong chuyến bay trực tiếp đầu tiên đến Đà Nẵng, nhiều du khách Nhật đã tỏ ra không hài lòng với các khâu làm thủ tục nhập cảnh tại đây, bởi lý do phải mất hơn 40 phút các du khách mới ra được khỏi khu vực kiểm tra. Thêm vào đó hệ thống vệ sinh tại đây quá ít (chỉ 2 phòng nam, nữ), nên rất nhiều du khách đành đã phải sắp hàng chờ đến lượt mình.
Được biết, vào ngày 8-8 tới, Facific Airlines sẽ tổ chức thêm chuyến bay trực tiếp tương tự xuất phát từ thành phố Kagoshima (Nhật) đến Đà Nẵng với số khách đã đăng ký: 146 người.
(Báo Tuổi Trẻ) |
|
|
05/08/2004 |
 |
|
Nhà cổ bị rao bán. Ảnh: Minh Hải |
Hội An từ lâu được xem là địa điểm du lịch hấp dẫn bậc nhất ở Việt Nam, đặc biệt sau khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Tuy nhiên, du khách đến đây đang hết sức ngỡ ngàng khi thấy quá nhiều ngôi nhà cổ bị đem ra rao bán.
Chỉ một đoạn phố ngắn trên đường Trần Phú, từ Cầu Chùa đến khu trung tâm đã có một loạt nhà cổ lủng lẳng treo biển "bán nhà" trên cửa.
Khi được hỏi, chủ nhân một ngôi nhà cho biết: "Rất muốn sống ở phố cổ, nơi ông bà mình đã từng sống nhưng ở đây cũng có những điều thật bất tiện mà trước hết là phải lo về kinh phí tu sửa. Mặc dù Nhà nước và chính quyền địa phương rất quan tâm đến vấn đề này nhưng cũng chỉ đáp ứng được phần nào".
Hơn nữa, theo phản ánh của nhiều hộ dân, sau khi thử nghiệm "phố đi bộ" và "phố không tiếng động cơ xe máy", sắp tới khu trung tâm phố cổ sẽ chính thức áp dụng mô hình này. Điều này làm việc đi lại của người dân thêm phần khó khăn làm cho họ không còn thiết tha với những ngôi nhà cổ của mình. Hiện nay, theo thống kê ở địa phương, chỉ có 47% dân cư phố cổ đồng tình dự án này.
Anh Việt Hùng, một khách du lịch Đà Nẵng đặc biệt quan tâm đến Hội An thì nói: "Cư dân phố cổ chủ yếu sống nhờ những "mặt tiền" của ngôi nhà cổ mình đang ở để kinh doanh. Nhưng thực tế không phải hộ nào cũng có điều kiện để làm ăn như thế".
Về phía chính quyền địa phương, ông Lê Văn Giảng, Chủ tịch thị xã Hội An thì cho rằng, nguyên nhân chính của việc "bỏ phố về thành" là do nhà cổ hiện nay đang là "mặt hàng" hút khách Sài Gòn và Hà Nội. Nhiều người sẵn sàng bỏ ra bạc tỷ để mua một ăn nhà cổ ở Hội An lấy mặt bằng kinh doanh. Người dân ở đây thì lại muốn bán nhà cổ để đổi lấy sự tiện nghi ở thành thị. Ngoài ra, sau khi bán nhà, họ còn được một số tiền vốn kha khá để làm ăn buôn bán. Còn về phần kinh phí tu sửa thì nhà nước và chính quyền đang làm hết sức để hỗ trợ cư dân phố cố. Cơ quan chức năng ở Hội An đang triển khai kế hoạch rót kinh phí trùng tu cho các ngôi nhà cổ đang xuống cấp. Hiện Hội An đã chi 15 tỷ đồng trên tổng số 45 tỷ đồng ngân sách dành để tu sửa và trên 15 nhà cổ có nguy cơ sụp đổ cao đã được nâng cấp.
Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng nhà cổ đang được rao bán có nguy cơ ngày càng gia tăng. Đây là điều chính quyền đại phương cần quan tâm giải quyết để cho những cư dân phố cổ Hội An thật sự là những "cư dân hạnh phúc nhất Việt Nam" như lời ông Giảng khẳng định.
(Theo VNExpress) |
|
|
05/08/2004 |
|
Ngày 4/8, chuyến bay từ Okinawa đã đưa 148 du khách Nhật đến sân bay Đà Nẵng bằng máy bay Airbus A320 trong chương trình bay thuê chuyến của hãng Pacific Airlines.
Sau thời gian transit, chuyến bay này đưa 105 du khách Nhật đi tiếp TP.HCM lúc 11 giờ 30 cùng ngày. Theo đại diện Pacific Airlines tại miền Trung, đây là chuyến bay đầu tiên từ Nhật trực tiếp đến Đà Nẵng. Được biết, trong tháng 8 có tất cả 8 chuyến bay từ Nhật trực tiếp đến Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM.
(Báo Thanh Niên) |
|
|
05/08/2004 |
|
|
 |
| 6 tháng đầu năm, KT-XH khu vực miền Trung, Tây Nguyên phát triển tương đối ổn định |
Tại hội nghị công tác tổ chức từ ngày 3-4/8 tại Đà Nẵng, các đại biểu đã thống nhất 6 nhóm giải pháp chính để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội miền Trung, Tây Nguyên trong những tháng cuối năm.
Các giải pháp gồm:
Trước mắt, các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên cần tích cực đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, dịch vụ, du lịch, xuất khẩu; chú trọng các dự án lớn tại các khu công nghiệp, khu kinh tế mở và đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp, khuyến khích đầu tư.
Hai là đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng có nhiều lợi thế, đủ sức cạnh tranh trên thị trường; xúc tiến thương mại và tìm kiếm thêm thị trường mới ở nước ngoài.
Ba là huy động mạnh và đồng bộ các nguồn lực cho đầu tư phát triển, tăng cường công tác quản lý đầu tư xây dựng quy hoạch.
Bốn là chú trọng tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trong sản xuất, kinh doanh.
Năm là quan tâm hơn đến các hoạt động văn hóa-xã hội; gắn chặt phát triển kinh tế với nâng cao đời sống văn hóa và công tác xây dựng Đảng; tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, nhất là đối với địa bàn Tây Nguyên, các huyện miền núi trong khu vực.
Giải pháp cuối cùng nhưng cũng rất quan trọng là triển khai các phương án phòng chống thiên tai, bão lũ, bảo vệ hồ chứa, đê kè; kiềm chế, tiến tới giảm mạnh tai nạn giao thông.
Trong 6 tháng đầu năm, mặc dù gặp nhiều khó khăn song tình hình kinh tế xã hội miền Trung, Tây Nguyên vẫn phát triển ổn định. Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP của khu vực đạt 10,2%. Nhiều địa phương có tốc độ tăng trưởng cao như Đà Nẵng 12,6%, Bình Thuận trên 12%, Quảng Ngãi 10%, Đắk Lắk gần 9,7%, Ninh Thuận 9,1%. Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực tăng 16,3%. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp đạt trên 6%. Công tác xóa đói giảm nghèo tiếp tục đạt được nhiều thành tựu. An ninh-quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững.
Theo TTXVN | |
|
|
05/08/2004 |
|
Dự án Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) tiếp tục thu hút sự quan tâm của hội nghị đại biểu Quốc hội (QH) chuyên trách trong ngày hôm qua 4-8. Tính tổng cộng đã có 24 ý kiến thảo luận.
Tiếp thu ý kiến tại kỳ họp QH vừa rồi, dự luật bổ sung qui định: diện tích rừng Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê, UBND xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm tổ chức quản lý, bảo vệ rừng.
Thế nhưng ĐB Lê Kim Toàn (Bình Định) lại nghĩ khác: “Ghi vào nghe thì thấy hay song thực tế sẽ tạo nhiều khe hở. Việc giao trách nhiệm này cho chính quyền cơ sở liệu có mâu thuẫn với công tác quản lý chuyên ngành về lâm nghiệp? Nếu không có cơ chế rõ ràng và chỉ chung chung như thế, không khéo diện tích rừng chưa có chủ lại trở thành miếng mồi bị tàn phá thảm hại nhất”.
“Anh Toàn nói rất đúng. Làm sao cấp xã đủ năng lực, trình độ gánh vác?”-ĐB Nguyễn Duy Hoàng (Thừa Thiên - Huế) lập tức đứng dậy chia sẻ và đề nghị giao trách nhiệm vừa nêu cho lực lượng kiểm lâm, như cách làm mà Thừa Thiên- Huế đang áp dụng.
Quan điểm của ban soạn thảo ra sao? Quyền Bộ trưởng Bộ NN & PTNT Cao Đức Phát giải trình: “Một mình kiểm lâm không thể bảo vệ nổi rừng. Đây chỉ là lực lượng nòng cốt tham mưu cho chính quyền, hướng dẫn và hỗ trợ nhân dân cùng tham gia giữ rừng. Hiện chúng tôi đã đưa 45% anh em kiểm lâm về bám rừng tại xã”. “Bên cạnh biện pháp hành chính, dự luật sẽ tạo ra động lực kinh tế với mục tiêu: không để bà con giữ rừng mà vẫn đói!” - ông Phát cam kết.
Theo Phó chủ tịch QH Nguyễn Văn Yểu, dự án Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) sẽ còn được 64 đoàn ĐB QH địa phương mổ xẻ tiếp, trình Ủy ban thường vụ QH trước ngày 15-9 tới để thảo luận lần chót trình QH xem xét thông qua vào kỳ họp cuối năm. Hôm nay, hội nghị ĐB QH chuyên trách bước vào dự án rất đáng chú ý: Luật cạnh tranh.
(B.Tuổi Trẻ) |
|
| | << Đầu tiên < Trước 71 72 73 74 75 76 77 78 79 80 Kế > Cuối cùng >>
| | Kết quả 1171 - 1185 của 1336 | |
|
|
|
|
|
|
© Copyright
2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved.
Contact
us ® Ghi rõ nguồn
"MienTrung.com" khi bạn phát hành lại
thông tin từ website này. |
|
|