|
|
|
Trang chính Xã hội |
|
| |
|
|
|
Xã hội
|
14/07/2004 |
|
|
 |
|
Những căn chòi như thế này được sử dụng hết công suất ở những quán cà phê ''chòi''. |
Mấy năm gần đây “cà phê tình” ở Đà Lạt mọc lên nhan nhãn. Vào đây “thượng đế” có thể tránh cái lạnh buốt giá, lại có chỗ để tâm tình với người yêu, thậm chí sẽ hết "cô đơn" nếu đi một mình…
Tình… “chính qui”
Anh bạn tôi gọi vui như thế để ám chỉ những cặp tình nhân tìm quán cà phê để tâm tình. Vừa vào quán cà phê Tây Hồ trên đường Bà Huyện Thanh Quan thấy ngoài bãi xe có đến gần 70 xe gắn máy, nhưng bên trong quán không thấy một bóng người nào. Trong bóng tối lờ mờ, người dẫn đường vén một bức màn để chúng tôi bước vào một căn phòng nhỏ. Sau khi gọi ly cà phê và ly nước trái cây, chúng tôi hoàn toàn tự do. Ánh sáng không thể nào chui lọt vào những “phòng” rộng chừng 3m2 như thế này với một chiếc bàn con và một cái ghế bành dài hơn 1m. Đang lớ ngớ, chúng tôi phải giật mình vì tiếng động từ phòng bên cạnh, được ngăn bằng một miếng ván gỗ mỏng. Dù ở phòng bên này nhưng chúng tôi có thể nghe rõ từng… hơi thở của phòng bên. Hiểu ra được vấn đề, chúng tôi bấm nhau cùng cười. Hỏi P. một mối quen thuộc của quán thì được trả lời: “Ai vào đây cũng bận rộn với người yêu, có thời gian đâu mà chú ý phòng bên cạnh người ta làm gì?”. Đến đây chúng tôi mới hiểu tại sao “căn phòng” mà chúng tôi đang ngồi vẫn còn nguyên vẹn ly cà phê, khách lại “lãng phí” không dùng cà phê do mình gọi. Còn Th. sinh viên năm 4 khoa Anh văn trường ĐH Đà Lạt bày tỏ quan điểm: “Anh thử coi, ngồi ngoài đường vừa lạnh, vừa không tự nhiên. Còn vào đây chẳng ai biết mình vả lại chẳng ai dòm ngó làm gì”. Cũng trên tuyến đường ngắn ngủi này có đến 4 quán cà phê phục vụ nhu cầu này của khách như: Tây Thi, Trà My, Hoà Lan… Những quán như Gió Núi, Tiếng Thu, Tĩnh Lặng… trên đường Ba Tháng Tư cũng “chòi” tương tự. Thậm chí ở quán Phượng Hoa trên đường Huỳnh Thúc Kháng nếu khách vào đây một mình và có nhu cầu “từ A đến Z” sẽ có người phục vụ ngay. Nhiều quán nắm bắt được tâm lý của khách nên để khách ngồi lâu tuỳ thích, nhưng có giờ có tiền. Thấy chúng tôi ngạc nhiên vì cách tính tiền này, một chủ quán cho biết: “Có khách vào đây từ 19 giờ đến 23 giờ mới về thì lấy đâu chúng tôi bán cho người khác nữa chứ”.
Đến cà phê trá hình
Một buổi tối cuối tuần, chúng tôi vừa đi dạo quanh bờ hồ Xuân Hương thì được một thanh niên chạy xe theo hỏi: “Anh ơi, uống cà phê nhé. Giá rẻ không ngờ, lại được mấy em xinh đẹp phục vụ miễn phí nữa”. Thấy chúng tôi còn do dự, anh ta liền tiếp thị: “Uống cà phê ở đây giá chỉ có 10.000 đồng/ly lại được các em phục vụ nữa. Đâu có đắt hơn các quán cà phê bình thường”. Đang là mùa du lịch, du khách chỉ cần dạo quanh hồ, nhất là đối với những xe có biển số ngoài tỉnh, “cò” sẽ đeo bám đến khi nào khách gật đầu. Mới chỉ 19 giờ, chúng tôi vào vai khách du lịch, “cò” bám theo và cố thuyết phục. Vì mới chiều tối nên chúng tôi giả vờ hẹn đến khuya sẽ liên lạc. “Cò” liền giới thiệu địa chỉ và cho số điện thoại: “Em tên Giang, khi nào cần, hai anh cứ gọi số 063827649 em sẽ hướng dẫn miễn phí”. Khoảng 22 giờ theo hướng dẫn, chúng tôi vừa vào quán Bông Hồng Giấy trên đường Nguyễn Chí Thanh đã có hai em tươi mát đến ngay bàn để hỏi nhu cầu khách. Trong ánh sáng lờ mờ, hai cô luôn “bám sát” vào người khách và “dụ dỗ”: “Hai anh có cần đi “máy bay” luôn không? Đảm bảo không đẹp không ăn tiền”. “Giá một chuyến tàu bay bao nhiêu?”- Tôi hỏi. “Từ 80-100 nghìn đồng chứ mấy. Nếu anh muốn đi cả đêm thì giá có tăng nhưng sẽ có… khuyến mãi”, một cô nhanh nhảu đáp. Được biết tại quán cà phê này cũng từng xảy ra vụ rượt đuổi đánh nhau, làm náo động cả một khu phố, nguyên nhân là do khách vào đây uống vài chai bia nhưng bị tính tiền với giá gần 500 nghìn đồng, thế là xảy ra đôi co và "bảo kê" rượt đánh khách.
Theo lời giới thiệu của một tay "cò", chúng tôi vào quán B.Đ ở gần cuối đường Nguyễn Chí Thanh. Nhiều đồ ăn thức uống được đem ra, mặc dù chúng tôi không đề nghị, nhưng 2 nữ tiếp viên cứ mặc sức khui bia, khăn lạnh…, thấy hoảng, anh bạn đi cùng vội ngăn lại và tìm đường… vọt, nhưng vẫn bị chủ quán tính tiền với giá 520 nghìn đồng! Hai em tiếp viên còn ra cửa tiễn “lần sau đến Đà Lạt, hai anh nhớ ghé bọn em nhé!”. Được biết mỗi lần đưa khách vào quán, “cò” có thể kiếm từ 30-40% tiền khách đã trả. Rất nhiều trường hợp khi rời quán, khách mới tá hoả với hoá đơn tính tiền trên trời…
(Thanh Niên) | |
|
|
14/07/2004 |
|
Qua tin báo của quần chúng, Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Quảng Trị đã kịp thời ngăn chặn được một nhóm người chuyên khai thác và buôn bán san hô đen trên vùng biển quanh đảo Cồn Cỏ.
San hô đen có tên khoa học Antennaridae, thuộc vào danh mục sinh vật quý hiếm của biển, cấm khai thác sử dụng. Mới nhìn vào san hô đen như cây dương liễu,nhưng lá nhỏ hơn rất nhiều. Thân hình của san hô đen rất dai và có mùi hôi tanh. Vị trí san hô đen sinh sống chủ yếu nằm ở vùng biển phía bắc và đông bắùc đảo Cồn Cỏ, dưới độ sâu từ 60 mét trở lên. Qua khai báo của ông T.H.N-một chủ mua san hô đen ở xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Linh, người dân biển gọi san hô đen là cây rong biển, ông không biết là hàng cấm nên đã mua số hàng này ở trên các tàu thuyền hành nghề lặn biển của ngư dân Quảng Ngãi đang hoạt động trên ngư trường ven đảo Cồn Cỏ với số lượng lên đến 100 kg. Sau khi mua về, ông T.H.N bán lại số san hô đen này cho bà TTKP ở thành phố Quy Nhơn, hành nghề thua mua hải sản ở biển Cửa Tùng( Quảng Trị )với giá từ 200 đến 300 ngàn đồng, bà TTKP đưa số hàng này sang Trung Quốc bán lại với giá đến 500 ngàn đồng/kg.
Ngày 8.7, ông Hoàng Đình Liên- Chi cục trưởng Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Quảng Trị cho biết đã tiến hành xử phạt các đối tượng liên quan và buộc các tàu thuyền ngoại tỉnh đang hoạt động bằng nghề lặn biển rời khỏi ngư trường của tỉnh này.
(NLĐ) |
|
|
14/07/2004 |
|
Chúng tôi tìm đến nhà ông Trần Văn Chỉnh, Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ huyện An Lão - chủ của hơn 1 ha quế đã qua tuổi trưởng thành. Vừa nghe chúng tôi hỏi chuyện ông đã chua xót nói: “Bây giờ còn ai hỏi quế nữa, trên vùng đất này người ta đã quên bẵng cây quế từ lâu rồi, mặc dù vẫn còn 500 ha quế đang tồn tại và phát triển…”.
Rồi như gặp được bạn tri kỷ, ông kể: Cách đây 10 năm ông là một trong những nông dân đi tiên phong hưởng ứng phong trào chuyển đổi cơ cấu giống cây con và các chương trình hỗ trợ khuyến nông, khuyến lâm của tỉnh. Lúc đó, sẵn sức trẻ cộng với sự nhiệt tình trong công việc, lòng hăng say, ông đã trồng 3.000 gốc quế trên diện tích 1 ha.
Ngày cũng như đêm, không quản nắng mưa vất vả ông vẫn chăm sóc chúng đều đặn, cây quế đã không phụ lòng ông, lớn lên theo từng ngày, vươn thân hình tráng kiện, căng tràn nhựa sống uống từng giọt sương đêm, ánh nắng mặt trời và những giọt mồ hôi của ông.
|
|
Ông Trần Văn Chỉnh vẫn ngày ngày chăm sóc vườn quế.
|
Mơ ước sau 10 năm nữa sẽ có một cuộc đổi đời trên vùng đất An Lão bạc màu chỉ toàn khe suối với cây rừng đã hình thành trong suy nghĩ của ông và những người dân trong huyện.
Qua 10 năm ròng rã vun trồng, bây giờ ông đã có 1 ha quế đang chờ được bàn tay con người thu hoạch, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một cá nhân, đơn vị nào tới hỏi mua nên vườn quế của ông vẫn chỉ để làm cảnh.
Biết vậy, nhưng ngày nào ông cũng dành thời gian để chăm sóc những cây quế đang còn ham sống và tiếp tục hy vọng - không 5 năm thì 10 năm, cây quế An Lão chắc chắn sẽ có người tới hỏi mua. Giả như giá quế cóù rẻ đi nữa bà con nghèo quê ông nếu chưa đổi đời được thì cũng gọi là cải thiện cuộc sống!
Tuy nhiên, thời gian “bình lặng” trôi, đến hôm nay, ông phải cùng bà con “hạ gục” những cây quế hơn 10 năm tuổi ấy để bán cho những người có nhu cầu làm… củi đốt, làm hàng rào hoặc làm giàn giáo xây dựng (!). Chúng tôi hỏi ông, hơn 10 năm bỏ công sức, tiền của ra trộn với mồ hôi, nước mắt chăm bón nay chặt làm củi, làm hàng rào mà ông không tiếc thương sao?
Giọng ông chùng xuống: “Xót xa lắm chú ơi, mỗi lần đốn ngã một cây đau đớn như chạm vào cơ thể mình, nhưng suy cho cùng tác dụng của chúng là phục vụ kinh tế, không bán để làm chi, bán còn được 10 ngàn đồng/cây…”. Vậy là 10 năm, mỗi năm ông cùng bà con bỏ công sức ra chăm bón chỉ thu lại vỏn vẹn 1 ngàn đồng/năm/cây.
(SGGP) |
|
|
14/07/2004 |
|
Cho đến tận bây giờ, những người dân thị trấn Khâm Đức, huyện Phước Sơn (Quảng Nam) vẫn chưa thể nào quên được, hình ảnh 19 chiếc quan tài đỏ ối, xếp lớp ở khu sân bay bỏ hoang trong màu mưa bạc xám một ngày cuối năm 2003. 19 công nhân của Công ty TNHH Trường Sơn, đã bỏ mạng vì sập hầm ở bãi vàng Phước Thành.
Trước họ, rải rác trong bãi vàng, đã tồn tại những nấm mồ vô chủ. Có thể nói, vàng Quảng Nam đã vắt cạn mồ hôi, nước mắt và cướp đi sinh mạng của không ít người. Quảng Nam có nhiều bãi vàng và mỗi bãi vàng, cùng với thời gian, tồn tại những khốc liệt riêng.
-
Bồng Miêu - mỏ vàng vô chủ
|
|
Khốc liệt ... vàng |
Từ thị xã Tam Kỳ, theo con đường dọc hồ Phú Ninh khoảng 2 cây số, sẽ gặp ngã ba Quân Thù, còn có tên gọi khác là ngã ba Tiên Phong. Từ đây đến mỏ vàng Bồng Miêu, mất thêm một tiếng đồng hồ đi xe máy. Bồng Miêu là mỏ vàng nổi tiếng từ thời Pháp thuộc. Không người dân Quảng Nam nào lại không nhớ câu ca dao “Từ ngày Tây lại đất Hàn, đào sông Câu Nhí bòn vàng Bồng Miêu”. Bãi vàng này có vài chục kilômét đường hầm do người Pháp để lại và những người khai thác vàng trái phép đã biến hàng chục cây số đường hầm này thành nơi “bất khả xâm phạm”.
Một cán bộ Sở TN&MT Quảng Nam cho biết, năm 2003, lúc cao điểm ở những đường hầm mỏ vàng Bồng Miêu có đến vài trăm người nhưng cả ngành chức năng lẫn chính quyền đều bất lực vì không thể thâm nhập vào các đoạn hầm lắt léo. Bãi vàng Bồng Miêu đã được Bộ Công nghiệp nặng cho phép liên doanh Bô Gô Min khai thác từ năm 1992 nhưng đến nay, liên doanh này vẫn chưa đi vào hoạt động. Đây là một liên doanh giữa đối tác Việt Nam với công ty nước ngoài có tên là Covictory (CIL) và Garim Perios của Australia, vốn đầu tư 13.200.000 USD (phía Việt Nam đóng góp tỉ lệ 20% bằng đất đai và tài sản). Giấy phép đã cấp nhưng hàng chục năm, mỏ vàng BồngMiêu vẫn vô chủ.
Trước tình trạng này, tỉnh Quảng Nam đã gia hạn khai thác cuối cùng cho liên doanh Bô Gô Min là cuối năm 2004. Đến mỏ vàng Bồng Miêu những ngày đầu tháng 7, chúng tôi gặp ở đây một đội bảo vệ 19 người. Họ được Công ty Khai thác vàng Bồng Miêu (doanh nghiệp Việt Nam liên doanh với Australia) giao trách nhiệm bảo vệ mỏ vàng nhưng theo như lời của một bảo vệ lớn tuổi thì họ không thể làm được gì hơn ngoài việc nấu cơm ăn ngày 3 bữa và “chung sống hòa bình” với đám “vàng tặc” lúc ẩn lúc hiện trong các nhánh đường hầm.
Ông Doãn Văn Thanh, Trưởng phòng quản lý tài nguyên nước và khoáng sản, Sở TN-MT Quảng Nam nói rằng trong khi chờ đợi liên doanh Bô Gô Min đi vào khai thác, mỗi năm vài lần chính quyền tỉnh, địa phương và các ngành chức năng đều có đợt truy quét qui mô nhưng không thể nào đẩy đuổi được “vàng tặc” ra khỏi mỏ vàng. Mỗi khi thấy động, cùng một lúc mấy trăm con người đã nhanh chóng mất hút trong đường hầm. Hai cán bộ bảo vệ của Bô Gô Min được xem là can đảm nhất, dẫn chúng tôi thử chui vào một đoạn hầm nhưng cũng chỉ được vài trăm mét lại phải quay ra. Ngách hầm tối đen, nuốt chửng các ánh đèn pin, ngột ngạt do thiếu không khí và sực mùi đặc trưng của hóa chất phân loại vàng.
Bất lực trước “vàng tặc”, ngành chức năng Quảng Nam cũng gần như bất lực trước tình trạng sử dụng trái phép chất xianua ở mỏ vàng Bồng Miêu. Năm 2002 và 2003, có vài vụ đem đá ra khỏi hầm để nghiền và phân kim bằng xianua bị phát hiện nhưng khi bị lực lượng truy quét đẩy đuổi, những kẻ liều mạng đã lại nhanh chóng rút vào hầm rồi lấy đá chặn đường. Kết quả của những lần truy quét, chỉ là vài cỗ máy lọc vàng bị ngành chức năng tiêu hủy bằng cách đập nát. Mỏ vàng Bồng Miêu vẫn “vô chủ” trong khi ngày cũng như đêm vẫn tồn tại hàng trăm con người chui nhủi dưới lòng đất…
-
Buồn vui thị trấn có vàng
|
|
Cán bộ Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam cùng Công an Quảng Nam kiểm tra tình trạng khai thác vàng trái phép ở khe Đang. |
Khâm Đức là thị trấn huyện lỵ của huyện miền núi Phước Sơn. Thị trấn nhỏ bé nằm ở nơi giao nhau giữa quốc lộ 14B, 14E và đường Hồ Chí Minh. Khi đường Hồ Chí Minh chưa hoàn thành, Khâm Đức đã nổi tiếng với cái tên “thị trấn có vàng”. Giữa những năm 1990, Khâm Đức từng sục sôi bởi cơn lốc vàng. Hàng vạn nhân mạng với giấc mộng vàng đã đến Khâm Đức, chọn nơi này để nghỉ chân trước khi như con thiêu thân, lao vào bãi vàng Phước Thành. Khâm Đức là nơi án ngữ duy nhất con đường độc đạo vào bãi vàng Phước Thành và vì thế, nó cũng là nơi lắm kẻ bạt mạng, trở ra từ bãi vàng, vét cạn những vụn vàng cám, lao vào các cuộc trác táng, đỏ đen. Đây là thời kỳ vừa đen tối vừa huy hoàng của Khâm Đức.
Tiểu thương Khâm Đức phất lên nhờ vàng. Những ngôi nhà 2- 3 tầng lầu của phố núi đã chen nhau mọc lên từ giá cả dịch vụ mà chỉ có dân đãi vàng mới mua nổi. Một con gà đem từ miền xuôi lên bán tại thị trấn khoảng 150.000 đồng, khi được cõng vào đến bãi vàng, có thể lên đến 300.000 hoặc 400.000 đồng. Các thứ gạo, mắm cũng tương tự như vậy. Tất nhiên, cùng với giá cả trên trời, Khâm Đức đồng thời xuất hiện những tệ nạn xã hội có từ khắp nơi trên trái đất. Từ huy hoàng đến le lói chỉ cách nhau tấc gang. Khâm Đức rạng rỡ, tươi vui nhờ vàng và khi mà những sinh linh tứ xứ bị thẳng tay trục xuất về quê hương bản quán, nhường lại lãnh địa cho các doanh nghiệp có giấy phép, là lúc Khâm Đức trở về đúng với dáng dấp của một phố núi- đẹp, lãng mạn nhưng hơi… buồn.
Buồn hơn, là căn cứ để các doanh nghiệp xin phép đầu tư khai thác vàng ở Phước Thành lại bắt đầu từ việc khai thác vàng trái phép. Thực trạng khai thác vàng trái phép đã mở đường cho 3 doanh nghiệp khai thác vàng tận thu ở Phước Thành mà trong đó, lớn nhất là Công ty TNHH Trường Sơn. Đây là công ty, mà theo ghi nhận của chúng tôi, được tổ chức chặt chẽ, bài bản theo mô hình quản lý mà công nhân không có đường nào khác ngoài việc dốc sức làm việc. Giám đốc công ty là người Ninh Bình và hàng trăm công nhân của công ty tuổi đời từ 18 đến dưới 30 đều được tuyển dụng từ Ninh Bình. Sau khi vượt hàng ngàn cây số từ quê hương đến đây, các công nhân được phát quần áo, dụng cụ lao động, còn lương hàng tháng, họ được thông báo lĩnh một lần vào cuối năm.
Nhu phẩm thiết yếu, từ đôi dép, cục xà phòng của công nhân đều do công ty trực tiếp lo liệu. Dù được tổ chức bài bản nhưng trên thực tế, Công ty TNHH Trường Sơn vẫn chịu nhiều tai tiếng. Tai tiếng nhất, là việc để 19 công nhân cùng một lúc thiệt mạng tại bãi vàng cuối năm 2003. Sau sự cố đau lòng này, chúng tôi đã nhiều lần trở lại Khâm Đức. Vấn đề an toàn lao động đã được chính quyền Phước Sơn lẫn các doanh nghiệp khai thác tận thu vàng chú ý hơn nhưng vẫn không thể lường trước những hậu quả khôn lường.
Mùa mưa bão đang đến gần, nguy cơ về cái chết được báo trước lại tăng lên với cùng một lúc vài ngàn người ở bãi vàng Phước Thành trong vẻ bình yên của thị trấn Khâm Đức.
(SGGP)
|
|
|
14/07/2004 |
|
Miền Trung- khốc liệt nắng gió và cũng khốc liệt vàng. Nắng gió nhìn thấy được, còn vàng thì hun hút trong các lớp đất, đá của Trường Sơn đại ngàn. Những tha nhân đến từ khắp nơi đã tìm ra các bãi vàng miền Trung. Đào xới, lăn lộn giữa vàng nhưng kết cục cuối cùng của ngàn vạn phận người chỉ là màu vàng xám trên da dẻ vì sốt rừng và khi ngửa bàn tay, họ chỉ gặp màu trắng non bợt bạt… Khi các tha nhân trắng tay, vợi bớt giấc mơ vàng, là lúc các đại gia với giấy phép khai thác qui mô, “đàng hoàng” vào cuộc. Khúc ca vàng đã thay đổi tiết tấu- sạch hơn, sáng sủa hơn nhưng lại vô cùng khốc liệt.
-
Đồi Cụp đá nóng vì gió Lào và vàng
|
|
Một cửa hầm tại khe Poóc (Quảng Trị) do Công ty Bắc Hà mở để khai thác vàng trái phép |
Nắng tháng 6 cùng với gió Lào, làm cho cả vùng đồi Cụp đá - xã Kỳ Tân, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh - khô quắt lại. Sát bên con đường tỉnh lộ vừa tráng xong lớp nhựa cấp phối dẫn về dãy núi xanh hun hút phía mặt trời lặn, là một mái quán xác xơ. Người đàn bà réo gọi chúng tôi giữa trưa nắng rát, “vô mần ly nác (nước) đã mấy chú ơi”, trạc 50 tuổi, tên là Lan. Vừa gặp chúng tôi, chị Lan đã thật như đất, kể về gia cảnh của mình hy vọng sẽ được nhận vào nấu cơm cho công nhân khai thác vàng đồi Cụp đá.
Không nỡ làm tan giấc mơ của người đàn bà lam lũ mà khuôn mặt cũng khắc khoải, héo khô như vùng đất có vàng này, chúng tôi hướng cái nhìn ra trái đồi Cụp đá. Ở đấy, gió Lào đang phầm phập thốc vào vô vàn hố hục cạn, sâu, lở lói... Bày ra bàn mấy trái mận đã héo chín vì nóng, thong thả như kể chuyện cổ tích, chị Lan nhắc đến một người đàn ông tên là Trung, gốc gác Kỳ Tân, tưởng phiêu bạt bỏ xác ở các bãi vàng phương Nam, bỗng một ngày trở về, “vứt không” 2 triệu bạc, mua một lúc mấy chục hécta đồi Cụp đá để đào đất, thuê xe công nông chở đi… đổ.
Sự lạ làm cả xã Kỳ Tân tò mò và cuối cùng thì ai nấy không tin vào mắt mình vì đất đồi Cụp đá, chỗ nào cũng có vàng. Nông dân Kỳ Tân, lập tức bỏ việc đồng áng, ngày cũng như đêm, trằn lưng đào đất, bán cho dân tứ xứ đang rùng rùng kéo về, đông vô kể. Một xe bò đất giá 300 ngàn đồng, là lý do để cả quả đồi lừng lững, xanh rượi cỏ tranh, chỉ còn như cái đống mối to đùng, lở loét trong chưa đầy 15 ngày.
Đây là lúc chính quyền Hà Tĩnh ra tay- dẫu muộn nhưng còn kịp. Sự quyết liệt, không khoan nhượng của chính quyền đã trả lại cảnh yên bình cho dải bình nguyên vùng Cụp đá. Tất cả, lại vắng vẻ như xưa. Trơ lại giữa cỏ tranh bạt ngàn lúc chúng tôi đến, hai thứ đầy ấn tượng, đó là đồi Cụp đá như một ụ mối khổng lồ, đỏ loét dưới trời xanh mây trắng và mái quán tơi tả gió Lào của người đàn bà cả cuộc đời túng khó triền miên bên cạnh trái đồi vàng.
-
Đakrông - ai là “vàng tặc”?
|
|
Đồi Cụp đá xã Kỳ Tân huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh chỉ còn như tổ mối khổng lồ. |
Câu hỏi này cứ ám ảnh chúng tôi suốt chặng đường từ huyện lỵ Đakrông đến bãi vàng Avao. Ám ảnh càng nặng nề hơn khi chúng tôi đặt chân đến dòng sông Tà Rụt và được thông báo là sẽ phải lội suối, trèo dốc vài tiếng đồng hồ nữa mới đến được trung tâm xã Avao. Từ trụ sở ủy ban xã, đến bãi vàng, cũng phải mất thêm từng ấy tiếng đồng hồ nữa. Suốt chặng hành trình đi bộ, chỗ nào chúng tôi cũng gặp những cánh rừng bị đào xới. Đất đá, lồ lộ phơi ra như những vết hoại thư khó lòng cứu chữa trên cơ thể con người. Rừng, rừng ư? Rừng Avao dường như không còn nữa khi cơn lốc vàng đột ngột tràn đến đây từ giữa những năm 1990.
Hàng vạn con người tứ xứ đem theo giấc mơ vàng, đã biến Avao thành bình địa. Những người này, trong ngôn từ của nhà chức trách, là “vàng tặc”. Đến cuối năm 2001, vàng tặc đã bị các lực lượng truy quét, đẩy đuổi khỏi Avao. Văn bản, báo cáo của ngành chức năng Quảng Trị cũng đã thể hiện những con số thống kê bao nhiêu người khai thác vàng trái phép buộc phải rời khỏi bãi vàng. Avao yên ắng một thời gian để rồi chỉ 2 năm sau, năm 2003, ba điểm vàng lớn nhất của Avao là Khe Đang, Khe Ho, Khe Poóc, lại phải hứng chịu những cuộc đào bới dữ dội hơn. Để giải quyết triệt để nạn khai thác vàng trái phép này, năm 2003, UBND tỉnh Quảng Trị đã cấp giấy phép khai thác vàng cho 3 công ty: Công ty Công nghệ địa vật lý (Bộ Tài nguyên-Môi trường), Công ty TNHH Nhật Quang, Công ty TNHH Thanh Sơn. Thời hạn khai thác của các công ty này là 1 năm.
Ngoài các điểm vàng trên, huyện Đakrông còn có một số bãi vàng khác đang chờ xin ý kiến của Chính phủ và Bộ Tài nguyên-Môi trường, cho phép khai thác tận thu (ở những điểm “vàng tặc” đã bị đẩy đuổi). Đây chính là nguyên nhân lớn nhất, biến Đakrông thành bãi chiến trường mới, trong sự giằng co, tranh chấp, vượt rào, mở điểm khai thác trái phép của các doanh nghiệp… đến nỗi nhiều người tự hỏi: Bây giờ ai là vàng tặc? Câu hỏi này, có nguyên nhân sâu xa là những động thái vượt rào, khai thác vàng trái phép của các doanh nghiệp và mâu thuẫn trong ý kiến chỉ đạo của các ngành chức năng Quảng Trị.
Ngày 10-12-2003, UBND tỉnh Quảng Trị đã có thông báo số 115/TB-UB, cho phép Công ty Công nghệ địa vật lý được “tạm thời bảo vệ” các điểm có vàng ở Đakrông. Căn cứ thông báo này, công an huyện Đakrông đã ký với chi nhánh của công ty trên biên bản bàn giao các điểm vàng ở xã Avao để tiện việc “bảo vệ”. Lợi dụng trách nhiệm được giao công ty đã khai thác, chế biến vàng với qui mô lớn ở 3 mỏ khe Đang, khe Ho, khe Poóc, với sự tham gia của trên 200 người cùng 50 thiết bị máy móc. Trước những hoạt động trái phép này của Công ty Công nghệ địa vật lý, tháng 3-2004, UBND tỉnh Quảng Trị đã yêu cầu UBND huyện Đakrông, chấm dứt ngay hợp đồng bảo vệ với công ty này và yêu cầu rút toàn bộ lực lượng khai thác ra khỏi mỏ vàng trước ngày 9-3-2004.
|
|
Linh cữu 19 công nhân Công ty Trường sơn bị thiệt mạng do sập hầm khai thác vàng được đưa về quê |
Tuy nhiên, khi công ty này buộc phải rút đi, thì tại khe Ho, khe Poóc, đã có thêm 8 cửa hầm mới được mở và chắc chắn, là đã có một khối lượng vàng lớn bị “tận thu” ngoài tầm kiểm soát của ngành chức năng. Sau khi Công ty Công nghệ địa vật lý bị “trục xuất” khỏi Đakrông, một công ty khác được các ngành liên quan đến vàng ở Quảng Trị chấm điểm cao nhất, giao trách nhiệm “quản lý các điểm có vàng” ở Avao nhưng không được khai thác vàng- đó là Công ty cổ phần Bắc Hà. Tuy nhiên, tháng 4-2004, Công an huyện Đakrông, sau khi kiểm tra đã phát hiện công ty này tự ý đưa thêm hàng trăm người vào cư trú trái phép tại khe Đang. Nhiều máy móc thiết bị cũng được họ đưa vào khe Poóc để mở thêm 3 cửa hầm mới và tổ chức khai thác cả ngày lẫn đêm.
Đánh giá của Công an huyện Đakrông còn cho thấy ban giám đốc Công ty Bắc Hà có những thành phần “phức tạp về nhân thân”. Trong khi Sở Tài nguyên-Môi trường ở Quảng Trị và Công an huyện Đakrông đang có ý kiến khác nhau về Bắc Hà, thì vào tháng 5-2004, Chủ tịch UBND xã Avao Hồ Văn Nghĩa cũng đã có các ý kiến trái ngược nhau về hoạt động của công ty này. Lúc thì ông Nghĩa cho rằng Bắc Hà không có hoạt động khai thác tại các mỏ đang quản lý; khi thì lại cho rằng việc khai thác lén lút của Bắc Hà đã làm ô nhiễm nguồn nước và gây khó khăn cho việc đi lại của nhân dân…
Đakrông, ai là vàng tặc? Không trả lời thẳng vào câu hỏi của chúng tôi, ông Võ Văn Tái- Phó Giám đốc Sở Tài nguyên-Môi trường Quảng Trị cho biết, Quảng Trị được đánh giá là địa phương có nhiều vàng gốc nhất trong các lớp đất đá ở rừng núi phía Tây. Con đường dẫn đến các mỏ vàng rất xa và vô cùng hiểm trở. Cán bộ có trách nhiệm ở tỉnh Quảng Trị, rất ít người trực tiếp đến được các bãi vàng. Điều này đã góp phần gây khó khăn cho cơ quan tham mưu, dẫn đến có những ý kiến xa rời thực tế trong các văn bản chỉ đạo của tỉnh Quảng Trị. Đất vàng Đakrông, khi chưa có quyết sách quản lý hữu hiệu vẫn đang bị bằm xé tả tơi trước những thế lực vàng tặc mới.
(SGGP) |
|
|
13/07/2004 |
|
Tôi là một nông dân ở tại huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam. Ở quê tôi rất ít khi được đọc báo, nếu có đọc thì cũng đọc sau vài ba ngày. Vả lại chữ nghĩa của chúng tôi quá ít, muốn trình bày vài ý kiến cũng phải so đo suy nghĩ, viết đi viết lại mới suôn sẻ được, vì vậy sau khi đọc một số ý kiến của ông Đặng Minh Phương và một số cán bộ giảng dạy đại học trên các báo Tuổi Trẻ về vấn đề tăng học phí ở Đại học, chúng tôi xin nêu trên mặt báo Lao Động vài ý kiến của người nông dân, những người mà nếu có con được học ở Đại học là một niềm vinh dự to lớn và cũng là mỗi lo sợ khôn cùng.
Tôi thuộc loại nông dân giỏi của xã, mỗi năm làm cật lực mới có thể thu hoạch đến 1.100 ang lúa (ang lúa của Quảng Nam là 6 kg), giá lúa năm nay cao nên có thể thu được 11 triệu đồng. Trong đó chi phí 5 triệu (thủy lợi phí, phân bón, thuốc trừ sâu, máy cày...). Còn lại 6 triệu. Mỗi năm gia đình chúng tôi thu được hơn 2 triệu tiền chăn nuôi. Một triệu tiền hoa màu, rau đậu. Tổng cộng mỗi năm chúng tôi có 9 triệu đồng. Bình quân thu nhập gia đình mỗi tháng 800.000 đồng. Tôi có 2 con, một cháu đang học Đại học, một cháu đang học cấp 3.
Tiền học phí và các khoản lệ phí khác mỗi tháng cháu học cấp 3 hết 100.000 đồng (nào là học phí, tiền xây dựng, tiền phụ huynh, tiền phụ đạo, tiền ủng hộ Hội đồng thi...). Mỗi tháng tôi gởi cho cháu học Đại học 500.000 đồng. Vợ chồng tôi còn lại 200.000 đồng để sống cho 3 người. Với 500.000 đồng giữa đất Sài Gòn, con tôi phải đóng học phí và các khoản khác 200.000 đồng, còn 300.000 đồng để sống (thuê nhà, ăn uống, mua tài liệu, xã giao, đi xe buýt, xà phòng, sửa xe, điện nước...). Với mức chi phí như vậy con tôi làm sao có thể học giỏi được để lãnh học bổng? Chúng tôi đã sống không ra sống để cho con được ngồi ở giảng đường Đại học; con chúng tôi cũng phải sống không ra sống để được học Đại học. Chúng tôi nghe quý vị lý luận về nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao đời sống giáo viên. Quý vị còn so sánh với các nước khác để thuyết phục cho việc nâng học phí. Chúng tôi không hiểu quý vị co phải là trí thức thực không? Nếu là trí thức thì quý vị hãy suy nghĩ trên cuộc sống của nông dân nước ta (chiếm 70% dân cư) để đề ra những biện pháp. Chúng tôi nghĩ không lẽ ơ nước ta lại phân hóa đến mức những trí thức ở thành thị và những nông dân ở nông thôn lại không thể hiểu nhau được. Đôi lời rất chân thực, nếu có gì xúc phạm xin quý vị tha thứ cho.
(Báo Lao Động) |
|
|
12/07/2004 |
|
Đã bước sang giai đoạn cuối vụ, hầu hết các HTX sản xuất muối tại Ninh Hòa và Cam Ranh đều thất thu với sản lượng muối chỉ đạt 30% - 40% chỉ tiêu.
Diêm dân cho biết muối mất mùa do thời tiết bất ổn kéo dài trong suốt 2 tháng qua.Năng suất muối giảm hơn 50%. Cho nên đến đầu tháng 7, Công ty Cổ phần Muối Khánh Hòa chỉ sản xuất được 15.000 tấn muối hạt, đạt 30% kế hoạch cả vụ.
(NLĐ) |
|
|
12/07/2004 |
|
Cách đây 20 năm, đến xã Lộc Điền - huyện Phú Lộc - tỉnh Thừa Thiên - Huế, hỏi Cảm “lâm tặc”, một tay phá rừng cự phách ai cũng biết. Còn bây giờ, về Vườn quốc gia Bạch Mã tìm “người gọi được chim trời”, người ta sẽ chỉ ngay nhà anh kiểm lâm Trương Cảm.
TỪ LÂM TẶC THÀNH... KIỂM LÂM
Thời thơ ấu của cậu Cảm “chim” (cái tên bạn bè thường gọi) gắn với núi rừng, theo cha lên rừng đón củi, săn bắn. Vì hoàn cảnh gia đình, lên lớp 12 nghỉ học. Từ đó, ngày nào Cảm cũng vào rừng đặt bẫy, săn bắn chim muông. Hang cùng ngõ ngách trong rừng sâu, nơi nào cũng có dấu chân anh Cảm đi qua cài đặt bẫy chim, thú rừng. Cảm trở thành một lâm tặc đáng gườm tại khu rừng Bạch Mã.
Năm 1988, được biết Trương Cảm là người thông thạo địa hình ở khu vườn cấm Bạch Mã và còn có tài huýt sáo, gọi chim, ông Huỳnh Văn Kéo, nguyên trưởng ban vườn cấm Bạch Mã (nay là giám đốc Vườn quốc gia Bạch Mã) tìm đến tận nhà mời Trương Cảm làm kiểm lâm bảo vệ khu rừng này. Theo ông Kéo, đây là cách “lấy độc trị độc”, nhằm tạo điều kiện cho Cảm “cải tà quy chính”, trở lại làm người bảo vệ rừng, đồng thời giúp anh phát huy tài gọi chim của mình.
Từ khi trở thành kiểm lâm, anh Cảm đã thuần hoá nhiều lâm tặc trở lại bảo vệ rừng. Anh bảo: “Tôi đã từng là một lâm tặc nên thấu hiểu hoàn cảnh của những người phá rừng. Họ đều nghèo khó, nếu chịu khó thuyết phục họ sẽ nghe”. Nhờ vậy, rừng Bạch mã được bình yên. Những người thân của anh đều cam kết bảo vệ rừng. Ngày ngày sống với núi rừng, anh chăm chú lắng nghe những tiếng kêu của các loài chim, rồi bắt chước huýt theo. Dần dần tiếng húyt của anh trở nên quên thuộc với các loài chim nơi khu rừng hoang vắng này. Sau mỗi tiếng huýt của anh, tiếng chim đồng loạt cất lên đáp lại.
“LUẬN VĂN TRĨ SAO” ĐẠT ĐIỂM 10/10
Để hiểu thêm về đặc điểm sinh thái của rừng và các loài chim, anh Cảm xin đi học khoá lâm nghiệp tại chức của trường Đại học Nông lâm Huế. Đề tài làm luận văn tốt nghiệp của anh là: “Sự phân bố và phát triển loài Trĩ Sao ở Vườn quốc Gia Bạch Mã”. Theo anh Cảm, sở dĩ anh chọn đề tài này, bởi loài Trĩ Sao đang có nguy cơ tuyệt chủng, hơn nữa bao nhiêu năm sống ở rừng anh hiểu khá rõ về đặc điểm của loài này. Theo nhận xét của tiến sĩ Trần Mạnh Đạt, thầy giáo hướng dẫn luận văn của anh: “Cảm là người hiểu biết về động vật và chim muông, rất thực tế chứ không như những học viên khác”. Nhờ vậy, luận văn tốt nghiệp được hội đồng cho điểm tối đa 10/10.
Tháng 6-1996, anh theo học khoá tập huấn 18 ngày ở Vườn quốc gia miền Bắc nước Pháp, về cách thức thu hút động vật hoang dã đến với con người. Một buổi chiều, anh Cảm cùng một số đồng nghiệp tham quan vườn quốc gia, anh huýt gió gọi chim, một con quạ bay lại đậu trên vai anh, trước sự chứng kiến ngỡ ngàng của các bạn đồng nghiệp. Lúc ấy, ông Didier, Giám đốc vườn quốc gia này thốt lên: “ Tuyệt quá, lần đầu tôi chứng kiến cảnh này”. Theo anh Cảm, có thể đó là sự trùng hợp tình cờ. Vì tiếng huýt của anh thể hiện sự cô đơn lẻ loi muốn tìm bạn nơi đất khách. Khi ấy, có lẽ con quạ cũng đang buồn và bắt gặp tiếng huýt của anh nên nó bay về làm bạn?!
BẠN CỦA CHIM MUÔNG
Khi trở về nước, anh Cảm luôn suy nghĩ: “Chim ở trời tây ta gọi được, chẳng lẽ chim ở trời ta gọi không được”. Từ đó, ngày nào anh cũng tập luyện và tìm hiểu thêm đặc điểm tiếng kêu của từng loài chim ở Vườn quốc gia Bạch Mã. Theo anh, buổi sáng chim khướu thường hót làm duyên, tiếng kêu nhẹ nhàng: “hò huýt, hò huýt, hò huýt...” để gọi bạn tình đến. Đối với loài Trĩ Sao, cư trú ở độ cao từ 400 dến 900m (so với mặt nước biển), nơi rừng đặc chủng. Mùa tháng 3 là mùa động dục và chúng tách đàn ra sống riêng lẽ. Mỗi con Trĩ Sao đều dọn bãi để gọi bạn tình. Theo nhận xét của anh Cảm, Trĩ Sao là loài chim đa thê, bởi lúc nhỏ anh đặt bẫy thường dính 3 trống 1 mái, 1 mái 2 trống là chuyện thường. Loài chim này rất nhạy cảm với tiếng động, chỉ cần cầm thanh gỗ gõ vào những cây có bọng, khi phát ra âm thanh con Trĩ Sao sẽ trả lời ngay.
Hoạ Mi Đất thường sống từng đàn. Con trưởng đàn bao giờ cũng ở trên ngọn cây cao nhất để quan sát, bảo vệ. Nó thường huýt một tràng dài. Loài chim này rất hăng, chỉ cần huýt khiêu chiến là chúng bay về. Mỗi tiếng hót của loài chim, thể hiện một tâm trạng khác nhau. Có khi là tiếng hót gọi bầy, tiếng kêu đau khổ, ghen tuông, gặp nạn... Theo anh Cảm, trong các loại chim, Chèo Bẻo là loài chim quân tử nhất, sống ân tình, chung thuỷ không chỉ với loài chim mà đối với con người cũng vậy. Khi đem nó về nuôi, đến khi trưởng thành nó không bao giờ bỏ chủ mà đi.
Bây giờ, trong số 320 loài chim nơi vườn khu rừng này, Trương Cảm đã gọi đuợc hầu hết các loài chim bay về, để làm thoả mãn nhu cầu du khách. Cách đây không lâu, trong một lần nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu cùng 8 cô ca sĩ về thăm quan Vườn quốc gia Bạch Mã. Trong buổi chiều sinh hoạt, anh Trương Cảm cũng góp vui bằng tiếng huýt gió gọi chim. Tiếng húyt gió vừa tắt, các loài chim đã đáp trả rộn ràng cả khu rừng.
Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu thốt lên: “Không ngờ có người hiểu được ngôn ngữ của các loài chim”. Không chỉ gọi được chim về mà khi nghe tiếng kêu của chim, anh cũng biết được trời nắng hay mưa. Khi tiếng chim CuRốc kêu rầm rộ, thời gian sắp tới trời nắng nóng. Nhưng nếu anh Cảm huýt mà CuRốc không trả lời, ngày mai trời sẽ có mưa to.
ĐIỀU TRĂN TRỞ...
Theo anh Trương Cảm, Vườn quốc gia Bạch Mã có tiềm năng rất lớn để thu hút du khách. Tuy nhiên, nhiều năm qua du khách đến với Bạch Mã ngày một ít dần. Nhiều du khách đến một lần rồi đi biệt tăm. Một trong những nguyên nhân là do đội ngũ hướng dẫn viên còn yếu, chưa am hiểu giá trị của khu rừng cũng như ý nghĩa của từng loại động thực vật. Trong khi đó, điều quan tâm của du khách dến tham quan Bạch Mã là tìm hiểu về tài nguyên thiên nhiên nơi đây như thế nào. “Bất cứ làm việc gì cũng phải tâm huyết với nghề. Đi du lịch sinh thái cả một đoàn người, cần phải đi vào thực tế chứ đằng này người ta cầm cái loa rồi chỉ tay giới thiệu, làm sao du khách hài lòng”, anh Cảm nói.
Ông Huỳnh Văn Kéo, Giám đốc Vườn Quốc gia Bạch Mã, cũng trăn trở về vấn đề này: “Giá như có được 4 người như anh Cảm để gọi chim, hướng dẫn du khách ở khu vườn này, có lẽ du khách sẽ tới ngày một nhiều hơn”. Bất kể đoàn du khách nào đến thăm Bạch Mã cũng tìm đến nhờ anh Cảm hướng dẫn và gọi chim về. Các đoàn du khách được anh hướng dẫn, bao giờ cũng gửi thư cảm ơn đến anh. “Đó là điều hạnh phúc nhất trong cuộc đời tôi”, anh Cảm tâm sự.
Chia tay anh trong một buổi chiều sương mờ dày đặc băng qua những ngọn đồi Bạch Mã, tiếng huýt gọi chim của anh vẫn vang vọng cả khu rừng, tiếng chim thánh thót như một dàn hợp xướng đáp lại. Đứa con trai 4 tuổi được anh dẫn theo cũng tập tành huýt theo tiếng của anh để gọi chim trời.
(NLĐ) |
|
|
10/07/2004 |
|
|
|
Cách trung tâm thành Phố Đà Nẵng 14km về phía Tây Nam, làng chiếu Cẩm Nê thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Nơi đây từ lâu đã nổi tiếng với các loại chiếu hoa truyền thống.
Chiếu hoa Cẩm Nê đã từng được hiện diện ở nội triều các vua nhà Nguyễn; những nghệ nhân Cẩm Nê xưa cũng đã từng được các triều đại vua sắc phong, ban thưởng.
Theo lời những vị cao niên của địa phương, nghề chiếu Cẩm Nê có nguồn gốc từ Hoằng Hóa, Thanh Hóa; truyền vào miền Nam khoảng từ thế kỉ 15, lúc vua Lê Thánh Tôn chiến thắng Chiêm Thành, sát nhập thành Đồ Bàn vào Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ đó đến nay, trải qua bao thăng trầm, thử thách bởi chiến tranh ly tán, có lúc bị cạnh tranh dữ dội do các loại chiếu nilông ngoại nhập, chiếu hoa Cẩm Nê vẫn âm thầm tồn tại, bền bĩ.
Bằng những nguyên liệu đơn giản như lát (cói), đay và với một khung dệt kết cấu tinh tế, mỹ thuật, nghệ nhân làng Cẩm Nê đã cung cấp cho khắp nơi trong nam, ngoài bắc những tấm chiếu hoa đủ cỡ với những hoa văn trang trí đẹp. ưu điểm của chiếu hoa Cẩm Nê là dày hơn, bền hơn, nằm êm lưng hơn so với chiếu của các địa phương khác. Đặc biệt mùa hè nóng bức, nằm trên chiếu Cẩm Nê sẽ cảm được cái mát lạnh, và vào mùa đông chiếu tỏa ra hơi ấm cùng với mùi hương đồng cỏ nội thơm dịu.
Ngoài làng chiếu hoa Cẩm Nê nằm bên con sông yên thơ mộng, quanh vùng còn có làng nghề nong rổ Yến Nê, làng nón La Bông nổi tiếng.
(Danang.gov.vn) | |
|
|
10/07/2004 |
|
|
|
Đà Nẵng đã bắt đầu bước vào giai đoạn cao điểm dễ xảy nguy cơ cháy rừng. Với diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 67.148,15 ha, chiếm 53% diện tích đất tự nhiên, trong đó có 51.977,52 ha rừng, thành phố có nhiều khu rừng dễ xảy ra cháy, có nhiều công trình trọng điểm quốc gia đi qua như đường bộ, đường sắt, đường hầm, đường điện 500KW, 110 KW, rừng đặc dụng Hải Vân, rừng cấm Quốc gia Sơn Trà, khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa và các khu vực giáp ranh với tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam.
Một đặc điểm nữa của rừng Đà Nẵng, nhất là các khu rừng giáp thành phố, khu Bảo tồn thiên nhiên, rừng cấm quốc gia v.v… là hàng ngày, nhất là trong mùa hè, có nhiều lượt người vào rừng để tham quan du lịch, picnic, đốt ong, tìm kiếm phế liệu chiến tranh v.v…Với tính chất đặc điểm nêu trên, trong mùa nắng nóng, nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào, bất kỳ thời điểm nào trên địa bàn có rừng của Đà Nẵng. Nếu mất cảnh giác, chủ quan không phát hiện kịp thời và tổ chức cứu chữa khẩn trương thì có thể xảy ra cháy lớn gây thiệt hại nghiêm trọng, gây hậu quả khôn lường.
Qua đợt kiểm tra liên ngành phối hợp giữa Công an phòng cháy chữa cháy thành phố và Chi cục Kiểm lâm vừa qua cho thấy, về cơ bản, công tác phòng chống chữa cháy rừng đã được các đơn vị cơ sở chủ động lên phương án và kế hoạch để đối phó. Các ban chỉ đạo, các tổ phòng chống chữa cháy rừng được củng cố, các phương án chữa cháy rừng có sự phối hợp giữa chủ rừng và các cơ quan đơn vị ven rừng, được UBND các cấp duyệt. Các đơn vị chủ rừng đã chủ động tham mưu cho UBND quận, huyện tổng kết công tác phòng chống chữa cháy rừng năm 2003 và triển khai công tác năm 2004 ngay từ quý I năm 2004.
Công tác truyên truyền vận động quần chúng tham gia phòng chống chữa cháy rừng đã được chú trọng, các khu rừng trọng điểm dễ cháy thường xuyên sử dụng loa truyền thanh phát các bản tin cảnh báo, nhắc nhở thực hiện tốt quy định phòng chống chữa cháy rừng cho người dân. Xây dựng mới và sơn sửa lại các bảng nội quy, quy ước phòng chống chữa cháy rừng, phân công lực lượng thường trực 24/24 giờ, ký hợp đồng lao động chuyên trách bảo vệ rừng làm nhiệm vụ bảo vệ rừng trên địa bàn có rừng dễ cháy. Tất cả 6 đơn vị cơ sở đều thành lập Ban chỉ đạo phòng chống chữa cháy rừng, 100% các xã, phường cơ sở có rừng đều thành lập Ban chỉ đạo và tổ đội phòng chống chữa cháy rừng. Tổ chức ký cam kết với hơn 300 tổ chức, cá nhân có rừng, ven rừng và đóng ở rừng về công tác quản lý và bảo vệ rừng và phòng chống chữa cháy rừng. Các đơn vị như Rừng cấm quốc gia Sơn Trà, Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa đã phát quang được 12,5 km đường băng trắng cản lửa. Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Hải Vân đã xây dựng 4 km đường vận động và 3 bể nước phục vụ chữa cháy, Lâm trường Sông Nam đã giao cụ thể từng tiểu khu cho các hộ, tổ đội có rừng trong công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng chống chữa cháy rừng. Các đơn vị, cơ sở đã được Chi cục Kiểm lâm thành phố cấp bổ sung dụng cụ phương tiện chữa cháy để phục vụ cho công tác phòng chống chữa cháy rừng tại chỗ như: rựa cán dài, bàn dập lửa, bình đông, can nhựa chứa nước…
Công tác tuần tra, bảo vệ rừng được tăng cường, tuy có 7 trường hợp phát cháy, nhưng đã phát hiện và huy động lực lượng tổ chức cứu chữa, dập tắt kịp thời, nên thiệt hại không đáng kể.
Ngoài những cố gắng đáng ghi nhận nêu trên, vẫn còn một số tồn tại, thiếu sót cần được chấn chỉnh. Như công tác quản lý bảo vệ rừng còn lơ là, thực hiện chưa nghiêm các quy định dùng lửa, sử dụng lửa trong rừng, nhất là các đơn vị có kinh doanh du lịch sinh thái ở ven và trong rừng. Việc khen thưởng những cá nhân, tập thể có thành tích suất sắc trong công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng chống chữa cháy rừng của các cấp, các ngành chưa đúng mức và còn chậm trễ. Dụng cụ chữa cháy rừng còn thô sơ, việc tập huấn nghiệp vụ phòng cháy chữa cháy cho lực lượng quản lý bảo vệ rừng chưa được quan tâm chú ý. Việc xử lý gây cháy chưa kiên quyết triệt để, đặc biệt là việc điều tra xử lý, đề nghị truy tố đối với các vụ gây cháy rừng còn quá ít.
Để khắc phục các tồn tại trên, trong thời gian tới, ngoài việc triển khai có hiệu quả các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, UBND thành phố Đà Nẵng về tăng cường các biện pháp cấp bách bảo vệ rừng và công tác phòng cháy chữa cháy trên địa bàn thành phố, cần chú ý tăng cường phát động phong trào quần chúng phòng cháy chữa cháy rừng, phối kết hợp chặt chẽ với các đơn vị đóng trên địa bàn có rừng, nhất các cơ sở kinh doanh du lịch sinh thái trong công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng chống chữa cháy rừng, có cam kết về việc không để xảy ra cháy rừng. Tăng cường kiểm tra, điều tra, xử lý kịp thời và nghiêm minh các vụ vi phạm về phong chống chữa cháy rừng để giáo dục, răn đe, ngăn chặn hành vi gây cháy rừng và kịp thời biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể có thành tích suất sắc trong công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng chống chữa cháy rừng. Trên đây là thực trạng và những việc cần quam tâm của thành phố để chủ động đối phó với nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào. Năm 2003, số vụ cháy rừng ở Đà Nẵng đã giảm đáng kể so với năm 2002. Hy vọng, nếu biết phát huy những mặt tích cực và khắc phục được những tồn tại, bất cập nêu trên, rừng Đà Nẵng sẽ được hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại có thể xảy ra trong năm 2004 và các năm tiếp theo.
(Danang.gov.vn) | |
|
| | << Đầu tiên < Trước 81 82 83 84 85 86 87 88 89 Kế > Cuối cùng >>
| | Kết quả 1231 - 1245 của 1335 | |
|
|
|
|
|
|
© Copyright
2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved.
Contact
us ® Ghi rõ nguồn
"MienTrung.com" khi bạn phát hành lại
thông tin từ website này. |
|
|