Trang chính
Xã hội
Văn hóa
Du lịch
Lịch sử
Kinh tế
Khoa học
Y tế - Giáo dục
Tin học
Môi trường
Dịch vụ
Ẩm thực
Thể thao
Tản văn
Tin mới nhất

Trang chính arrow Xã hội
Advertisement
 
Xã hội
Thư viện... làng PDF In E-mail
02/07/2004

“Có chi mô chú, tui thấy đám trẻ làng thiếu sách thì lập cái thư viện cho chúng đọc. Ăn mắm ăn muối một tí mà con cháu đọc được sách là tui sướng. Có ưng nghe kể chuyện mần thư viện không?”

Cái tên Quảng Xá rất nổi tiếng ở tỉnh Quảng Bình. Làng là một trong “bát danh hương” (8 làng nổi tiếng) của vùng đất khó nhất miền Trung này. Ở đó, từ con trẻ đến người lớn đều thích đọc, thích hát, thành ra làng lúc nào cũng vui.

“Chiếu thư” quyên góp sách

Tôi về với làng Quảng Xá, nhiều người dân nói: Cụ Nguyễn Mân, thầy Dương Viết Khen, cô Nguyễn Thị Ngọc Châu đều được cả làng khâm phục.

Cụ Nguyễn Mân nghỉ hưu đã lâu. Cụ là người đầu tiên có ý tưởng thành lập thư viện cho làng. Thầy Dương Viết Khen nói với tôi: “Cụ Mân rủ tui mần cho làng cái thư viện. Cô Châu cũng ủng hộ, rứa là cùng bắt tay vô mần. Làng Quảng Xá là làng văn hóa nhưng không có phòng đọc sách báo thì thiệt dở. Việc ni đâu khó, bỏ chút thời gian, công sức là mần được mà”.

Độc giả làng Quảng Xá đến thư viện đọc sách

Cụ Mân cùng hai nhà giáo cao niên một mặt vận động các cán bộ hưu trí tìm kiếm sách báo làm vốn cho tủ sách. Họ làm tự nguyện. Bỏ tiền túi thuê thợ mộc đóng kệ sách, bàn ghế. Mới đầu trung tâm văn hóa huyện tặng 80 quyển sách làm vốn. Số sách đó quá ít với cơn đói đọc sách của cư dân làng. Hai cụ ông cùng cụ bà lo số lượng quá ít. Thôn thì không có tiền. Vận động dân góp tiền mua thì không thể. Trằn trọc mãi cả ba cụ quyết định thảo ra một “chiếu thư” gửi đến con em làng Quảng Xá trên cả nước để quyên góp... sách báo.

Cho tiền không lấy, chỉ lấy sách

Nói là làm. Cụ Mân lên đường vào TPHCM xin... sách. Bất cứ ai cho tiền, cũng nhất quyết không lấy, chỉ lấy sách, hoặc nhờ mua sách rồi viết đôi dòng đề tặng làng. Cụ Mân hồ hởi: “Tui vô TPHCM vận động con em gởi sách về. Coi đó là món quà nhân văn nhất trong các món quà tình nghĩa gửi tặng quê hương Quảng Xá của người xa quê. Ngày tui về làng, theo tui là hàng tạ sách. Cả làng đón tui như đón quan!”.

Sau khi “chiếu thư” ban đi, con em của làng đang sống khắp nơi nhiệt tình gửi sách, báo về quê. Một lãnh đạo ngành đường sắt biết được nghĩa cử nhân văn ấy đã quyết định miễn cước sách báo gửi về Quảng Xá. Trong hơn một năm, hàng ngàn quyển sách báo, tạp chí... đã có mặt trên kệ của thư viện làng. Ông Hoàng Nhân, con rể của làng, gửi về năm đợt với hơn 300 cuốn sách, tạp chí. Chị Phước Thuận, con gái làng từ Hà Nội, gửi tặng 100 cuốn sách. Thiếu tướng Nguyễn Hải ở Quy Nhơn gửi 200 cuốn. Hội đồng hương Quảng Xá ở TPHCM gửi về hàng tạ sách mới và cũ... Lướt qua các kệ sách, có nhiều quyển có giá trị mà không phải bất cứ thư viện nào cũng có như Bách khoa tri thức, Đại Nam quốc âm tự vị... Sách được giữ gìn cẩn thận. Nhìn vào sổ theo dõi từ ngày thư viện làng mở cửa (1-1-2001) đến nay đã có hơn 8.000 lượt người mượn sách. Không chỉ người làng mà là cả năm làng còn lại của xã Tân Ninh cũng về đọc.

Khi tôi có mặt ở Quảng Xá, đáng tiếc là không gặp được người thủ thư 75 tuổi Nguyễn Thị Ngọc Châu (một trong ba người lập ra thư viện). Vì lý do sức khỏe, bà phải nghỉ việc. Thay bà là thủ thư Ngô Thị Thu Hiền, mới 20 tuổi nhưng tự nguyện ra gánh vác việc làng.

Những tủ sách trong dân

Thư viện làng Quảng Xá được quản lý rất bài bản. Sách có mã số, độc giả dùng thẻ. Hiện thư viện có hơn 200 thẻ mượn sách được độc giả mua với giá 2.000 đồng/ năm.

Cách làm thư viện cũng rất độc đáo. Do không có nhiều kệ sách, thư viện chỉ bó gọn trong căn phòng 25 m2, mượn lại của hợp tác xã nên sách được đưa về “chung sống” trong dân. Lượng sách ấy rất lớn và được phân chia cụ thể theo từng thể loại. Khi cần, độc giả chỉ mang giấy của thư viện đến các tủ sách trong dân để mượn. Muốn đọc sách khoa học kỹ thuật thì đến nhà ông Mân, sách văn học thì đến nhà bác Nguyệt, sách quân đội đến nhà bác Ấy...

Lý giải cho sự “chuyên môn hóa” này, thầy Khen nói: “Có vậy ai cũng được đọc sách. Ai không muốn nâng cao tầm hiểu biết cho dân trong làng, trong xã”.

Trồng 500 gốc nhãn gây quỹ

Ông Mân cho biết, điều bận tâm của ông là kinh phí cho thư viện. “Tui còn có lương hưu để sống, chứ con Hiền còn trẻ, tự nhận việc làng mà không có chút bồi dưỡng. Chừ tui đang trồng quanh làng 500 gốc nhãn, sau ba năm thu hoạch bán lấy mần kinh phí cho thư viện hoạt động.

Khi nớ con Hiền cũng sẽ có lương bổng đàng hoàng. Trước mắt tui xin thôn thả sen trong hồ trước mặt làng, mới bán được 300.000 đồng tiền sen, có cho con Hiền chút đỉnh”.

Tôi tin hai cụ ông và cụ bà sẽ làm được những điều tâm huyết của mình. Vì nói như bà Nguyễn Thị Ngọc Thuần, Vụ trưởng Vụ Thư viện Bộ Văn hóa - Thông tin, trong dịp về trao tặng 518 quyển sách là quà của Thư viện Quốc gia cho thư viện Quảng Xá: “Đây đúng là một địa chỉ văn hóa để cho cả nước tham quan học tập”.

(NLĐ)

 
Trường gà Phan Rí (Bình Thuận) - tụ điểm cờ bạc liên tỉnh PDF In E-mail
02/07/2004
Trường gà Phan Rí chụp từ bên ngoài.

Cách thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong 6-7 km có một trường gà lớn nằm ven quốc lộ 1A, ngay cạnh mỏ đá Phong Phú. Nơi đây thu hút dân chơi gà độ từ nhiều tỉnh kéo về. Tụ điểm cờ bạc này diễn ra hơn 1 năm nay, song công an và chính quyền vẫn chưa có biện pháp dẹp bỏ.

Dân chơi quen gọi trường gà này là Phan Rí vì ông chủ tên Thuận, từng sống ở thị trấn Phan Rí, trước từng mở trường ở đấy, sau mới dời về cạnh mỏ đá Phong Phú. Trường gà được xây trên khoảnh đất rộng 1.000 m2, xung quanh rào lưới sắt, mái lợp tôn. Bãi đá gà hình tròn, xây 2 lớp xi măng kiên cố, lớp ngoài là chỗ ngồi cho dân cá độ, lớp trong là chỗ thả gà.

Xem tiếp...
 
Trục xuất một tàu nước ngoài 'lạc' vào Vũng Rô PDF In E-mail
02/07/2004

Ngày 30/6, thiếu tá Phan Thanh Thuật, Đồn phó Biên phòng 354 (Phú Yên) cho biết, 13h30' cùng ngày, đơn vị đã trục xuất tàu Long RANGER sau 5 ngày tạm giữ vì vi phạm luật hàng hải Việt Nam.

Chiếc tàu này dài 25,21 m, trọng tải 99 tấn, xuất phát từ Tonga. Trên tàu có 3 người Nga, do ông S.Alxander (sinh năm 1971) làm thuyền trưởng.

Qua kiểm tra, tàu không có nhật ký hành trình, vào vùng biển Việt Nam mà không treo cờ Việt Nam, không báo trước cho cơ quan chức năng sở tại... Theo ông Thuật, những người trên tàu đang đi du lịch trái tuyến và ghé vào Vũng Rô để tiếp nhiên liệu.

Trước đó, UBND tỉnh Phú Yên đã xử phạt cảnh cáo những người điều khiển tàu này.

(Theo Thanh Niên)

 
Lần đầu VN - Trung Quốc có đường phân định biển PDF In E-mail
02/07/2004
 
Lễ trao đổi thư phê chuẩn Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ ngày 30/6.

Hôm qua, hai nước chính thức trao đổi thư phê chuẩn Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ để Hiệp định bắt đầu có hiệu lực. Nhân sự kiện này, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên đã trao đổi với báo giới về quá trình đàm phán, nội dung chính và ý nghĩa của Hiệp định.

- Xin Bộ trưởng cho biết một số nét về vị trí, đặc điểm và tầm quan trọng của Vịnh Bắc Bộ.

- Vịnh Bắc Bộ là một trong những vịnh lớn của thế giới, có diện tích khoảng 126.250 km2 (36.000 hải lý vuông), chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km (176 hải lý), nơi hẹp nhất ở cửa Vịnh rộng khoảng 207,4 km (112 hải lý).

Xem tiếp...
 
Đà Nẵng: Năm 2005 sẽ hoàn thành cầu treo lớn nhất VN PDF In E-mail
30/06/2004
Sau sáu tháng triển khai thi công, Công ty Cơ khí xây dựng công trình 623 (Meco 623) cùng liên danh nhà thầu tư vấn Trung Quốc - Cuba - Canada -Tedi (VN) đã hoàn thành 25% khối lượng móng trụ công trình cầu Thuận Phước tại TP Đà Nẵng.
Xem tiếp...
 
Thừa Thiên - Huế: Xây dựng cầu lớn nhất qua phá Tam Giang PDF In E-mail
30/06/2004
Cầu Tư Hiền là cây cầu lớn và dài nhất bắc qua phá Tam Giang, nằm trong vùng tam giác du lịch Bạch Mã - Cảnh Dương - Lăng Cô, có chiều dài 915m, mặt cầu rộng 12m, có tổng kinh phí dự toán khoảng 150 tỉ đồng.

Ban quản lý dự án các công trình giao thông Thừa Thiên - Huế cho biết: 61 hộ dân thuộc 2 xã Tư Hiền, Phong Bình (huyện Phú Lộc) nằm trong Dự án cầu Tư Hiền đã bắt đầu được di dời từ những ngày cuối tháng 6/2004 để việc khởi công xây dựng cầu đúng kế hoạch (trung tuần tháng 7/2004).

(Thanh Niên)

 
Phú Yên: Mùa khô, đất khát PDF In E-mail
30/06/2004

Do đặc điểm địa lý, mùa khô hạn của miền Trung thường kéo dài. Hiện nay, ở nhiều vùng, nước sinh hoạt đã trở thành “của hiếm”. Chuyện thiếu nước sinh hoạt trong mùa khô ở tỉnh Phú Yên này không là chuyện mới, nhưng đến nay vẫn chưa có giải pháp giải hạn cho dân.

  • Khát từ đồng bằng...

“Tôi sống ở nơi này đã hơn bốn chục năm nay nhưng chưa khi nào thấy tình trạng thiếu nước như hiện nay” - ông Nguyễn Dư, một cư dân ở Phước Giang (xã Hòa Tâm, huyện Tuy Hòa), than thở như vậy. Phước Giang có khoảng 80 giếng nước, nhưng hiện nay chỉ còn vài cái có thể xài được, còn lại đều khô cạn tận đáy. Nhiều người lớn tuổi ở vùng đất này cho biết, sở dĩ xảy ra tình trạng thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng như hiện nay bởi gần đây, các hồ nuôi tôm sú ở khu vực này ồ ạt khoan giếng lấy nước ngọt cho hồ, trung bình mỗi hồ hai, ba cái giếng khoan, khiến mạch nước ngầm trở nên cạn kiệt. “Chỉ cần máy nước ở các hồ lân cận nổ lên là những giếng đang có nước bỗng dưng “xẹp” xuống đến tận đáy” - bà Ngô Thị Lễ bức xúc.

Trẻ em Cao Phong lũ lượt đi chở nước.

Bây giờ, để có nước sử dụng, người dân Phước Giang phải “canh” khi máy nước hồ tôm nghỉ là chạy ngay đến các giếng còn nước để gánh về dùng. Tình làng nghĩa xóm cũng sứt mẻ vì… nước. Do nước quá khan hiếm nên nhiều người phải tranh nhau gánh, lắm lúc lớn tiếng hoặc xô xát. Xóm làng Phước Giang trở nên không yên tĩnh. Những người không thể kiếm được nước thì phải mua từ những xe công nông chở nước ngọt từ nơi khác đến với giá 4.000 đồng/m3. “Đã hơn 10 ngày nay, mỗi ngày nhà tôi phải tốn 10.000 đồng tiền mua nước đấy” - ông Nguyễn Dư thổ lộ.

Ở Phước Giang là vậy, còn ở thôn Long Đức (thị trấn Chí Thạnh, huyện Tuy An) tình hình cũng không khá hơn. Ở đây, năm 2003, tỉnh có đầu tư xây dựng một hệ thống nước sạch, tuy nhiên mới xài được một năm thì công trình này bỗng dưng… ngưng vì hỏng hóc nhiều chỗ. “Không có nước sử dụng, 80 hộ dân nơi đây phải mua ống nhựa đặt từ khe suối dẫn về nhà. Nhưng gần tháng qua, suối khô, ống cũng khô không khốc. Nhiều hộ đào giếng, sâu đến cả 25 thước cũng chẳng thấy nước”. Người dân đạp xe chở can đi đến thị trấn Chí Thạnh cách đó 5 cây số mới đưa được nước sạch về dùng.

  • ...Khát lan ra biển, lên núi

Không chỉ có đồng bằng, miền biển Phú Yên cũng lâm vào thế… khát. Ông Nguyễn Lam, trưởng thôn Đồng Môn (xã Anh Hải, huyện miền biển Sông Cầu) bức xúc: “Hàng năm, cứ từ tháng 4 đến hết tháng 9 là dân vùng này phải sống chung với khát”. Hàng chục xe bò từ An Hải phải chở thùng phuy đi xin nước ở các xã lân cận như An Hòa, An Hiệp… nhưng cũng chỉ đủ nước sử dụng cho nhu cầu của con người, còn gia súc thì “uống đỡ” nước lợ hoặc nước bị nhiễm phèn.

Không hơn An Hải, 90 giếng nước ở vùng Cao Phong, cũng thuộc huyện Sông Cầu, đã trơ đáy nhiều ngày qua. Công trình nước sạch ở Cao Phong sử dụng chưa được bao lâu thì đường ống mục, gỉ sét lung tung, nhiều lỗ thủng không đếm xuể và tất nhiên là không có nước chảy. Như những vùng khát khác, gần 150 hộ dân ở Cao Phong phải đi xa vài ba cây số để tìm đến những khe suối gánh, chở nước về dùng. Người ta đi lấy nước đông như… hội, bất kể lúc nào cũng thấy người đi tìm nước khi đến Cao
Phong những ngày này.

Ông Lưu Vạn, một cư dân nơi đây, thổ lộ: “Nhưng nước này cũng chỉ lấy về để giặt giũ, tắm táp thôi, chứ còn nước uống thì phải đi mua từng đôi (thùng). Giếng trong thôn bán giá 500 đồng/đôi, còn xuống thị trấn thì vừa xa, vừa đắt hơn nhiều lần”. Trên núi, tình trạng dân khát nước diễn ra gay gắt hơn. Ở xã Ea Lâm, huyện miền núi Sông Hinh, dòng người đi kiếm nước xuất hiện từ sáng sớm. Suối Ia Sái chỉ còn là một dòng kênh nhỏ, nước đục ngầu, nhưng vẫn có nhiều người đến lấy nước.

  • Bao giờ hết khát?

Câu hỏi ngắn ấy thật khó trả lời đối với những vùng khát ở tỉnh Phú Yên mà chúng tôi đã đi qua. Mùa khô ở đây còn kéo dài cho đến đầu tháng 9 Âm lịch, nghĩa là còn hơn 3 tháng nữa, dân những vùng này sẽ lấy nước sinh hoạt ở đâu khi giếng đã khô, suối đã kiệt còn công trình nước sạch thì vô tác dụng? Những ngày này, nhiệt độ ở đây luôn ở mức trên 36 độ C, cá biệt có khi lên đến 39 độ C. Gió Lào khô hanh bỏng rát, càng khiến nỗi lo của người dân thêm chồng chất.

Trong khi đó, trong tổng số 28 công trình nước sạch Nhà nước đầu tư cho dân vùng nông thôn miền núi, theo thống kê mới nhất, chỉ 40% là còn hoạt động được. Ông Nguyễn Hữu Thứ - Giám đốc Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Phú Yên - cho hay: Những vùng thiếu nước ở Phú Yên thường có điều kiện tự nhiên vô cùng phức tạp. Thêm nữa, địa bàn cấp nước ở vùng nông thôn rộng lớn, dân cư sống phân tán, nguồn nước hạn chế đã gây khó khăn trong công tác thăm dò, khảo sát và lựa chọn mô hình cấp nước hợp lý.

Ông Thứ cũng nói rằng những công trình nước sạch cho nông thôn, vùng núi không phát huy tác dụng được một phần là do đơn vị tư vấn chưa đủ mạnh, cán bộ chuyên môn thiếu, kinh nghiệm điều tra và khảo sát nguồn nước yếu; phần khác là khả năng quản lý sau công trình cũng không được quan tâm đúng mức nên dễ hư hỏng… Người dân Phú Yên mong chờ chính quyền, các cơ quan chức năng có giải pháp “giải khát” cho dân.

(SGGP)

 
Làng... quặng lậu PDF In E-mail
29/06/2004

Người ta đào quặng diatomite lậu một cách công khai trước mắt mọi người. Chủ tịch xã thì bảo: “Bây giờ, số dân không đào quặng dễ “điểm” hơn là dân đào quặng”. Chính vậy mà mỗi ngày hơn 200 tấn diatomite ở đấy bị “bốc hơi”. Câu chuyện khá thời sự này đang xảy ra tại xã An Xuân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. 
 
Chúng tôi lên An Xuân, một xã miền núi khó khăn của tỉnh Phú Yên, nằm cách thị xã Tuy Hòa khoảng 50km. Đó là nơi có mỏ quặng diatomite lớn nhất Việt Nam với trữ lượng dự báo hơn 60 triệu tấn. An Xuân có lẽ là nơi hiếm hoi ở tỉnh này chưa có một mét đường láng nhựa. Con đường từ thị trấn Chí Thạnh (huyện Tuy An) lên xã vùng cao này rộng chỉ chừng 8m, dài khoảng 15km, toàn bụi đỏ. Độc đạo đèo dốc và đất sỏi men theo triền núi khó đi như thế nhưng hàng chục xe tải vẫn kéo nhau gầm gừ lên xuống hầu như không ngơi nghỉ. Cây cối, nhà cửa ven đường nhuốm một màu da cam. 

  • Sôi động không khí khai thác lậu

Những “núi” quặng đã vô bao, chờ xe đầu nậu chở đi.

Không khí khai thác đất bầu (tên người dân ở đây gọi quặng diatomite) nhộn nhịp, hối hả với hàng trăm người đang đào, khiêng, vác, phơi... ven lộ. Hai bên đường, quặng diatomite, lớp đã vô bao chất thành đống như núi đang đợi xe đến chở đi, lớp đang phơi ngổn ngang. Tưởng rằng đây là những công nhân của Công ty Phát triển khoáng sản 5 (PTKS5), đơn vị được Bộ Công nghiệp cho phép khai thác diatomite ở An Xuân từ 1992 đến nay sau khi mỏ này được phát hiện, nhưng khi hỏi thăm mới hay, đó toàn là dân làm quặng lậu.

Ông Bùi Công Thành, bảo vệ mỏ Hòa Lộc do Công ty PTKS5 khai thác, cho hay: “Tất cả những “núi” quặng đã vô bao mà các anh thấy đều là của dân. Xe tải chở quặng cũng là của dân đấy”. Điều gây bất ngờ đối với chúng tôi là dân khai thác quặng lậu ở An Xuân làm công khai giữa ban ngày, ngay trước mắt mọi người chứ không hề lén lút như làm lậu những thứ khác. Ông Thành cho biết thêm: “Trước đây, dân khai thác đất bầu lậu làm lén lút ở khu vực xa, nhưng càng ngày quặng càng kiệt nên họ càng tiến gần hơn và hiện tại đang muốn “ăn” luôn đất dưới chân con đường duy nhất nối đồng bằng với xã miền núi này”.

Không chỉ khai thác lậu, dân làm quặng còn vô tận mỏ của Công ty PTKS5 để “cướp”. Ông Lương Văn Sinh - Phó Giám đốc Công ty PTKS5 - bức xúc: “Chuyện này không chỉ diễn ra ban đêm mà còn xuất hiện ngay giữa ban ngày. Hiện tại, ở mỏ chỉ có 2 bảo vệ nên chẳng làm được gì trước làn sóng người “cướp” quặng. Chúng tôi chỉ khuyên bà con thôi, vì nếu làm căng thì khó mà “ở chung” với họ để sản xuất, dù rằng diện tích mà họ đang làm lậu nằm trong khu vực công ty được phép khai thác. Năm ngoái, một số người đã dùng hung khí tấn công khiến một bảo vệ mỏ bị trọng thương!”. Chủ tịch UBND xã An Xuân Đặng Ngọc Ninh thừa nhận điều này và cho biết tình trạng “cướp” quặng chỉ diễn ra vào mùa mưa, khi người dân không khai thác quặng được vì hầm của họ bị ngập nước.
  • Sợ đói hơn sợ bị bắt 

An Xuân là một xã thuộc diện nhiều khó khăn. Điện thắp sáng mới có cuối năm ngoái, thuê bao điện thoại đầu tiên mới được lắp đặt hồi giữa tháng 5 này, đường sá – như đã nói, không có một mét nào được láng nhựa. Người dân An Xuân lâu nay lam lũ với cây mía và một diện tích nhỏ lúa ăn nước trời. Chỉ số GDP trên đầu người chưa bao giờ vượt qua mức 2,5 triệu đồng/năm đã phản ánh được đời sống đầy khó khăn của người dân nơi đây.
 
Nhưng An Xuân giàu quặng diatomite, không nơi nào ở Việt Nam có trữ lượng lớn như An Xuân. Người ta không ngờ sau vườn, thậm chí dưới lớp đất nền nhà mình, chỉ cần lật lên là... có tiền. Vậy là, “kể từ năm 2001, người dân ở đây bắt đầu “làm đất”. Người ta đào trong vườn nhà, hết thì tràn lên vùng đồi, còn bây giờ “nơi nào có quặng là ta cứ đào”. Hiện cả xã có khoảng 25 hầm khai thác trái phép. Không chỉ có dân An Xuân, mà dân khắp nơi trong huyện Tuy An, ở Xuân Long (Đồng Xuân)... cũng đến đây lấy đất bầu. Bây giờ bảo đếm những người không làm quặng thì khó hơn là đếm những người làm quặng!” - Chủ tịch Đặng Ngọc Ninh cho biết.
 
Chính vì vậy mà lên An Xuân, bước ra đường là gặp ngay “mỏ” của dân làm quặng lậu! Một phụ nữ quãng 30 tuổi, tự xưng tên Chút, cho chúng tôi biết: “Đây là đất nhà của ông bà già để lại. Hồi trước làm mía, bây giờ thấy có đất bầu nên đào, ai mua thì bán, vậy thôi”. Còn một phụ nữ khác tên Bê, đang phơi quặng ven lề đường, nói: “Nhà nghèo quá nên tranh thủ kiếm ít đất bán cho đầu nậu kiếm sống. Ngày nắng tốt, cả nhà làm cũng kiếm được vài chục ngàn đồng. Đây là khoản tiền quá lớn mà trước đây làm rẫy, trồng đỗ, trồng mè... tụi tôi không dám mơ tới”. “Làm như vậy không sợ bị bắt sao?” – chị Bê đáp: “Tụi tôi sợ đói hơn là sợ bắt”. Còn một thanh niên không chịu nói tên (nhưng chụp hình thì... ô-kê, còn cười rất tươi), người xã An Cư, cho hay: “Hầm nào ở đây cũng có chủ cả, còn chúng tôi là dân làm thuê. Mỗi bao quặng khai thác được chúng tôi được trả 500 đồng cho 5 đứa. Làm giỏi thì mỗi tháng kiếm cũng được 700.000 - 800.000 đồng, đủ gởi về quê nuôi vợ con”. 
 
Từ trên cao nhìn xuống, chúng tôi hãi hùng khi thấy hàng trăm người đang chúi đầu trong những hầm sâu có đến chục mét để đào, vô bao diatomite. Nguy hiểm hơn, bên dưới hầm bị khoét rộng hơn bên trên vì theo lời dân đào quặngï, càng xuống dưới quặng càng có chất lượng. Diatomite là một loại đất rất xốp nên những “hồ lô rỗng” này có thể đổ sập bất cứ lúc nào. Anh chàng thanh niên làm thuê mà chúng tôi gặp ban nãy thổ lộ: “Năm 2002, một chị tên Dương Thị Kim Huệ, người ở vùng 5, bị hầm sập đè chết, tụi tui cũng ngán lắm nhưng tay không làm thì hàm không có thứ để nhai, nên cuối cùng phải dẹp sợ hãi sang một bên”.

  • Cơ quan chức năng “bó phép”?

Nhân công đào thuê quặng lậu dưới hầm sâu.

Diatomite là loại quặng được dùng làm nguyên liệu chế biến một số sản phẩm phụ trợ cho sản xuất xi măng, xử lý ao đìa trong nuôi trồng thủy sản... có giá khoảng 260.000 - 300.000 đồng/tấn. Mỗi người dân khai thác thô mỗi ngày có thể đào được 20 - 50 bao (mỗi bao 20kg) bán với giá 1.800 đồng/bao. Còn các đầu nậu thì mua quặng thô của dân làm lậu đem về xay nhuyễn, vô bao, đóng mác “Made in Thailand” và hưởng lợi gấp hàng chục lần. Chính vì thế, lực lượng đầu nậu càng ngày càng tăng ở An Xuân.

Theo Chủ tịch Đặng Ngọc Ninh, hiện An Xuân có khoảng 10 - 15 đầu nậu chuyên thu mua quặng diatomite khai thác trái phép. Những người này mua quặng của dân về “chế biến” tại chỗ hoặc thuê xe tải chở bán ở các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa... “Một số đầu nậu như ông Hải (ở An Định), ông Dũng (ở An Cư)... mỗi ngày mua đến 20 tấn quặng, đó là tính số thấp nhất” - ông Ninh cho biết. Nếu chỉ lấy số đầu nậu là 10 thôi, thì ta được một con số khủng khiếp là mỗi ngày An Xuân bị “moi ruột” 200 tấn quặng diatomite lậu!
 
Ông Ninh đưa cho chúng tôi một xấp thông báo của UBND xã về việc cấm toàn bộ cán bộ, nhân dân trong xã khai thác quặng diatomite. Nội dung các thông báo này giống nhau: Nghiêm cấm khai thác và mua bán trái phép đất bầu, cấm xe vận chuyển và các máy xay chế biến đất bầu. Thông báo khẳng định: “Các đối tượng cố tình cản trở hoặc chống đối, ngoài việc bị lập biên bản xử lý hành chính, đình chỉ hoặc thu hồi toàn bộ hiện vật, sẽ bị chuyển hồ sơ về huyện xử lý”. “Về lý thì nói rắn như vậy, nhưng về tình thì khó lắm” - ông Ninh bộc bạch - “Phải nói thật là nhờ khai thác đất bầu mà những năm qua đời sống của người dân đỡ khổ, xã không phải cứu đói như trước đây nữa. Chúng tôi đã lên kế hoạch sắp tới sẽ đến từng hầm lập biên bản và vận động nhân dân không khai thác nữa. Chỉ vận động thôi, chứ bắt bớ thì không nỡ”.

Cách xử lý “tình cảm” ấy của chính quyền địa phương là một trong những nguyên nhân khiến tình trạng khai thác quặng trái phép ở An Xuân ngày càng thêm phức tạp. Đến nay, mới chỉ có 3 vụ các đầu nậu vận chuyển quặng khai thác trái phép bị các ngành chức năng của huyện Tuy An bắt giữ, xử lý; thỉnh thoảng đội quản lý thị trường huyện cũng bắt vài vụ vận chuyển quặng lậu, song khối lượng không đáng kể so với số diatomite bị mất mỗi ngày. Phó Giám đốc Công ty PTKS5 Lương Văn Sinh nói, ông đã từng nhờ huyện đội Tuy An, xã đội An Xuân “bám trụ” một thời gian ở khu vực khai thác trái phép quặng diatomite nhưng cuối cùng “đâu lại vào đó”.
 
Vẫn những chiếc xe tải chở quặng rầm rập “cày” trên con đường đầy bụi đỏ của An Xuân khi chúng tôi “xuống núi”. Tự dưng, tôi nảy ra một giải pháp và thấy mình cũng... có lý. Đó là tại sao các cơ quan hữu quan không đón đường những chiếc xe này mà bắt, phạt và thu tang vật, trong khi An Xuân nối với những nơi khác chỉ bằng một con đường này? Nhưng rồi tôi cũng lo rằng “sáng kiến” này của mình có thể người ta biết lâu lắm rồi, vì nó quá đơn giản, chỉ có điều họ không áp dụng được vì nhiều lý do “khó nói” khác chăng?

(SGGP)

 
Chỉnh trang đô thị ở Đà Nẵng đạt hiệu quả PDF In E-mail
29/06/2004

Hầu hết người đi xa một vài năm trở về đều ngỡ ngàng trước sự đổi thay nhanh chóng của bộ mặt đô thị Đà Nẵng. Người ta gọi đây là cuộc cách mạng về tư duy trong việc chỉnh trang đô thị. 

Thành tựu rõ nét nhất từ khi thành phố Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương là gắn việc xây dựng cơ sở hạ tầng với quy hoạch và chỉnh trang đô thị, khai thác có hiệu quả quỹ đất, mở rộng không gian đô thị. Công việc này rất phức tạp vì thường động chạm đến đời sống của từng cá nhân, từng gia đình. 

Đường Bạch Đằng ở Đà Nẵng vừa được mở rộng

Tuy nhiên, với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, phát huy quyền dân chủ của nhân dân, mọi chủ trương của Nhà nước đều được chính quyền đưa ra trước nhân dân bàn bạc để đi đến đồng thuận. Nhờ đó, thành phố Đà Nẵng đã đạt được nhiều thành công. Sau một số công trình lớn như đường 2-9, Đài Tưởng niệm, Quảng trường 29-3, công trình đường Nguyễn Văn Linh…, Đà Nẵng mở cuộc vận động đóng góp xây dựng cầu quay sông Hàn. 

Mặt trận, đoàn thể ra tay, cuộc vận động đã trở thành một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn trong toàn thể nhân dân. Ai cũng muốn góp một phần công sức của mình vào cây cầu mang nhiều ý nghĩa này. Cầu Sông Hàn hoàn thành với số tiền đầu tư 100 tỉ đồng thì phần nhân dân đóng góp đã 27 tỉ đồng. Một cây cầu quay bề thế bắc qua sông, nối liền hai bờ Đông-Tây sông Hàn, kéo quận Sơn Trà về gần với trung tâm hơn, đẩy mạnh việc khai thác các tiềm năng kinh tế biển, du lịch của quận Sơn Trà phục vụ sự phát triển của thành phố. Cùng với Ngũ Hành Sơn, cầu sông Hàn đã trở thành biểu tượng của Đà Nẵng.

Kinh nghiệm thành công của Đà Nẵng là chính quyền phải thực sự gần dân, lắng nghe dân nói. Nhiều cuộc đối thoại trực tiếp giữa Chủ tịch UBND thành phố với nhân dân có khi kéo dài đến nửa đêm. Hễ dân còn muốn nói thì Chủ tịch thành phố sẵn sàng thức khuya để lắng nghe. Các bí thư, chủ tịch của các địa phương cấp dưới đều phải có mặt để dân có dịp trực tiếp đối chất. 

Có việc dân đề đạt phải hẹn lại nhưng cũng có việc Chủ tịch thành phố giải quyết ngay trong cuộc họp. Dân thấy lãnh đạo nhiệt tình, có gì cứ thế mà bộc bạch. Đúng thì được giải quyết, sai hoặc chưa hiểu thì được giải thích cho hiểu để rồi làm cho đúng pháp luật, đúng chủ trương của Nhà nước. Tôi còn nhớ có lần trong một bữa tiếp khách, ông Nguyễn Bá Thanh khi đó còn là Chủ tịch thành phố Đà Nẵng đã bộc bạch: “Dân đã thắc mắc thì tốt nhất Chủ tịch phải ra gặp dân. Thủ trưởng mà càng đùn đẩy thì dân càng đi kiện nhiều hơn”. 

Nhiều cuộc gặp mặt đối thoại về giải tỏa, đền bù giữa lãnh đạo thành phố với những người dân bình thường như người đạp xích lô, xe thồ, đối tượng mãn hạn tù… diễn ra công khai, dân chủ, tôn trọng lẫn nhau đã khiến dư luận hết sức đồng tình. Không có những cuộc gặp ấy, có lẽ thành phố Đà Nẵng chưa thể đổi thay nhanh chóng đến vậy.

Chỉnh trang đô thị phải chỉnh trang từ lòng dân, lấy dân làm gốc. Bằng cách làm ấy, 7 năm qua Đà Nẵng đã vận động được hơn 53.000 hộ dân tự nguyện di dời nhường đất để xây dựng các công trình như khu đô thị mới Thạc Gián - Vĩnh Trung; Bạch Đằng Đông; Liên Chiểu - Thuận Phước; Bắc Mỹ An; Thanh Khê; Hòa Mỹ; Tây Nam Hòa Cường… 

Cùng với những công trình ấy là sự ra đời của hàng chục khu dân cư mới, hàng trăm con đường được cải tạo hoặc làm mới, hàng trăm cây số đường kiệt (đường hẻm) lầy lội tối tăm được nhựa hóa hoặc bê tông hóa và có cống thoát nước, có điện chiếu sáng. Phần đóng góp tiền của, đất đai của người dân trong các công trình đó không nhỏ.

Trở thành đô thị loại 1 cấp quốc gia, Đà Nẵng càng phải nỗ lực nhiều hơn nữa để ngang tầm một đầu tàu của vùng kinh tế động lực miền Trung từ Quảng Ngãi đến Thừa Thiên - Huế. Từ việc chỉnh trang đô thị, phát triển kinh tế - xã hội đến chủ trương chống tệ quan liêu tham nhũng, cửa quyền, hách dịch nhân dân trong đội ngũ cán bộ công chức do Thành ủy phát động, người dân luôn đứng bên cạnh cấp ủy, chính quyền thành phố Đà Nẵng. Vì họ hiểu rằng những chính sách ấy, việc làm ấy đều hướng đến cuộc sống người dân.

(SGGP)

 
Một tàu khai thác cá ngừ đại dương bị mất liên lạc hoàn toàn từ bão số 2 PDF In E-mail
28/06/2004

 Đó là chiếc tàu có công suất trên 90CV, được đóng mới từ nguồn vốn vay của dự án đánh bắt xa bờ của ông Nguyễn Ngọc Anh - ở phường 6, thị xã Tuy Hòa đã đi câu cá ngừ đại dương hơn 1 tháng nay vẫn chưa cập bến. Trên tàu đánh cá này có 2 người trong gia đình ông Anh và 6 thuyền viên đều ở thị xã Tuy Hòa. Sở Thủy sản Phú Yên ngày 27.6 cho biết: Ngành thông báo cho các đơn vị chức năng và ngư dân giúp đỡ, chứ chưa có một phương tiện gì để triển khai tìm kiếm cứu nạn.

(Báo Lao Động)

 
<< Đầu tiên < Trước 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 Kế > Cuối cùng >>

Kết quả 1261 - 1275 của 1336

Viec lam, Tìm việc làm, Tuyển dụng

 
© Copyright 2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved. Contact us
® Ghi rõ nguồn "MienTrung.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.