Trang chính
Xã hội
Văn hóa
Du lịch
Lịch sử
Kinh tế
Khoa học
Y tế - Giáo dục
Tin học
Môi trường
Dịch vụ
Ẩm thực
Thể thao
Tản văn
Tin mới nhất

Trang chính arrow Xã hội
Advertisement
 
Xã hội
Cái chết của một cây cầu trăm tuổi PDF In E-mail
24/06/2004

 

Cầu Dran vừa bị cưa đổ xuống sông

Nghe tin cây cầu Dran đang bị triệt phá, tôi phóng xe chạy  vội về hướng đèo Sông Pha để chụp hình ảnh cây cầu xe lửa cuối cùng (thật ra là duy nhất) trên Tây nguyên này.

Cây cầu đã nằm đổ gục dưới lòng sông Đa Nhim. Những người công nhân của ngành đường sắt  đến từ TP.HCM đang hối hả đoạn nó ra từng khúc, sắt chất đống, trong khi vô số người dân trong vùng đứng từ xa nhìn và có người đã bật khóc.

Bán “quá khứ” không đầy 400 triệu đồng

Anh Hà - 41 tuổi, một đứa con của thị trấn Dran, một trong rất ít người có máy ảnh ở đây - nói là chính anh cũng chỉ kịp chụp mỗi hai nhịp còn lại của cây cầu sau khi nhịp đầu tiên bất thần bị hạ.

Và nhiều người dân khác, trong đó có các cụ lão thành cách mạng từng gắn bó với xứ sở này, cũng đau đớn mà chạy vội tìm thuê người chụp ảnh để ghi lại chút gì của  quá khứ...

Sự bàng hoàng, ngơ ngác đã diễn ra ở  thị trấn Dran  (huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) này suốt hai tuần qua. Hỏi chuyện cây cầu, người nào cũng lắc đầu ngao ngán...             

Cây cầu đó nằm trên tuyến đường sắt xe lửa răng cưa dài 84km từ Tháp Chàm (Ninh Thuận) đi Đà Lạt và được xem là dấu ấn đậm nhất còn sót lại về một con đường sắt huyền thoại ở châu Á: từ đồng bằng lên cao nguyên (độ cao 1.500-1.600m).

Trên thế giới chỉ có ba con đường sắt răng cưa như thế, nhưng hai đã nằm ở Jung -  fraujoch và Montevers (Thụy Sĩ) và một ở ngay đây của VN.

Con đường sắt răng cưa Tháp Chàm - Đà Lạt được lập dự án vào năm 1900, đến 1908 bắt đầu thi công, riêng đoạn có cây cầu Dran được xây dựng năm 1919 rồi hoàn thành vào 1925, nghĩa là nó gắn liền với lịch sử ban sơ hình thành Đà Lạt.

Thời chiến tranh tuyến đường sắt lên núi này vẫn hoạt động. “Ngay cả những năm đánh Mỹ ác liệt, đường sắt này không thuộc quyền của chúng ta nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm gìn giữ nó.

Tám lần đánh phá đường vận chuyển đạn pháo... của địch từ Tháp Chàm lên Đà Lạt, chúng tôi vẫn chỉ nhắm vào những chiếc đầu máy.

Ý thức sợ hư hỏng đường được quán triệt đến từng chiến sĩ!” - cụ Chế Đặng, nguyên bí thư huyện Đơn Dương thời chiến tranh (rồi làm chủ tịch  chính quyền cách mạng lâm thời tỉnh Tuyên Đức, rồi phó chủ tịch tỉnh Lâm Đồng), người mà hồi chiến tranh  chuyên được giao đi đánh phá tuyến đường này (nay đã 81 tuổi),  kể lại.

Từ khi ra đời con đường vẫn hoạt động bình thường, chỉ gián đoạn vài tháng trước khi chiến tranh kết thúc.

Ngay sau 1975, dưới sự chủ trì của ông Chế Đặng, con đường sắt này  vẫn còn thông suốt từ Đà Lạt đến Tân Mỹ (chỉ còn chừng trên 10km nữa là tới Phan Rang).

Để nó hoạt động lại, các nhà lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng lẫn công nhân toa xe, cầu đường, gác ghi... gắn bó với con đường sắt này suốt nhiều tháng trời cật lực lao động trong cảnh thiếu đói, cơ cực.

Ấy thế mà đường hồi sinh, chạy vỏn vẹn được bảy chuyến lên xuống,  ngành đường sắt (Liên hiệp Đường sắt VN) đùng đùng cho quân lên tháo dỡ ồ ạt, từ  thanh ray đến tà vẹt của con đường... để làm đường sắt thống nhất dưới đồng bằng.

Tỉnh Lâm Đồng cố cứu con đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt bằng cách tung lực lượng đi khai thác hàng  chục ngàn  mét khối gỗ, cưa xẻ ra hàng chục vạn  khúc tà vẹt gỗ để đổi lại cho họ làm đường sắt dưới xuôi...

Nhưng... “Tôi đã chiến đấu hết mình nhưng vẫn không cứu được con đường sắt răng cưa - tài sản lớn của đất nước. Giờ nghĩ lại sao hồi đó mình không dùng quyền của lãnh đạo tỉnh để nhất quyết không cho họ - Liên hiệp Đường sắt - bất khả xâm phạm nhỉ!” - cụ Chế Đặng ray rứt.

Chưa hết, năm 1988-1989,  Liên hiệp Đường sắt VN lại “đổ quân” lên vét nốt hai chiếc đầu máy hơi nước hiệu Fuka (do Thụy Sĩ sản xuất - vào đầu thế kỷ 19, xưa nhất, mà lúc đó chính ở Thụy Sĩ cũng không còn thấy) còn lại ở Đà Lạt để bán cho nhóm người Thụy Sĩ theo kiểu phế liệu!

Giờ đây một số công nhân lại lại đang “rã” thịt cây cầu. Họ hăng hái lấy đưa tôi xem “tính hợp pháp” của việc phá cầu của họ bằng văn bản cho phép phá bỏ  của Tổng công ty Đường sắt VN.

Tôi thấy người ta dùng chữ “thanh lý” tài sản cố định để chỉ việc “cần phải phá bỏ” cây cầu. Một văn bản khác cho biết cây cầu huyền thoại này trị giá 360 triệu đồng, nghĩa là người ta đang tính ý nghĩa thương mại của 250 tấn sắt trên cây cầu. Hình như  giá thép đang lên  mà!

Cầu Dran từng xuất hiện trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật cách đây bốn năm

Cầu không phải chỉ dành để đi

Cây cầu Dran của chúng tôi chưa chết, bởi nói như cụ Chế Đặng thì cho đến bây giờ Chính phủ vẫn chưa có văn bản nào chính thức công bố xóa bỏ tuyến đường sắt răng cưa Đà Lạt - Tháp Chàm.

Nhưng hôm 9-6, cây cầu Dran chết thật rồi, không như  kỳ trước mới chỉ bị tháo thanh ray, tà vẹt.  Một phần lịch sử của Đà Lạt đã ra đi.

Ông già kháng chiến lừng lẫy của Khu 6 (ngày xưa bao gồm Ninh Thuận, Bình Thuận, Tuyên Đức, Đồng Nai Thượng) anh hùng - cụ Chế Đặng - không nén nỗi đau tức,  ánh mắt rưng rưng khi nhận tin báo, nói: “Phá hoại, không tôn trọng quá khứ, văn hóa... Sao không để nó đứng thế như một chứng nhân lịch sử về một thời đánh đuổi thực dân, mà dạy cho lũ trẻ rằng ngày xưa từng có một con đường sắt lên cao nguyên do cha anh đi làm nô lệ, cu li xây dựng!”.

Ông Phạm  Khương  (75 tuổi) - người thợ 50 năm gắn bó với con đường sắt răng cưa này, người cùng chiến đấu bảo vệ con đường trên từ trong chiến tranh lẫn sau này - đang ngủ, nhưng khi nghe cầu Dran bị phá bỏ liền bật dậy: “Vậy là mất luôn rồi!”.

Rồi ông chạy đi lấy tôi coi cuốn sách về hai chiếc đầu máy hơi nước cổ hiệu Fuka mà cách đây 12 năm Liên hiệp Đường sắt VN (nay là Tổng công ty Đường sắt) mang bán cho Thụy Sĩ như bán phế liệu.

Ông Khương bảo điều ngẫm mà chua đến hổ thẹn là sau khi về sửa chữa, xây nhà bảo tàng cho từng chiếc, họ lập tức xuất bản một cuốn sách dày nói về hai chiếc đầu máy này, rồi có gửi một cuốn sang tặng Liên hiệp Đường sắt VN!

Tôi đi ngược lại phía ngã ba Dran, nơi mà năm trước chính quyền địa phương vừa lập khu tưởng niệm những chí sĩ cách mạng yêu nước, trong đó có những người công nhân xe lửa anh dũng của tuyến đường răng cưa này bị Tây xử bắn vào năm 1946, cách cây cầu vừa bị hạ chừng 150m, mà không biết phải nói gì về sự ra đi của cây cầu.

Nghe tôi kể về số phận cây cầu Dran (kế hoạch đến ngày 1-7 sẽ cưa dỡ xong), mấy người bạn ở Sài Gòn, Hà Nội bảo nếu cây cầu này mà nằm ở Hà Nội hay Sài Gòn có thể sẽ không bị chết thảm như thế. 

Nhưng nếu nó nằm ở những nơi đô hội đó thì nó không phải là cây cầu của tuyến đường sắt răng cưa.

Ông Hoàng Sĩ Sơn, phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Lâm Đồng:

“...Khi họ đến tháo dỡ cầu chúng tôi đã trở tay không kịp. Ngành đường sắt chưa hề gặp trực tiếp chúng tôi để trao đổi, bàn cụ thể, trong khi nó nằm trên địa bàn chúng tôi và liên quan đến lịch sử giao thông, lịch sử vùng đất cao nguyên. Đến lúc này tỉnh chỉ nhận được duy nhất một thông báo sơ sài của ngành đường sắt về việc thanh lý cầu...”.

(Tuổi trẻ)

 
Dự án giảm nghèo miền Trung khu vực Kon Tum đã khởi động PDF In E-mail
24/06/2004

Dự án giảm nghèo miền Trung khu vực Kon Tum vừa khởi động mang lại cơ hội cải thiện cuộc sống cho người dân ở 49 xã thuộc các huyện Đak Glei, Đak Tô, Ngọc Hồi, Kon Rẫy, Kon Plông.

Dự án có tổng mức đầu tư 20,53 triệu USD (tương đương 306 tỉ đồng), trong đó Ngân hàng Phát triển Châu Á cho vay và viện trợ không hoàn lại 16,16 triệu USD; phần còn lại là vốn đối ứng và đóng góp của nhân dân

(Nhân dân)

 
Cảnh báo từ những cuộc điều tra hơn 20 năm qua:Đắk Lắk sẽ không còn voi PDF In E-mail
23/06/2004

Năm 1979 số lượng voi nhà ở Đắk Lắk có 502 con, nhưng đến năm 2000 chỉ còn 139 con (giảm 72%). Tương tự, số lượng voi rừng ở thời điểm 1979 có từ 400-500 con, năm 2000 chỉ còn 40-50 con (giảm 90%)

Kết quả điều tra về đàn voi nhà của Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk vừa qua đã làm không ít người ngạc nhiên. Số voi nhà toàn tỉnh hiện có 62 con, gồm 19 voi đực và 43 voi cái. So với số liệu điều tra năm 1997 (cũng trên địa bàn các huyện thuộc tỉnh Đắk Lắk hiện nay) là 115 con thì số voi đã giảm gần một nửa. Hiện voi nhà của Đắk Lắk chỉ còn phân bố ở 5 huyện: Buôn Đôn (22 con), Lắk (21), Ea Súp (9), Krông Ana (6), Krông Bông (4). Phần lớn voi nhà có nguồn gốc từ voi rừng được đồng bào các dân tộc ở Buôn Đôn và Ea Súp săn bắt và thuần dưỡng từ lâu đời theo nghề truyền thống, sau đó bán lại cho nhiều địa phương khác. Viễn cảnh về đàn voi nhà của Đắk Lắk ngày càng ít đi, thậm chí không còn con voi nào nữa đang dần trở thành hiện thực.

Vì sao voi nhà ở Đắk Lắk ngày càng ít đi?

Có nhiều lý do của sự suy giảm này nhưng chủ yếu do người nuôi voi ngày càng nhận thấy voi nhà không còn đem lại nhiều lợi ích như trước nên tìm cách bán đi. Trong khi đó, nhiều tỉnh lại có nhu cầu mua voi phục vụ du lịch, vì vậy voi Đắk Lắk đã được xuất bán ra ngoài tỉnh khá nhiều. Mới đây, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã mua đến 4 con voi để phục vụ Festival Huế 2004. Mặt khác, phần lớn số voi còn lại đều khá lớn tuổi. Có những “cụ” voi đã trên dưới 80 tuổi như voi Bak Ku và voi Beng ở Ea Súp,  voi Khăm Phanh ở Lắk... Số voi già chết đi sẽ là mất mát không nhỏ cho nghề thuần dưỡng và sử dụng voi truyền thống, trong khi số lượng voi săn bắt từ rừng gần như giảm hẳn.

Hơn 20 năm qua, nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu, thống kê của các nhà khoa học trực tiếp hay gián tiếp đều cho thấy tốc độ suy giảm nghiêm trọng của các quần thể voi ở Đắk Lắk. Năm 1979, số lượng voi nhà trên toàn tỉnh Đắk Lắk (cũ) có 502 con, nhưng đến năm 2000, số lượng chỉ còn 139 con (giảm 72%). Vào thời điểm hưng thịnh của đàn voi nhà, huyện Buôn Đôn có đến 120 con voi. Thế mà nay, nơi nổi tiếng về nghề săn bắt và thuần dưỡng voi này chỉ còn hơn 20 con.

Thực ra, dưới góc nhìn của các nhà môi trường học thì việc suy giảm đàn voi nhà mà không có sự bổ sung từ việc săn bắt voi rừng lại là điều tốt. Giáo sư Võ Quý, Trung tâm Tài nguyên và Môi trường thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng: Bất kỳ việc săn bắt voi rừng với mục đích nào, dù là để thuần dưỡng, sử dụng cho các hoạt động của con người đều vi phạm các quy định của thế giới và Nhà nước ta về bảo vệ loài động vật hoang dã quý hiếm. Theo giáo sư Võ Quý thì việc tôn trọng sự đa dạng sinh học trong tự nhiên phải được đặt lên hàng đầu. Bởi vậy, nếu voi nhà đã già không còn giá trị sử dụng, phải chăn nuôi tốn kém thì nên thả lại vào rừng...

Voi rừng: Giảm đến 90%

Voi rừng ở Đắk Lắk cũng chịu chung số phận suy giảm , từ con số điều tra của Chi cục Kiểm lâm năm 1979 khoảng 400-500 con, giảm  còn 40-50 con vào năm 2000 (giảm 90%). Hiện có hai vùng được đánh giá là còn voi rừng sinh sống là: khu vực dọc biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc các huyện Ea Súp, Buôn Đôn (Đắk Lắk) và Cư Jút, Đắk Mil,Đắk Rlấp (Đắk Nông), số lượng khoảng 15-20 con và khu vực thứ hai là vùng chân núi Chư Yang Sin thuộc địa bàn các huyện Lắk, Krông Bông, M’Đrắk, số lượng cá thể  khoảng 3-4 con. Ông Lê Cước, Trưởng Phòng Quản lý bảo vệ rừng - Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk, cho rằng: Sự bùng nổ dân số, mở rộng diện tích đất canh tác đã làm thu hẹp môi trường sinh sống của loài voi. Việc phát triển các vùng dân cư dọc hành lang biên giới thuộc các huyện Ea Súp, Buôn Đôn làm cho vùng sinh sống của voi rừng còn bị chia cắt, đứt đoạn, tập quán sinh hoạt trên địa bàn bị vi phạm, hoặc cô lập một số đàn voi sống trong một vùng rừng hạn hẹp. Tình trạng săn bắn bừa bãi cả voi đực lẫn voi cái để lấy ngà, xương, da... những năm trước đây đã làm cấu trúc đàn voi bị phá vỡ, sức sinh sản bị giảm sút nghiêm trọng. Những yếu tố này đã làm các đàn voi rừng trở nên hung dữ, sẵn sàng tấn công con người, phá phách hoa màu, nhà cửa. Tháng 3-1997, tại huyện Krông Bông, voi rừng về phá phách và gây chết một người dân đang làm rẫy. Cách đây vài năm, voi rừng cũng thường xuất hiện, phá hoại hoa màu ở xã Ea Lê, lâm trường Chư Mlanh (Ea Súp)... Ngoài ra, đàn voi rừng ở Campuchia thường di chuyển qua biên giới Việt Nam cũng đang giảm sút nghiêm trọng do nạn săn bắn trái phép voi đực để lấy ngà, làm cho bầy voi cái còn lại không sinh sản được và cũng làm giảm sút đàn voi rừng ở Đắk Lắk.

Nhiều nhà quản lý, nhà khoa học đã lên tiếng về nguy cơ tuyệt chủng đối với quần thể voi ở Đắk Lắk nếu như không thực hiện các giải pháp cấp bách và hữu hiệu. Được biết sắp tới đây, tại Đắk Lắk sẽ tổ chức một hội thảo bàn về bảo tồn và phát triển đàn voi trên địa bàn.

Hy vọng từ cuộc hội thảo này một dự án cụ thể về bảo vệ và phát triển đàn voi nhà, voi rừng ở Đắk Lắk được hình thành và triển khai.

 
Vụ ngộ độc mực túi ở Bình Thuận: Độc tố do vi khuẩn cộng sinh PDF In E-mail
23/06/2004
Theo Trung tâm Y tế dự phòng Bình Thuận, độc tố trong bạch tuộc đốm xanh gây ra vụ ngộ độc tại huyện Hàm Thuận Bắc là do một loại vi khuẩn sống cộng sinh trong bạch tuộc. Độc tố này rất gần với độc tố trong cá nóc, dễ gây tử vong.

Trong hai ngày 19 và 20-6 85 người ở thị trấn Ma Lâm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận bị ngộ độc do ăn mực túi (mực tua, bạch tuộc...). Hai bệnh nhân tử vong, một ca nguy kịch nhưng đã được cứu sống. Đây là vụ ngộ độc thức ăn hải sản lớn nhất từ trước tới nay ở Bình Thuận. Đến chiều 21-6, hầu hết các nạn nhân đã xuất viện, chỉ còn hơn mười người được tiếp tục theo dõi sức khỏe tại bệnh viện tỉnh Bình Thuận.

- Ngư dân cho rằng mực túi thường xuất hiện nhiều vào tháng 4 khi bắt đầu mùa gió nam, vì mực ăn trứng cá nóc nên nhiễm độc tố và gây ngộ độc cho người ăn mực?

Ông Nguyễn Hoàng Thái Vinh - Chi Cục trưởng Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bình Thuận: Ngư dân phản ánh có ba loại bạch tuộc họ đã gặp trên biển Bình Thuận là loại bạch tuộc thường vẫn được các Công ty chế biến thủy sản thu mua và chế biến. Loại bạch tuộc đốm xanh có chứa độc tố gây ngộ độc có thể dẫn đến chết người, và loại bạch tuộc đỏ có thể cắn người gây tử vong như đã có một ca xảy ra tại huyện Hàm Tân. Tàu thuyền hành nghề đã cào lưới được nhiều loại hải sản mực tuộc đốm xanh lẫn lộn trong đó. Loại này hiếm khi xuất hiện chứ không thường xuyên, không phải tất cả các loại bạch tuộc vẫn được chế biến thành thực phẩm đều gây ngộ độc.

Ông Nguyễn Hoàng Nga – Phó giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng Bình Thuận: Mực túi là cách gọi dân dã của bạch tuộc đốm xanh, tên khoa học là Hapalochlaena, trên thân có đốm màu xanh, chỉ xuất hiện ở vùng biển Bình Thuận vài năm gần đây, thường vào tháng 5 tháng 6 hằng năm. Lúc đầu, nghi ngờ chúng mang độc tố và gây ngộ độc cho người do ăn trứng cá nóc hay một loại tảo độc. Khi chúng tôi gửi mẫu đến Viện Hải dương học Nha Trang, được một nhà khoa học Australia đang nghiên cứu đề tài này tại đây xác định: Độc tố xuất phát từ một loài vi khuẩn sống cộng sinh trong bạch tuộc đốm xanh, chứ không phải độc tố do bạch tuộc đốm xanh ăn trứng ca nóc hay tảo độc. Loại độc tố này gần giống với độc tố trong cá nóc nên rất dễ gây ngộ độc dẫn đến tử vong. Khi phát hiện bạch tuộc đốm xanh, bà con hãy tiêu hủy ngay để tránh gây ngộ độc dẫn đến chết người và các loại động vật khác.

- Ở Bình Thân đã có vài trường hợp ngộ độc do ăn bạch tuộc đốm xanh. Các ngành (chức năng đã tuyên truyền như thế nào?

Ông Nguyễn Hoàng Thái Vinh, Chi Cục trưởng Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bình Thuận:

Khi tuyên truyền về việc nghiêm cấm khai thác, vận chuyển, mua bán, chế biến cá nóc chúng tôi đã lồng việc tuyên truyền rằng con bạch tuộc đốm xanh có chứa độc tố để hướng dẫn, nhắc nhở cho ngư dân, người thu mua và chế biến. Phải nói rằng ý thức không sử dụng các loại hải sản có chứa độc tố trong một số bà con chưa cao, cứ tin vào cách nấu nướng (bỏ gan ruột, ướp muối, nấu sôi nhiều lần...) là tiêu hết độc tố. Nhận thức của người sử dụng là rất quan trọng.
 
Đợt nắng nóng đầu tiên tại các tỉnh miền Trung PDF In E-mail
22/06/2004

Đợt nắng nóng đầu tiên của mùa hè năm nay, theo dự báo của ngành khí tượng thuỷ văn, sẽ còn diễn ra trong vài ba ngày nữa. Các khu vực chịu ảnh hưởng của đợt nắng nóng này là đồng bằng, trung du Bắc Bộ, Bắc và Trung Trung Bộ. Tuy không có gì bất thường, nhưng đợt nắng nóng này cũng có tác động đáng kể đến đời sống, sinh hoạt của người dân; đồng thời cũng cảnh báo nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra tại các tỉnh miền Trung...

Cơn bão số 2 trái mùa đổ bộ vào miền Trung gây mưa to trên diện rộng tuy đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản của người dân, nhưng nó cũng đã cứu nguy cho nhiều cánh đồng khô hạn và những con sông đang nguy cơ nhiễm mặn ở miền Trung. Bão đi qua, thời tiết lập tức khô hanh và nắng nóng.

Từ 15 đến 21.6, các tỉnh miền Trung không có mưa, nhiệt độ trung bình 31-37 độ, cá biệt ngày 21.6-tiết hạ chí-các tỉnh từ Quảng Bình đến Ninh Thuận nắng nóng đột ngột gay gắt, nhiệt độ tăng 37-40 độ. Cũng trong thời gian này, gió tây-nam bắt đầu xuất hiện với cường độ cao, có nơi gió cấp 4 đến cấp 5. Gió tây nam khô nóng thổi qua rừng Trường Sơn gây nguy cơ cháy rừng.

Cảnh báo cháy rừng ở các khu rừng miền Trung đã tăng lên cấp 3/5 từ ngày 19, 20 và 21.6. Thông tin ban đầu từ các sở nông lâm thuỷ sản ở duyên hải miền Trung, trước mắt chưa có tác động đáng kể nào đến tình hình sản xuất, nông sản của nhân dân, tuy nhiên nếu nắng nóng kéo dài mà không có mưa thì mực nước các sông sẽ xuống nhanh, ảnh hưởng việc tưới tiêu những cánh đồng vùng hạ lưu. Sông Hương và sông Hàn là nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho 2 thành phố lớn ở miền Trung: Huế, Đà Nẵng, gần như năm nào cũng bị nhiễm mặn nghiêm trọng, tuy nhiên đến nay, hiện tượng nhiễm mặn chưa xảy ra.

Kỹ sư Nguyễn Hữu Hải - Trưởng phòng Dự báo vừa và dài hạn - Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn T.Ư cho biết: "Đây là đợt nắng nóng đầu tiên trong năm nhưng cũng không có gì bất thường, có thể kéo dài tiếp vài ba ngày tới với nhiệt độ cao nhất khoảng 37oC. Các khu vực chịu ảnh hưởng của đợt nắng nóng này là Đồng bằng Bắc Bộ (Hà Nội, Nam Hà, Nam Định, Ninh Bình), Trung du Bắc Bộ (Phú Thọ) và các tỉnh Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ (Thanh Hoá, Nghệ An...). Các tỉnh Tây Nguyên và phía nam không bị ảnh hưởng đợt nắng nóng này, hiện đã  bắt đầu mùa mưa. Theo dự báo, thời tiết năm nay mang tính chất trung tính, nên có thể ít xảy ra những biến động lớn". Người dân có thể tham khảo những thông tin dự báo thời tiết ngắn, trung, dài hạn theo trang web http://www.nchmf.gov.vn.

 

 
Xứ Huế, người Huế PDF In E-mail
21/06/2004

 

Vùng đất này là lợi địa của một thế kỷ rưỡi vương triều và như vậy đã xây đắp những giá trị tập truyền, hình thành những nếp gấp trong suy nghĩ, đời sống, phong cách ăn và mặc, nói năng, ứng xử...

Các vương tôn công tử, do giáo dục trong hoàng tộc hoặc từ trong gia đình, thể hiện một phong cách sống lắm lúc không thật sự tự nhiên mà phải luôn giữ kẽ, nhất là khi ra mắt công chúng, phải giữ một vẻ bề ngoài phần nào xa cách, hay cao cách, tối thiểu là kín đáo, ung dung, không bộc trực, bộc phát, và ngay cả đến thời thất thế, sa cơ vẫn “giấy rách phải giữ lấy lề”.

Kinh đô Huế làm nảy sinh nơi người dân một phong cách mà người ta nương tình gọi là “đài các”, tức là một vẻ cao sang mơ hồ nào đó, nhưng cái đài các này không khu biệt trong vòng hoàng thành mà còn lan tỏa trong dân gian. Từ cái đài các ấy còn rẽ riêng một nét tinh mà người tại chỗ gọi là tính “đài đệ”, có nghĩa là một sự giữ kẽ, giữ ý, và luôn cả một tính cách mà người ta gọi là “đế đô”. Khi người mẹ mắng con gái “đừng có đế đô!” thì có nghĩa là đừng có đòi hỏi, đừng với cao, đừng học làm sang.

Cái tính “đài đệ” được thể hiện rộng rãi, tràn lan, chẳng hạn ở chiếc áo dài mà có lẽ Huế là nơi được mang mặc nhiều hơn cả. Cho đến những năm 1970, người nữ ở Huế ra khỏi nhà là mặc áo dài, kể cả chị tiểu thương ở chợ hoặc bà bán hàng rong. Thậm chí nhiều bà danh giá đi ngủ vẫn mặc luôn áo dài.

Thiếu nữ Huế thường là kín đáo, không bộc lộ tâm tình cho người khác biết, có khi là e ấp, cũng có khi là ỡm ờ. Trong hai câu thơ của Đông Hồ nhắc đến cô gái Huế: “Gió chiều vương áo nàng Tôn Nữ, quai lọng nghiêng vành chiếc nón thơ”, ta cảm thấy các món trang sức như tà áo, chiếc nón, bài thơ trong nón đều góp phần tạo nên nét duyên e ấp của “nàng Tôn Nữ” và nàng Tôn Nữ ở đây dùng để chỉ chung các thiếu nữ Huế. Một tác giả Pháp chấm phá dung nhan này như sau: “... Các cô gái Huế kiêu sa và dễ làm ra vẻ khinh khỉnh, họ là đám hậu sinh của các phi tần không bao giờ quên rằng một giọt máu thiên tử đang chảy truyền trong huyết quản của mình” (Jean Hougron, Soleil au ventre, trang 67).

***

Trong khi sông Hồng và sông Cửu Long đi vào địa lý và hiên ngang đi vào kinh tế, thì sông Hương êm đềm đi vào thơ nhạc. Văn hóa nghệ thuật là một cõi mênh mông, rất ít tính chất thực tế, nhưng làm đẹp cho đời, giống như bông hoa trong đời sống.

Sông Hương hiển nhiên như đóa hoa tô điểm cho thành phố. Không có con sông nào làm hao tốn giấy mực cho bằng sông Hương. Không có con sông nào làm tuôn trào suối nhạc cho bằng sông Hương. Và cũng chính nó là nguyên ủy cho sự ra đời của bao nhiêu hiệp hội ái hữu, đồng hương với nó ở trong nước cũng như ở hải ngoại.

Như ta vừa nói, sông Hương đã khơi nguồn cho nhiều suối thơ. Nó cắm được nhiều điểm lưu khách, nhiều bến sông hữu tình dễ neo thuyền. Một số lớn các chúa, các vua, các vương, các hoàng thân công nữ đã chấm bút vào nghiên thơ. Các thi xã, hội thơ, thi đàn nối tiếp nhau ra đời.

Về lĩnh vực thơ của các tôn thất, hãy khoan nói đến chất lượng có cao như lời khen tặng của vua Tự Đức chăng, hay là ngược lại, có thấp như lời phê nghiêm khắc của Cao Bá Quát, ta chỉ cần ghi nhận rằng thi ca trở thành một sinh hoạt tinh thần rộng khắp, cho già trẻ trai gái, cho mọi nghề, mọi nhà, như thể là một sinh hoạt bình thường hằng ngày, giống như người ta hít thở không khí vậy.

Tuy nhiên, cũng chính con sông Hương mà người ta dễ tưởng là suốt đời lặng lẽ ngoan hiền ấy hằng năm vùng dậy quẫy nước tràn bờ. Bởi Huế không những nổi tiếng nắng nóng mùa hè, nó còn nổi tiếng về lụt lội nhiều lần trong năm và những lúc ấy nước sông đục ngầu, dữ dội, có khi chảy ngược dòng. Nước sông cuồn cuộn ấy, dù là trái ngược hẳn với thường ngày, vẫn đúng là hình ảnh của sông Hương, là lòng dạ sâu thẳm của nó đã lộ diện, là bộ mặt bổ túc vào bộ bộ mặt thường bắt gặp của nó.

Tóm lại, nắng cháy với mưa dầm bão lụt, ấy là Huế. Nước chảy lờ đờ và nước phăng phăng cuồn cuộn, ấy là sông Hương. Người thiếu nữ nghiêng nón dạ thưa nhưng yêu thương say đắm, dữ dội, ấy là con gái Huế.

Người Huế thường phản ứng chậm. Vẻ bề ngoài và hành động không hô ứng tiếp liền nhau. Hay nói cách khác, giác quan tiếp nhận cảm giác và nội tâm cứ hành hai nhịp khác nhau và giữa hai nhịp đó là một khoảng dành cho nụ cười, tiếng dạ thưa, sự e dè, cân nhắc. Đó là một loại “phản ứng hẹn giờ”, nhưng một khi phản ứng phát ra, nó có tính cách dứt khoát, không vãn hồi. Đó là nét tinh Huế mà người ta gọi là “thâm trầm”, “thâm thúy”.

Nếu không có lịch sử sẵn chực những bằng chứng cụ thể, hùng hồn thì ít ai ngờ rằng cái đất Huế trầm mặc này lại có thể là sân khấu phát động, châm ngòi những biến cố lớn của đất nước từ trong lòng những học sinh sinh viên chăm học hoặc những chị tiểu thương hiền lành tần tảo. Hóa ra đất Huế là đất nuôi trồng những thái cực, và con người xứ Huế để ra cả một đời mình để gỡ rối mớ bòng bong tâm lý và mâu thuẫn nội tâm này.

Con người Huế làm nên Huế là những con người đi ngược lại những thuộc tính ban đầu của vùng địa lý. Nó vật lộn thường trực với những mố giằng co tâm lý.

***

Trịnh Công Sơn trong ca khúc Diễm xưa có nói tới một loài chim di. Chim di là một loài chim di trú, không định cư tại một nơi chốn, tùy theo mùa xoải cánh đi tìm nơi khí hậu ôn hòa.

Người dân Ô Lý chất chứa trong tâm khảm mình một món nợ tinh thần đời đời với công chúa Huyền Trân ngày xưa đã vùi quên tuổi thanh xuân của mình mưu cầu hạnh phúc cho người khác. Đó là một sự lưu đày biệt xứ nhưng tự nguyện và vị tha.

Nó đã ghi dấu sâu đậm vào ca nhạc của xứ sở này. Cái hơi “ai” của ca Huế không hẳn là sầu bi nhưng đầy hoài bão, vừa tự sự mà vừa khơi dậy mạch tình bắt nguồn từ xa xưa, hòa tan vào huyết mạch, hầu như khó lòng truy cứu, khó lòng giải mình. Nó như thể một loại tình cảm nguồn cội, lắng sâu, dằn lòng xuống kết tạo thành một trọng lượng của tâm hồn. Sợi dây tình cảm này trói buộc bước chân con người, níu kéo con người không cho nó rời xa cái phố đẻ của nó.

Người ta bảo đất Thừa Thiên này vừa là vườn ươm vừa là bệ phóng nhân tài, cũng có nghĩa nơi đây vừa là địa điểm đào tạo, rèn luyện con người vừa là môi trường thiên nhiên hun đúc bồi dưỡng tư chất cho tuổi thanh niên, lập nghiệp để rồi sau đó đàn chim rời tổ bay xa.

Người con của Huế cảm thấy khó lòng rời xa bàn thờ tổ tiên hoặc cõi nhà vườn của mình. Tuy nhiên vẫn có cảm nghĩ chưa bỏ nhà ra đi vẫn chưa viên thành vận số của mình. Và một khi xa xứ, bắt đầu nảy nở trong tâm thức kẻ ly hương một loại tình cảm mới: tình cảm hoài hương. Loại tình cảm này có tính cách siêu hình, thâm sâu như tình con với mẹ, nó âm ỉ như mạch ngầm, như than hồng vùi dưới tàn tro. Xin đừng xem đó là một thứ tình cảm nhi nữ thường tình, ủy mị. Nó vừa giúp con người không quên nguyên quán của mình, vừa thôi thúc con người sống chẳng phải cho bản thân , mà cho một vận hội chung, có tính vị tha, hướng thượng. Trong nhận thức ấy, con người lưu vong gầy dựng hội đoàn, tập thể ái hữu hướng vọng về quê hương, xem đó như những ốc đảo tình cảm giữa đời sống mênh mông.

***

Người Pháp thường tự hào về văn hóa văn minh của mình. Sự tự hào này thường là kín đáo, nhưng cũng có khi bộc lộ, đặc biệt khi họ đề cập đến tiếng Pháp, nền giáo dục của họ với những đại học cổ kính và các văn bằng, các giải thưởng văn học nghệ thuật, các thiết chế văn hóa (các viện hàn lâm, viện bảo tàng, nhà bi kịch, kịch nghệ...), các công trình phúc lợi xã hội (công viên, giao thông...), các nghệ thuật ẩm thực...

Các quốc gia khác cố tìm ra những điểm nhược trong văn hóa văn minh ấy để cười cợt cái mà họ gọi là sự “khác người” ấy (exception francaise) của người Pháp.

Hình như người Huế cũng đang mắc bệnh này và có xu hướng tự cho mình là “khác người” hay “hơn người” ở mặt này mặt khác, và luôn cả trong sự tụt hậu, hay luôn cả trong sự nghèo thiếu. Cái câu mà ai nấy thường nghe là “không nơi nào có được” thường bày ra hai mặt mà, khổ nỗi, mặt tiêu cực thường lấn lướt.

Vậy cho nên, vấn đề còn lại đối với người Huế là chữa cho được bệnh này hoặc làm cho căn bệnh lạm vào bên trong không nguy hiểm, và muốn được vậy, hơn lúc nào hết, cần có nội lực thâm hậu.

(Tuổi trẻ)

 
Bình Thuận: 85 người ngộ độc vì ăn mực túi, 3 người chết PDF In E-mail
21/06/2004

Nhiều hộ gia đình ở thôn 2, thị trấn Ma Lâm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận đã bị ngộ độc sau bữa cơm trưa ngày 19.6 có món mực túi mua tại chợ Tầm Hưng trong huyện.

Trong bốn giờ đồng hồ, từ 16 đến 20 giờ cùng ngày đã có 85 người bị ngộ độc phải đưa đi cấp cứu tại BV Đa khoa Bình Thuận, trong số đó có một người đã chết trên đường cấp cứu và 2 người chết tại bệnh viện. Các nạn nhân bị triệu chứng: Tê chân, tay, môi và nhức đầu...Có gia đình cả 7-8 người bị ngộ độc. Đến chiều 20.6, một số nạn nhân đã qua cơn nguy kịch. Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh đã thu giữ các mẫu thực phẩm để xét nghiệm tìm nguyên nhân. Cách đây hơn hai tháng, Báo Lao Động đã có tin cảnh báo về ngộ độc do ăn mực túi tại Bình Thuận.

Theo nhiều cư dân biển, khoảng từ tháng 4 trở đi vùng biển Bình Thuận xuất hiện nhiều đàn mực túi-bạch tuộc con-có thân tròn to cỡ ngón chân cái, thức ăn chủ yếu của chúng là trứng cá nóc, chính vì thế người dân ăn phải dễ bị ngộ độc. Trên thực tế, tại Bình Thuận đã từng có một số vụ ngộ độc, chết người vì ăn loại mực này, nhưng vụ xảy ra ngày 19.6 tại thị trấn Ma Lâm là lớn nhất từ trước tới nay.

(Thanh Niên)

 
Ông Đàm khiếm thị làm giàu bằng... cây cảnh! PDF In E-mail
21/06/2004

Ông Đàm đang đẽo đá làm hòn non bộ

Chơi cây cảnh là nghề lắm công phu. Người bình thường còn khó, còn người khiếm thị, chơi cây cảnh là chuyện xưa nay hiếm. Thế mà có thật, ông tạo ra những thế cây, hòn non bộ độc đáo chẳng khác gì nghệ nhân khác. Ông là Trần Văn Đàm ở 91/5 kiệt 20 đường Lê Đình Chinh, TP Huế.


Đi hát rong kiếm tiền sinh sống...

Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo, quanh năm đối mặt với cái nghèo, ông đã thầm tự nhủ, mình sẽ phải làm cái gì đấy để thay đổi cuộc đời. Năm 1981, lúc ông đang ở trong lứa tuổi 24 hừng hực khao khát làm giàu, cùng nhiều thanh niên khác trong làng đi khai hoang vùng kinh tế mới. Nhưng tại nạn đã ập xuống, một quả bom còn sót lại của chiến tranh trên vùng đất hoang ngày ấy đã biến ông trở thành người tàn tật.

Tai nạn năm đó đã vĩnh viễn cướp đi của ông đôi mắt, bàn tay trái và bàn tay phải chỉ còn 3 ngón. Đối với một thanh niên đang trong lứa tuổi tràn đầy sức sống, ước mơ và hoài bão mà phải mất đi đôi mắt thì không có nỗi đau nào bằng. Nhưng ông Đàm đã vượt qua mặc cảm của bản thân, đã đứng dậy trên đôi chân của mình. Không muốn mình là gánh nặng của gia đình, ông quyết định lên Huế kiếm sống bằng nghề hát rong. Chính tiếng hát ẩn chứa nhiều nỗi niềm của đã lay động lòng người, và ông có thể sống qua ngày bằng việc đem lời ca tiếng hát của mình phục vụ cho mọi người. Và cũng trong quãng thời gian này, ông gặp được người phụ nữ của đời mình - một người vợ hiền thảo, chịu thương chịu khó, sẵn sàng cùng ông vượt qua những khó khăn gian khổ trong cuộc sống.

Lập gia đình rồi, ông Đàm nhận thấy rằng nghề hát rong không thể đem lại cho gia đình nhỏ bé của mình một cuộc sống ổn định và hạnh phúc. Và trong đầu ông lại dậy lên khao khát làm giàu ngày nào...

"Có công mài sắt...”

Làm gì để ít vốn, nhưng vẫn có thể thu lời, lại có thể tận dụng khả năng của riêng mình, suy nghĩ đó mãi thôi thúc ông Đàm. Ông nhớ những ngày xưa, thường được xem nhiều nghệ nhân trong làng uốn cây cảnh, làm hòn non bộ, ông đã từng một thời rất mê mẩn nghề này. Và ông quyết định, sẽ thử sức trong lĩnh vực cây cảnh. Quyết định đó làm cho người thân và những người quen biết ông bị sốc. Người thương ông thì ái ngại cho ông, người ghét thì bảo... khùng. Chơi cây cảnh đòi hỏi người chơi phải có một mắt nhìn nghệ thuật khác người, thì mới có thể tạo ra những thế cây độc, bắt mắt. Nhưng với một người lắm tật nguyền như ông, thì chuyện chơi cây cảnh là... không tưởng.

Nghĩ là làm cho bằng được, ông bỏ ngoài tai những lời can ngăn, khuyên bảo và cả những lời dị nghị chê bai. Những ngày đầu, ông lấy xà beng đi đào gốc mưng cổ thụ về trồng. Ông hý hoáy đào, dò dẫm từng bước, sờ gốc cây nào có cảm giác to sần sùi là đào cật lực bằng bàn tay chỉ còn ba ngón. Những ngón tay còn sót lại của ông có những lúc tứa máu vì bị gốc cây đâm. Không những vậy, ông sai bét vì đem về nhà toàn gốc cây tạp. Ai cũng cười. Ông tự ái, bắt vợ đi hái lá mưng về cho ông phân biệt. Rồi ông cũng phân biệt được các loại lá khác nhau.

Không những thế ông còn tự đúc chậu để phục vụ cho mình. Lúc đầu cũng hỏng, nhưng không đáng bao nhiêu. Ông lân la khắp hang cùng ngõ hẻm để học hỏi kinh nghiệm. Có sách hướng dẫn trồng cây cảnh ông nhờ người đọc cho nghe để học tập “Tui quyết chí mần giàu cho con cái bằng cách khác người ta. Người lành chơi cây cảnh là đương nhiên. Tui mù chơi cây cảnh thì gặp nhiều cái khó, nhưng khó mấy tui làm cũng được. Họ trồng mỗi cây một tiếng, tui trồng một buổi cũng không chi!”.

Kiên trì mãi rồi ông cũng làm được, rồi ông mạnh dạn vay vốn ở hội người mù để kinh doanh. Từ tay trắng, bây giờ vườn cây của ông gồm mai, sung, mưng, bonsai... có giá trị những mấy trăm triệu. Bây giờ ông rất có tiếng tăm trong giới chơi cây cảnh ở Huế.

Chuyện ông Đàm chơi cây cảnh theo lời nhiều người là “đã làm cho người sáng mắt sáng mắt ra”... Nhiều người đến mua cây cảnh rất tin tưởng vào sự chu đáo của ông. Nhiều chủ vườn thuê ông chăm chút vườn kiểng nhà họ. Nhiều người nhờ ông chăm sóc đã 10 năm nhưng không một lời phàn nàn. Giới chơi cây cảnh Cố Đô mỗi khi nghe nhắc đến Đàm mù, ai cũng khâm phục, xem ông như một hiện tượng. Âu cũng là thành quả xứng đáng dành cho ông già khiếm thị mê cây cảnh!

 

(Thanh Niên)
 
“Biến tấu” với gáo dừa PDF In E-mail
19/06/2004

Búp bê và chim cánh cụt.

Đèn ngủ bằng gáo dừa.

Các sản phẩm từ gáo dừa của nghệ nhân Nguyễn Văn Tiếu ở Nha Trang có sức thu hút du khách do nét đẹp độc đáo và tinh tế. Nhiều khu du lịch, khách sạn đã đặt hàng nhiều vật dụng từ gáo dừa của ông.

Có thể nói ông Nguyễn Văn Tiếu (72 tuổi) là nghệ nhân chế tác hàng mỹ nghệ bằng  gáo dừa nổi tiếng nhất Nha Trang hiện nay. Trong nhà ông có tới hàng trăm mẫu hàng mỹ nghệ lớn bé, từ đơn giản tới phức tạp cầu kỳ từ gáo dừa. Trong đó chỉ riêng mặt hàng đèn ngủ có gần 50 mẫu khác nhau. Ngoài ra rất nhiều chủng loại hàng mỹ nghệ như tượng búp bê, con vật, bầu rượu, bình trà, xúc xắc... cho tới tranh, câu đối khảm gáo dừa...

Cái hay và rất độc đáo trong hàng mỹ nghệ chế tác của ông Tiếu là tính ngẫu hứng, tự nhiên cùng nét tinh tế của nghệ thuật rất cao. Chiếc mặt nạ hề, tượng búp bê, con chim cánh cụt có miệng, mũi chóp mỏ nhọn đúng với nguyên bản có từ vật liệu gáo dừa của dừa xiêm già vốn rất khó kiếm trong thiên nhiên, và nghệ nhân phải rất công phu sưu tập, chọn lựa... Sản phẩm tạo nên thường không thể "nhân bản" hàng loạt theo kiểu sản xuất bình thường. Chính vì thế, khách hàng khi mua đều rất thú vị và tự hào về món hàng của mình là không có "bản sao".

Đồ vật bằng gáo dừa.

Đèn ngủ bằng trúc.

Ông Tiếu kể rằng từ thời trai trẻ ông đã được học qua một lớp hướng dẫn do Hội Giải trí quốc tế tổ chức. Ông say sưa "chơi" với gáo dừa bởi nó sẽ đáp ứng tới vô cùng trí tưởng tượng và bàn tay khéo léo của con người. Ông Tiếu đã chế tác ra bao sản phẩm như trong cuộc chơi của một nghệ nhân (và chính ông là hội trưởng Hội Cây cảnh - non bộ Khánh Hòa), ngẫu hứng và phong phú theo ý thích của mình. Chỉ đến khi quần thể khách sạn Anna Madra bốn sao mời ông cung cấp toàn bộ các đồ vật, vật dụng mang tính dân tộc bằng vật liệu gáo dừa thì sản phẩm của ông mới ra thị trường. Khu du lịch Sông Lô đang xây dựng cũng đã đặt ông trang bị toàn bộ nội thất từ đèn ngủ, đèn chùm, khay, chén, muỗng, bảng thực đơn cùng các sản phẩm mỹ nghệ khác như chuông gió, bình trà, bình rượu… bằng vật liệu gáo dừa và trúc.

Ước muốn của ông là có một nơi vừa trưng bày sản phẩm vừa là nơi nghệ nhân sản xuất. Đó mới thật đúng với ý nghĩa làng nghề và tạo được hứng thú cho du khách.

(Tuổi trẻ)

 
Một bệnh nhân nuốt hơn 30 dị vật vì… đói PDF In E-mail
18/06/2004
Những di vật do bệnh nhân An thải ra.

Qua chụp X-quang, các bác sĩ Bệnh viện Trung ương Huế phát hiện rất nhiều dị vật trong ổ bụng của bệnh nhân Tăng Thái An, gồm các vật bằng kim loại có thể gây thủng ruột như: dao lam, dao bấm, kim khâu giày, đồng hồ, thanh sắt, đá, pin, bật lửa, ống kim tiêm…

Bệnh nhân An, 43 tuổi, quê ở huyện Cam Lộ (tỉnh Quảng Trị), bị bệnh tâm thần phân liệt đã 15 năm nay. Ngày 6/6, anh ta đã phải nhập viện trong tình trạng bị đau bụng từng cơn. Qua chẩn đoán của khoa Ngoại Tiêu hóa, Bệnh viện Trung ương Huế, bệnh nhân bị bán tắc ruột.

Để điều trị ca này, ban đầu các bác sĩ dự định sẽ thực hiện phẫu thuật để lấy dị vật ra. Nhưng sau họ đã quyết định điều trị theo phương pháp thụt tháo ruột bằng nước ấm qua đường hậu môn, cùng với bơm dịch nhờn (vaselin) nong ống hậu môn.

Phim chụp X-quang ổ bụng bệnh nhân An.

Điều trị bước đầu, bệnh nhân đã “thải” ra những “hiện vật” gồm: 8 bật lửa, 5 viên đá, 1 chiếc đồng hồ, 1 cây bút bi, 3 ống kim tiêm, 2 thanh sắt (dài khoảng 7 cm, rộng 3cm), 2 kẹp tóc (dài khoảng 10 cm, rộng 2cm), 1 bugi xe máy, 1 dao bấm, 1 lưỡi lam, 1 phích cắm điện, 1 tờ giấy 5.000 đồng và 7 viên đá nhỏ.

Đến hôm qua, tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân An đã hoàn toàn bình phục và đang làm thủ tục ra viện. Anh ta cho biết, đã nuốt các dị vật trên vì… đói bụng, ăn vào có cảm giác như ăn cơm, và không thấy đau ở vùng cổ họng khi nuốt. Các bác sỹ nhận định đây là một trường hợp khá đặc biệt. Thông thường khi nuốt những vật bằng kim loại sắc cạnh trên sẽ gây ra tổn thương ở đường họng và một số bộ phận ở đường tiêu hóa, nhưng ở trường hợp này bệnh nhân vẫn bình thường, không có dấu hiệu tổn thương. Bác sĩ Lê Lộc, Trưởng khoa Ngoại Tiêu hóa cũng khẳng định không phát hiện chảy máu ở bộ phận tiêu hóa qua chụp phim X-quang.

Hải Minh

 
<< Đầu tiên < Trước 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 Kế > Cuối cùng >>

Kết quả 1276 - 1290 của 1336

Viec lam, Tìm việc làm, Tuyển dụng

 
© Copyright 2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved. Contact us
® Ghi rõ nguồn "MienTrung.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.