|
|
|
Trang chính Du lịch Tin Du Lịch |
|
| |
|
|
|
Tin Du Lịch
|
01/07/2004 |
|
Chùa Diêm Điền là một di tích văn hóa thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
Tục truyền rằng: cách đây hơn 100 năm, làng Diêm Điền chỉ là một vùng ruộng, sông toàn nước mặn, chỉ có cây đước, lác và năn mọc. Dân làng sống bằng nghề bắt tôm, bắt cá và bán cây lác dệt chiếu. Mùa nóng ruộng đóng diêm thành muối. Chỉ đến khi Ngài tiên hiền họ Phạm di dân đến khai hoang, vỡ hóa mới đặt tên cho làng là Diêm Điền (làng ruộng muối) như ngày hôm nay.
Hồi đó, giếng chỉ toàn nước mặn, dân không có nước ngọt để uống. Một hôm, có một nhà sư và một chú tiểu không biết từ đâu đến chặt cây rừng dựng lên một ngôi am thỉnh phật, đêm đêm kinh kệ, ban ngày đào giếng. Cho đến khi giếng có nước ngọt thì nhà sư và chú tiểu đó lại ra đi mất dạng. Để tưởng nhớ công ơn của các vị trên, người dân Diêm Điền đã lập đền thờ các vị đó ngay tại am Phật mà nhà sư và chú tiểu đã từng an tọa.
Chùa Diêm Điền được xây dựng vào khoảng năm 1850, theo lối kiến trúc cung đình nhiều lớp trang nghiêm. Chung quanh chùa có tường bao bọc, giữa có cửa tam quan chạm trổ công phu. Chùa hướng về phía đông nam, tọa trên một gò đất cạnh rừng thật cao và rất rộng. Ngày nay, cả thôn Diêm Điền vẫn còn uống nước giếng duy nhất cạnh chùa, thường gọi là giếng chùa. Phía Bắc chùa có mộ ông tiên hiền họ Phạm. Ngôi mộ này trong chiến tranh tuy không đắp nhưng vẫn cao. Người làng thường kể, trong chiến tranh, đêm nào có ánh sáng như sao gần mộ thì sau đấy có giặc đến, cứ vậy mà dân làng biết để chống càn.
Quý khách đi du lịch Quảng Ngãi, thăm chùa Thiên Ấn, tắm biển Mỹ Khê, xem chứng tích Mỹ Lai, đến Ba Tăng nhìn dấu chân " ông Khổng Lồ" còn in trên đá, xem địa đạo Hố Toái, Bình Châu thì cũng nên dành ít thời gian thăm chùa Diêm Điền. Quý khách sẽ tận mắt nhìn ngôi am diện tích không quá 20m2, vừa mới dựng thay ngôi am cũ đã bị cháy. Quý khách sẽ mua hạt sen chùa Diêm Điền, vừa thơm ngon vừa bổ làm quà cho người thân. Con gái làng Diêm Điềm tuy dãi nắng, dầm mưa nhưng ăn hạt sen và uống nước giếng chùa nên da cô nào cũng mịn và trắng. Người dân Diêm Điền cũng rất hiếu khách, họ luôn sẵn lòng kể cho quý khách nghe về lịch sử chùa Diêm Điền cũng như lịch sử về vùng đất Diêm Điền của họ. Quý khách sẽ cảm nhận được không khí cởi mở, chân thành khi đến nơi đây.
Có điều quý khách sẽ không tránh khỏi ngạc nhiên là chùa không hề nhận một khoản tiền nào của khách thập phương dù ít hay nhiều vì dân địa phương muốn để công sức của chính mình tự đóng góp xây dựng lại ngôi chùa khi được phép. Nghe thật nghịch lý nhưng đó lại là cái lý rất đáng thương đáng trọng của người dân nơi ruộng đồng sông nước đã gánh chịu quá nhiều gian khổ. Họ muốn thực hiện câu ca dao địa phương do chính họ đặt ra:
Quý khách đã đến Diêm Điền. Viếng chùa càng quý viếng tiền xin lui. Chùa quê nghèo thật, xin người. Đốt hương niệm Phật hoa tươi, hương đèn.
(Sưu tầm)
|
|
|
01/07/2004 |
|
Ðến Ðà Lạt, nhiều du khách không khỏi kinh ngạc trước vẻ đẹp của đồi núi chập chùng, đặc biệt là đỉnh Lang Bian hùng vĩ (còn gọi là Núi Bà) cao 2.169m, cùng rặng BiÐúp, mặc dù ngày nay Lang Bian thuộc về huyện Lạc Dương.
Trong các truyền thuyết, thần thoại của các dân tộc thiểu số ở Ðà Lạt 3 rặng núi : Lang Bian, núi Khổng lồ (Nhút), và BiÐúp có mối quan hệ mất thiết với nhau và thường là nguồn cảm hứng sáng tác của nhiều văn nghệ sĩ. Riêng ngọn Lang Bian là hiện thân của mối tình trong trắng, thủy chung của một đôi uyên ương dân tộc thiểu số bản địa. Họ quyết định chọn cái chết để phản đối luật tục khắc khe và đi đến thống nhất các bộ tộc Lạch, Chil, Srê... thành dân tộc K’Ho.
Chuyện kể rằng (*) : Ngày xưa, xưa lắm, vùng La Ngư Thượng tức Ðà Lạt bây giờ đất đai phì nhiêu, cây cỏ tốt tươi, quanh năm khí hậu ngọt ngào như mùa thu. Thuở ấy, các bộ tộc ít người còn sống riêng rẽ và thỉnh thoảng vẫn xảy ra những cuộc tranh chấp về vùng đất, vùng đồi hoặc phong tục. Trên vùng Cao nguyên xinh đẹp này có 2 bộ tộc mạnh nhất là Lạch và Srê. Tộc Lạch có một tù trưởng khỏe mạnh, đẹp trai, giàu lòng thương người và có tài chinh phục thú rừng, đó là chàng Lang. Một hôm, trong bản làng có hai con voi đi lạc từ vùng La Ngư Hạ lên, rất hung dữ. Hàng chục người Lạch vây hãm mà vẫn không triệt hạ nổi. Khi Lang từ rẫy về, thấy vậy vội ra hiệu cho họ nghỉ tay, một mình chàng tìm cách chinh phục đôi voi. Sau một hồi giao đấu, Lang nắm được đuôi hai con voi liền cột chặt vào nhau làm chúng không đủ sức kháng cự nữa. Chàng bắt cả 2 quỳ xuống hàng phục. Lang không đánh đập khi chúng đã thua mà tìm lời ngọt ngào khuyên nhủ:
- Ta tha chết cho 2 ngươi... bây giờ phải về làng cũ kẻo dân làng mong tìm. Từ đây không được phá phách nữa.
Hai con voi cảm động rơi nước mắt, lặng lẽ bước đi ngoan ngoãn. Từ đó Lang nổi tiếng là một dũng sỹ nhân ái được cả cầm thú và bộ tộc thương yêu, kính trọng.
Năm tháng dần trôi, Lang đã 20 tuổi mà vẫn chưa có vợ vì không có một thiếu nữ nào trong buôn làng cảm thấy xứng đáng bắt Lang làm chồng. Hơn nữa, Lang đang gởi trái tim mình cho một người con gái của bộ tộc khác là nàng Bian kiều diễm, con gái của tù trưởng KZềnh, thuộc bộ tộc Srê. Bian xinh đẹp thông minh và khiêm tốn. Những ngày vào rừng hái trái, kết hoa thì thiên nhiên, cây cỏ dường như tươi vui, thắm thiết hơn, chim rừng xôn xao hót líu lo. Những con thú hiền lành quây quần săn đón nàng. Các loài thú dữ thường lẫn tránh. Tuy nhiên, cũng chính vì vẻ đẹp rực rỡ đó mà hai con rắn hổ tinh đem lòng ghen ghét, tìm cách mưu hại Bian.
Một hôm nọ, lũ làng Srê theo Bian đi hái quả, khi đến thác Ða Tanla - nơi các tiên nữ thường hay xuống tắm, 2 con rắn hổ tinh liền chặn đoàn người lại và tấn công, dưới sự giúp sức của 2 con cáo già và 7 con chó sói! Trong lúc Bian và lũ làng sắp bị chúng làm hại thì dũng sĩ Lang xuất hiện:
- Hỡi bọn độc ác, các người không được hại người lương thiện.
Thế rồi, Lang nhảy vào vòng chiến. Bầy chó sói và rắn tinh quây quanh chàng. Cuộc chiến đấu mỗi lúc một ác liệt. Cuồng phong nổi lên dữ dội. Cây rừng gãy đổ ào ào. Mặt trời chệch về hướng Tây, xuyên qua kẻ lá làm nổi bật hai cánh tay rắn chắc của người dũng sĩ. Khi hai con rắn tinh lè lưỡi, nhanh như chớp dũng sĩ Lang dùng xà gạc phớt nhanh vào đó, chúng rú lên thảm thiết. Cuối cùng, chàng đã dùng cung tên bắn vào bầy dã thú, chúng kêu lên đau đớn và bỏ chạy hoảng loạn làm náo động cả một khu rừng.
Lang đi gọi đoàn Srê và nàng Bian đến. Nàng e lệ cảm ơn chàng. Từ đó dũng sĩ Lang và nàng Bian xinh đẹp, dịu hiền yêu mến nhau, cho dù khác bộ tộc và họ ở cách xa nhau mấy con suối! Có những đêm trăng sáng hai người hẹn gặp và sánh vai nhau đi dạo trên những quả đồi ở vùng La Ngư Thượng. Mỗi lần như vậy Bian thường nhắc đến buổi gặp gỡ ở thác Ða Tanla. Tin Bian yêu thương dũng sĩ Lang lan truyền rất nhanh trên Cao nguyên. Chỉ mấy lần trăng tròn, các bộ tộc vùng La Ngư Thượng đều hay tin con gái của tù trưởng KZềnh sẽ bắt chồng là tù trưởng của bộ tộc Lạch, nhưng đám cưới của Lang và Bian không thành vì ông KZềnh nói:
- Bạp (cha) không chấp nhận. Tục lệ của bộ tộc ta không cho phép bộ tộc người Lạch được nhận vào người Srê.
Bian nài nỉ:
- Bạp là tù trưởng, Bạp có thể thay được tục lệ mà. Người Lạch cũng là người, sao không bắt chồng được?
Ông KZềnh cương quyết:
- Trước đây người Lạch và Srê có thù oán, cho nên con gái Srê không bắt chồng người Lạch. Yàng (Trời) đã ghi trong luật tục. Bạp không có quyền thay đổi.
Bian khóc nức nở:
- Thế thì Bian không bắt ai làm chồng nữa đâu. Bian sẽ trọn đời mang chiếc vòng cầu hôn của Lang.
Ngày hôm sau, Bian vượt qua nhiều cánh rừng để báo tin cho Lang biết, đám cưới của họ không thành. Lang buồn rầu nói:
- Ta biết hiện nay giữa các bộ tộc có nhiều luật tục vô lý mà. Chúng ta phải chống lại kẻ độc ác và những oan nghiệt ấy, Bian ạ vì nó đã làm cho ta đau khổ.
Bian im lặng, cúi đầu. Nước mắt nàng tuôn trào hòa vào con thác, dòng suối trên Cao nguyên khiến chúng gầm réo suốt ngày đêm như khóc than cho mối tình tuyệt vọng của hai người.
Lang và Bian ngồi yên lặng bên nhau trên đỉnh núi, hết ngày này sang ngày khác, mặc cho đêm xuống, nắng lên, sương tan, bóng xế. Họ quyết định ở bên nhau cho đến chết. Thế rồi, sau một đêm mưa gió bão bùng cả hai người đã qua đời. Tin chàng Lang và nàng Bian gục chết bên nhau để phản đối lại luật tục khắc khe, sự thù oán vô cớ giữa hai bộ tộc Lạch và Srê chẳng mấy chốc được lan truyền khắp núi rừng vùng La Ngư Thượng. Cái chết của chàng Lang và nàng Bian khiến các bộ tộc đều xót thương. Họ kéo nhau đi thành đoàn dài từ thung lũng này sang thung lũng nọ. Ông KZềnh vô cùng ân hận, bèn đứng ra kêu gọi bộ tộc Lạch, Chil, Srê hợp nhất thành dân tộc K'Ho, xóa bỏ mọi hiềm khích trước đây và cho phép con trai, con gái giữa các tộc họ được lấy nhau để sinh con đẻ cái. Mọi người quyết định lấy ngọn núi cao nhất vùng Cao nguyên xinh đẹp này để chôn cất hai người và đặt tên là Lang Bian. Từ đó, mỗi năm các bộ tộc lại tụ họp về đây để cúng tế ăn trâu, uống rượu cần và đắp mộ cho hai người. Do đó, ngọn Lang Bian mỗi ngày một cao thêm và là biểu tượng cho sự hòa hợp, thống nhất giữa các tộc dân vùng La Ngư Thượng.
Người Lạch còn kể thêm rằng : Yàng cảm thương sự chung thủy của Lang và Bian nên cử một vị thần xuống trần gian chăm sóc cho hai ngọn núi nói trên. Và thần này được đặt tên là thần Lơm Biêng. Thần Lơm Biêng đắp cao ngọn Lang Bian làm trụ trời. Ðây cũng chính là nơi định cư cho dân tộc Kho Lạch. Ngày nay, nhiều già làng người Lạch kể về sự tích núi Lang Bian thường kể về phần hai, tức là phần thần Lơm Biêng xây trụ trời.… Thần Lơm Biêng khi xây có nhờ hai người bạn giúp sức: đó là ông Khổng lồ (Nhút) - cũng là tên rặng núi tiếp với Lang Bian (phía trái nhìn từ Ðà Lạt - Lạc Dương) và BiÐúp. Nhưng ông này keo kiệt, tham ăn nên bị thần Lơm Biêng cho một đạp té xuống gần biển. BiÐúp theo tiếng người thiểu số có nghĩa là té ngữa.
Ba dãy núi Lang Bian, Khổng lồ, BiÐúp tuy ngày nay không nằm trong địa phận thành phố, nhưng lịch sử của nó gắn liền với lịch sử phát triển của Ðà Lạt và các dân tộc thiểu số của vùng cao nguyên tươi xanh này. Nếu có dịp du khách đứng trên Lang Bian sẽ nhìn thấy các buôn làng người Chil, người Lạch đang âm thầm, lặng lẽ bên dòng sông hay giữa các thung lũng ven những dòng suối nhỏ. Và cũng từ đây nhìn về thành phố, du khách sẽ thấy Ðà Lạt chập chùng những biệt thự, trường học, nhà thờ với tháp chuông cao vút. Cho tới hôm nay, cũng có lẽ mãi mãi về sau, Lang Bian hay núi Bà vẫn là hình ảnh sống động trong lòng các dân tộc của thành phố Ðà Lạt cũng như du khách dù chỉ là một lần chiêm ngưỡng.
(Dalatnews) | |
|
|
30/06/2004 |
|
Chùa này còn có tên gọi khác là chùa Tàu. Chùa tọa lạc tại 385 đường Khe Sanh, thành phố Ðà Lạt, do các nhà sư và Phật tử người Hoa xây dựng từ năm 1958 và được xây dựng lại vào năm 1989. Chùa Thiên Vương Cổ Sát thuộc dòng Hoa Nghiêm Tông (Trung Quốc).
Qua cổng tam quan là đến toà Từ bi bảo điện và ngay ở trung tâm này là pho tượng Ðức Phật Di Lặc cao 3m, được sơn son thiếp vàng. Phía sau 3 chiếc đỉnh bằng xi măng là Tòa Quang Minh bảo điện, là công trình kiến trúc chính của ngôi chùa này. Tòa Quang Minh bảo điện này có hình tứ giác, có cạnh 15m và chiều cao 12m. Trên đỉnh mái có hình hai con rồng được sắp xếp theo thế hồi long. Các đầu đao của 2 tầng mái trên và dưới đều có gắn các cặp lưỡng long vươn đầu ra ngoài. Về nội thất của chùa Tàu, từ lâu đã khá nổi tiếng với 3 pho tượng Tây phương Tam Thánh bằng gỗ trầm hương.
 |
Mỗi pho tượng cao 4m, nặng 1.500kg, do Hòa thượng Thọ Dã thỉnh từ Hồng Kông về năm 1958. Ngoài ra, hai bên tường phía trong Quang Minh bảo điện còn có các tranh vẽ phỏng theo các tích Phật.
Trên đỉnh đồi thông phía sau Quang Minh bảo điện là một đài cao 2 tầng. Tầng trên là một pho tượng Phật Thích Ca đồ sộ, cao trên 10m, đang tọa thiền trên đài sen. Còn tầng dưới là nơi nghỉ ngơi cho khách thập phương tới vãn cảnh chùa.
|
Cùng với các nhà thờ, chùa chiền trên địa bàn thành phố, chùa Thiên Vương Cổ Sát (chùa Tàu) là một ngôi chùa có rất nhiều nét kiến trúc cũng như trang trí nội thất in đậm phong cách Trung Quốc. Ðiều đó càng chứng tỏ rằng, mặc dù các hạng mục kiến trúc ở Lâm Ðồng không có khác biệt lớn về phong cách so với kiến trúc cùng loại ở các vùng dân cư khác, nhưng vẫn có thể nhận ra những nét rất riêng của Ðà Lạt ở các công trình kiến trúc này. Trước hết, các kiến trúc này đều chiếm lĩnh những khoảng không gian rộng rãi, cảnh quan khoáng đãng và thường tọa lạc trên những đồi cao, chứ không chen chúc nhau trong những khoảng không gian chật hẹp ở các vùng đô thị.
(Đalatnews) | |
|
|
29/06/2004 |
 |
Nằm trên đảo Hòn Tre, phường Vĩnh Nguyên, Nha Trang. Đây là một bãi tắm tự nhiên vào loại lý tưởng và đẹp nhất của Khánh Hòa, đặc biệt là độ tinh khiết của nước biển, của bờ cát cùng môi trường xung quanh. Bãi tắm trên đảo nhưng sóng thường không lớn vì hướng về đất liền, phía sau là núi Hòn Tre như bức tường thành sừng sững ngăn sóng gió đại dương.
| |
|
Xem tiếp...
|
|
|
28/06/2004 |
|
Thanh Hoá là một trong những tỉnh lớn của Việt Nam, nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc bộ với Trung bộ và Nam bộ. Phía bắc giáp tỉnh Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình. Thành phố Thanh Hoá cách Hà Nội khoảng 150 km. Thanh Hoá là một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ, nơi có nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ với trống đồng Đông Sơn là di vật độc đáo của nền văn hoá này.
Nhiều hang động đá vôi là nơi cư trú của những nhóm người cổ từ mấy ngàn năm trước. Không những thế, nơi đây còn là đất có truyền thống văn hoá lâu đời được gọi là “địa linh nhân kiệt” đã cung cấp cho đất nước biết bao danh nhân văn hoá và anh hùng dân tộc, nơi phát tích của các triều Lê, hậu Lê, nhà Hồ, chúa Trịnh, chúa Nguyễn mà dấu ấn còn ghi lại ở các đền đài, miếu, mộ, lăng tẩm, thành quách. Di tích Đông sơn nằm trên bờ sông Mã, thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hoá. Những cuộc khai quật năm 1924 đã phát hiện dấu vết văn hoá đầu tiên ở Việt Nam. Địa danh này được đặt tên cho nền văn hoá tiêu biểu cho dân tộc Vịêt Nam thời kỳ dựng nước. Văn hoá Đông sơn là nền văn hoá khảo cổ nổi tiếng của Việt Nam và thế giới, với chiếc trống đồng đầy bí ẩn.
Tiếp tục cuộc hành trình của mình, du khách đến thăm đền Bà Triệu. Tên thật của bà là Triệu thị Trinh nhưng nhân dân quen gọi là bà Triệu với lòng kính cẩn. Tương truyền, bà đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống giặc Ngô xâm lược thế kỷ thứ III giành thắng lợi. Tưởng nhớ công ơn to lớn của bà, nhân dân đã lập đền thờ ngay trên núi Gai (còn gọi là núi ải) sát quốc lộ 1, thuộc làng Phú Diễn, huyện Hậu Lộc, cách Hà Nội 137 km.
Đi qua cổng chính là đến hồ sen, hồ được kè đá bốn mặt. Tiếp theo nhà tiền đường gồm 5 gian có cột đá vuông cạnh. Sau nhà tiền đường là một khoảng sân nhỏ, hai bên là hai dãy hành lang. Cuối sân có 3 gian hậu lâu, được dựng trên mặt bằng cao hơn, dựa vào vách núi. Đối diện với đền là núi Gai. Từ đây, phóng tầm mắt ra xa, du khách sẽ nhìn thấy núi Tùng, nơi có lăng bà Triệu. Hiện nay lăng tháp vẫn còn tuy có phần đơn sơ, giản dị nhưng rất trang nghiêm. Trên đường thiên lý ra Bắc vào Nam, khách bộ hành thường dừng chân tại núi Gai để tưởng niệm vị nữ tướng anh hùng và chiêm ngưỡng cảnh đẹp. Ngoài ra du khách còn được chiêm ngưỡng nhiều di sản văn hoá nổi tiếng ở vùng như: thành nhà hồ, đền Độc Cước, đền Cô Tiên... Mỗi di tích đều ghi lại những dấu ấn lịch sử quan trọng. Rời các địa danh văn hoá, du khách đến thăm vườn quốc gia Bến En. Bến En thuộc địa phận xã Như Xuân, cách thành phố Thanh Hoá 36 km về phí Tây nam, với tổng diện tích rừng 16.634 ha, trong đó rừng nguyên sinh là 8.544 ha cùng với quần thể núi non, sông, vùng hồ trên núi với nhiều tên gọi và các huyền tích gắn liền với các địa danh.
Rừng quốc gia Bến En có nhiều sinh vật quý. Tại đây có tới 462 loài cây thuộc 125 họ thực vật, gồm những giống loài quý như lim xanh, lát hoa, chò chỉ, trai lý, bù hương... Không những thế nơi đây còn có cádc loại thú hiếm như sói đỏ, gấu ngựa, vượn đen, phượng hoàng đất... Phong cảnh rừng quốc gia Bến En đầy thơ mộng. Với hệ thống sông suối dày đặc, tạo nên vẻ đẹp thơ mộng cho khu du lịch này. Lãng mạn hơn nữa, du khách có thể tham gia các cuộc săn thâu đêm, ngồi lại nướng các bên các khe suối. Hơn nữa đây cũng là dịp để du khách tìm hiểu, nghiên cứu về các loài động thực vật quý hiếm. Thật là tiếc nếu du khách đến Thanh Hoá mà không đến thăm và tắm trên bãi biển Sầm Sơn nổi tiếng. Đây là nơi tắm tốt mà người Pháp đã biết khai thác từ năm 1906. Từ khi đưa vào sử dụng, Sầm Sơn nhanh chóng trở thành nơi nghỉ mát nổi tiếng của Đông Dương. Từ nhiều thập kỷ trước, nhiều khu biệt thự đẹp đã nổi lên, vua Bảo Đại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn cũng xây cho mình một khu biệt thự tại Sầm Sơn.
Bờ biển Sầm Sơn dài 10 km bằng phẳng và nhều hải sản quý như tôm he, cá thu, mực... Sầm Sơn có cảnh sắc thiên nhiên hùng vỹ, vùng biển bao la với những thắng tích và huyền thoại mang đậm chất nhân văn. Ngoài biển, Sầm Sơn còn có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng như hòn Trống Mái, núi Cô Tiên..
(Sưu tầm) |
|
|
28/06/2004 |
|
Đi xa một chút, khoảng 30 km về phía Tây Nam của thị xã Pleiku, bạn sẽ được thưởng thức vẻ đẹp hùng tráng của thác Xung Khoeng (thuộc địa phận huyện Chư Hơ Rông). Từ xa đã nghe thấy tiếng ầm ì, nước đổ từ trên cao 40m xuống như một dải lụa trắng ngần. Mặt thác lớn, trải rộng, tương đối bằng phẳng. Hai bên bờ thác cây cối mọc um tùm và đôi chỗ gồ cao các tán cây gỗ lớn.
Đằng sau thác, nền trời xanh thẳm cao lồng lộng.Những buổi sáng nắng đẹp, từng đám mây trắng như bông từ từ bay lên cao từ trên mặt thác gây cho cảm giác như mặt nước đang bốc khói.
Nước đổ xuống uốn cong theo triền đá mềm mại, đập vào các tảng đá nổi lên trên mặt nước tung bọt trắng xoá. Nước chảy len lỏi trong các khe đá, trên thảm cỏ xanh mướt rồi làm thành một vùng nước mênh mông sát với các vách đá bao bọc xung quanh.
Ngồi trên các tảng đá rêu phong phủ kín, ngửng nhìn lên cao, da trời xanh ngắt lồng lộng, gió thổi mát rượi, không gian tràn đầy hơi nước mơn man làn da, mắt nhìn dòng chảy và tai nghe tiếng trầm hùng đều đặn của nước xô vào vách đá. Âm thanh tưởng như không bao giờ dứt, như tiếng chuông, tiếng cồng, tiếng trống ở các bản làng đang vào ngày hội.
Thác Xung Khoeng là nơi nghỉ ngơi thú vị, ở đây chúng ta vừa được ngắm vẻ hùng tráng của thiên nhiên, vừa hít thở không khí trong lành khiến cho tâm hồn thư thái, tĩnh lặng. Nếu muốn tìm cảm giác mạnh và ham hiểu biết, có thể tổ chức một buổi leo núi.
Núi Chư Hơ Rông cách thị xã Pleiku khoảng 10 km về phía Đông Nam. Ngọn núi khá cao, có thể tới 1600m, và có cả nguồn gốc từ ngọn núi lửa đã tắt từ lâu. Do đó núi tuy cao nhưng dáng mềm mại, thoai thoải vì thế có người đã ví trái núi như “Bộ ngực kiều diễm của một cô gái trẻ”.
Quanh chân núi, đất đai phì nhiêu, cây trồng xen với cây rừng rậm rạp. Các nhà khảo cổ và dân tộc học gần đây đã khai quật được nhiều di chỉ khảo cổ của các thời kỳ đồ đá, đồ gốm...Đường lên núi tuy dốc thấp, nhưng quanh co, uốn khúc. Đất mềm để lộ các tảng đá lớn. Đôi chỗ vách đá lộ ra một khe suối nhỏ, nước chảy lặng lẽ hay một con thác dốc, nước len lỏi qua các hố sâu. Cây cỏ trên đường đi thật đa dạng. Các mảng cây lá rộng thường xanh, mọc xen với các loài cây rụng lá theo mùa, làm cho cảnh trí luôn thay đổi trên mỗi bước đi. Núi Chư Hơ Rông đang là địa điểm thu hút đông đảo khách du lịch đến tham quan.
(TCDL) |
|
|
28/06/2004 |
|
 |
Di tích Trà Kiệu, làng Trà Kiệu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 45 km về phía tây nam, di tích nằm trên một dải đồng bằng, là cửa của một thung lũng rộng hình tam giác, các ngọn núi: Chóp Xôi, Núi Chúa, Núi Ðất... nối liền nhau tạo nên hai bức tường thành tự nhiên bảo vệ hai cạnh phía tây bắc và tây nam của thung lũng. Trong thung lũng, làng mạc đông đúc dân cư, ruộng đồng tươi tốt. Vượt qua một dãy núi thấp phía tây nam là đến thung lũng Mỹ Sơn, thánh địa nổi tiếng của Vương quốc Champa. |
Các học giả Pháp C.Paris và C.Lemire bắt đầu chú ý nghiên cứu và sưu tầm những tác phẩm điêu khắc tại Trà Kiệu từ những năm cuối thế kỷ XIX. L.Finot và H.Parmentier đã khảo sát dấu vết tường thành và các kiến trúc từ những năm đầu thế kỷ XX. Năm 1927 - 1928, J.Y.Claeys đã tổ chức khai quật với quy mô khá lớn. Toàn bộ nền móng của các nhóm tháp phía bắc trong thành nội đã được phát hiện, cùng với hàng chục điểm thám sát khác trong thành. Nhiều tác phẩm điêu khắc quý giá đã được tìm thấy. Với kết quả khai quật đó, J.Y.Claeys chứng minh được thành Trà Kiệu chính là kinh đô Simhapura của vương quốc Champa (được xây dựng từ khoảng cuối thế kỷ IV dưới triều vua Bhadravaman). Ðây là trung tâm chính trị quan trọng của vương quốc Champa trong nhiều thế kỷ. Ðến đầu thế kỷ XI, khi vùng đất phía bắc bị đe dọa, người Chăm phải rời kinh đô vào vùng Vijaya.
Phần lớn những tác phẩm điêu khắc được phát hiện vào những năm đầu thế kỷ XX (hình thành nên phong cách Trà Kiệu nổi tiếng từ giữa đến cuối thế kỷ X) được trưng bày tại Bảo tàng điêu khắc Champa tại Ðà Nẵng, gồm nhiều tượng thờ, đài thờ, các vật trang trí kiến trúc... Trong đó phải kể đến đài thờ Linga-Yoni mà phần đế đài thờ được chạm trổ 4 mặt, nội dung 4 cảnh chạm liên quan đến đạo Visnu và đài thờ vũ nữ Trà Kiệu. Ngoài tượng người, tượng động vật đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật Champa gồm chim thần Garuda, Naga, Voi, Sư tử... được bố trí hài hoà trong tổng thể kiến trúc.
Từ năm 1985 đến năm 1990, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tiếp tục thám sát và khai quật tại Trà Kiệu. Kết quả cho thấy ngoài gạch ngói của những công trình kiến trúc Champa, trong di tích còn có nhiều đồ gốm dân dụng, đồ tế lễ của những người Chăm cổ, trong đó có nhiều mảnh gốm giống như gốm Sa Huỳnh và những chiếc vò hình quả trứng. Từ năm 1992 đến nay, di tích Trà Kiệu đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của các nhà khảo cổ Anh, Nhật, Việt Nam.
(TCDL) |
|
|
28/06/2004 |
Nằm sát trục đường quốc lộ 1A, cách TP Vinh 50km về phía bắc là một thế giới khác - một Diễn Châu trẻ trung, đầy sức sống, nơi duy nhất ở tỉnh Nghệ An không có gió tây nam (gió Lào) nóng bỏng về mùa hè.
Không hào nhoáng, bóng bẩy như Đồ Sơn, cũng chưa đủ sầm uất như khu du lịch Cửa Lò, Diễn Châu có ưu thế riêng - nắng vàng, cát trắng, sự bình yên (ảnh). Đó là những gì bạn có thể nhìn thấy và cảm nhận ngay khi vừa đặt chân đến bãi biển này. Với bãi tắm rộng, dài ngút tầm mắt và những rừng phi lao xanh tốt, Diễn Châu kiêu kỳ hướng ra Thái Bình Dương với vẻ đẹp hoang sơ lãng mạn. |
|
Xem tiếp...
|
|
|
28/06/2004 |
|
 |
| Một góc Khu du lịch Suối Lương. |
Thành phố Đà Nẵng vừa có thêm một khu du lịch nằm ngay chân đèo Hải Vân phía nam phường Hòa Hiệp, quận Liên Chiểu.
Khu du lịch sinh thái dã ngoại Suối Lương, thuộc Công ty Danatol, rộng 6ha, nằm hai bên bờ thắng cảnh suối Lương, trong một khung cảnh thiên nhiên rừng núi thơ mộng. Đây là những công trình kiến trúc độc đáo (các loại nhà sàn của các dân tộc VN, cổng làng cổ, thư viện, các mô hình văn hóa đa tôn giáo với hàng chục bức tượng Phật và các vị thần của người Việt cổ làm bằng đất bột...), được xây dựng rất hài hòa, tạo một cảm giác êm đềm cho du khách.
Dù vẫn đang xây dựng bổ sung một số hạng mục, khu du lịch Suối Lương bước đầu đã thu hút một số lớn khách du lịch và công chúng TP Đà Nẵng đến trong dịp hè và những ngày nghỉ cuối tuần.
Theo Tuổi trẻ | |
|
|
25/06/2004 |
|
Nằm ở độ cao 1.100-1.400m so với mặt biển, cách thị xã Kon Tum hơn 50km, giữa ngút ngàn thông và hoa rừng, Măng Đen lúc nào cũng se se lạnh và tĩnh lặng giữa đại ngàn...Được coi là "Đà Lạt của Kon Tum", Măng Đen theo tiếng bà con dân tộc M'Nâm nơi đây có nghĩa là chỗ đất bằng phẳng ("măng" là bãi bằng, đất bằng; "đeng" - chứ không phải "đen" - là chỗ ở).
Trên bình nguyên Măng Đen có nhiều "toong" (hồ) như toong Đăm, toong Ki, toong Lung..., nhiều "cơi" (thác) như Tram, Pa Sĩ, Đăk Ke... tung bọt trắng xóa giữa núi rừng trầm mặc khiến Măng Đen càng thêm thơ mộng và huyền hoặc.
Đến đây du khách như thấy mình lạc vào xứ sở khác sau khi vượt qua một chặng đường dài. Rừng thông mênh mông, có cây được trồng từ thời Pháp thuộc to, cao vút trời xanh. Thông ở đây phát triển mạnh bởi chất đất đỏ Bazan rất màu mỡ. Khí hậu ôn đới, mát mẻ quanh năm.
Măng Đen có dòng sông Đăk Ne hiền hòa, mát rượi; cỏ nhiều hồ nước trong xanh, nhiều tôm cá. Nếu lấy trung tâm huyện Kon Plông làm tâm điểm thì các hồ, thác ở đây đều nằm trong vòng bán kính 10km trở lại, có nghĩa là khá tập trung để vui chơi thưởng ngoạn. Đặc biệt là hồ Đăm rộng khoảng 2ha, cách sân bay Măng Đen chừng 500m, vào mùa khô hoa mua, hoa sim nở tím ven hồ. Xung quanh hồ là rừng thông, lá thông trải một lớp thảm dày 10-15cm mượt mà như nhung. Tiêu biểu là hồ Lung rộng khoảng hơn 1ha, xung quanh còn những thân cây cổ thụ hai, ba người ôm không xuể, rừng ven hồ có rất nhiều phong lan, hồ Ly Leng rộng khoảng 2ha; hồ Zin rộng khoảng 1ha, hồ Chàng (Toong Dăm) rộng 2,5ha. Các hồ Pô, Jri, Săng, Rpoong,... hẹp hơn, nhưng lại rất đẹp.
Măng Đen còn có một hệ thực vật phong phú, đa dạng với loại rừng lá kim, rừng hỗn giao, nhiều loài gỗ quý. Măng Đen không chỉ có tiềm năng về du lịch mà còn là vùng đất nhiều chiến công cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Khu du lịch Măng Đen được Bộ văn hóa - Thông tin xếp hạng là khu di tích lịch sử, danh thắng. Măng Đen hiện vẫn còn giữ được vẻ đẹp ban sơ hiếm có. Tổng cục Du lịch và chính quyền địa phương đã lập dự án quy hoạch khu du lịch Măng Đen, kêu gọi các nguồn vốn đầu tư để biến nơi đây thành điểm du lịch sinh thái và nghỉ mát hấp dẫn trong tương lai.
(Saigonnet) |
|
| | << Đầu tiên < Trước 51 52 53 54 55 56 57 Kế > Cuối cùng >>
| | Kết quả 796 - 810 của 841 | |
|
|
|
|
|
|
© Copyright
2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved.
Contact
us ® Ghi rõ nguồn
"MienTrung.com" khi bạn phát hành lại
thông tin từ website này. |
|
|