Trang chính
Xã hội
Văn hóa
Du lịch
Lịch sử
Kinh tế
Khoa học
Y tế - Giáo dục
Tin học
Môi trường
Dịch vụ
Ẩm thực
Thể thao
Tản văn
Tin mới nhất

Trang chính arrow Văn hóa
Advertisement
 
Văn hóa
Làng của nhiều nhà rường cổ PDF In E-mail
15/07/2004

Ðến Huế, chỉ cần hỏi nơi nào hiện đang còn nhiều ngôi nhà rường nhất, thay vì câu trả lời là Kim Long, Lại Thế, Bàn Môn như thường lệ, người ta sẽ nhắc và nói đến làng Phước Tích nhiều hơn.

Gian giữa của căn nhà rường.

Xem tiếp...
 
Bình Định: Phát hiện bộ sưu tập tiền cổ thời Vua Quang Trung PDF In E-mail
14/07/2004

Một gia đình ở tỉnh Bình định vừa bàn giao cho Bảo tàng Quang Trung bộ sưu tập tiền cổ dưới thời Vua Quang Trung. Số tiền xu nặng hơn 100kg, được gia đình này cất giữ từ hơn 10 năm nay. Trước đó, gia đình này cũng đã chuyển cho Bảo tàng Quang Trung một số lượng tiền tương tự.

Cả hai bộ tiền đều được phát hiện trong kho ở gần căn cứ của nghĩa quân Tây Sơn. Tiền cổ mang niên hiệu Quang Trung rất phong phú với 83 loại đã được các nhà sưu tập, nghiên cứu thống kê thừa nhận.

Giám đốc Bảo tàng Quang Trung cho biết mỗi loại tiền có kích cỡ khác nhau và có những ký hiệu riêng biệt, thể hiện những cải cách về tiền tệ phục vụ sự phát triển thương mại của thời kỳ này.

(Thanh niên)

 
Công bố kết quả khai quật đàn tế Nam Giao PDF In E-mail
13/07/2004

Gạch trang trí hoa văn hình rồng, hiện vật tìm thấy tại các hố khai quật
Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Thanh Hóa ngày 10/7 công bố kết quả sơ bộ về quá trình điều tra, khai quật Đàn tế Nam Giao (ĐTNG) tại khu vực xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa).

ĐTNG được phát hiện dưới chân núi Đốn Sơn, cách cổng phía nam Thành Nhà Hồ 2,5 km (đây được xem là một di tích vệ tinh quan trọng và độc đáo của di tích Thành Nhà Hồ). Bước đầu xác định ĐTNG có diện tích gần 20.000m2 theo hướng cao dần. Khi tiến hành mở các hố khai quật, các nhà khảo cổ học đã phát hiện các dấu tích nền móng cũ cùng hàng ngàn cổ vật với các chất liệu: đất nung, đồng, sắt, đá và đồ gốm sứ có niên đại vào thời Trần - Hồ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì ĐTNG được Hồ Hán Thương cho xây dựng vào tháng 8 năm Nhâm Ngọ - 1402 để làm lễ tế giao, đại xá thiên hạ...

Thanh Niên Online

 
Cổ tự bia Chiên Đàn: Sau ngàn năm, còn ai đọc được? PDF In E-mail
12/07/2004

Cổ tự Sanskrit trên bia Chiên Đàn

Quảng Nam không chỉ có các di tích Chămpa ở Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Bằng An, Đồng Dương... mà còn có nhóm tháp Chiên Đàn thuộc xã Tam An, thị xã Tam Kỳ, nằm cạnh quốc lộ 1A, cách Nam Đà Nẵng 60 km.


Qua ba đợt trùng tu, khai quật và tôn tạo vào 1989, 1997 và 2000, các nhà nghiên cứu cho rằng chưa có nhóm ba tháp nào có số lượng hiện vật nhiều bằng tháp Chiên Đàn. Đặc biệt, giữa năm 1997, các nhà khảo cổ đã khai quật một tấm bia của khu tháp này. Đó là một tảng đá lớn, được mài bằng một mặt, trên đó có khắc 8 dòng cổ tự Sanskrit - có gốc tích từ chữ Ấn Độ.

Những dòng chữ ấy viết gì? Người Chămpa xưa gửi gắm những gì cho hậu thế? Thật đáng tiếc, tất cả các nhà Chămpa học của Việt Nam do không đọc được nên không thể trả lời ngoại trừ đa số nhận định các tác phẩm điêu khắc ở Chiên Đàn xếp vào phong cách Chánh Lộ, thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XII. Gần đây, nhân chuyến công tác tại Mỹ Sơn của tiến sĩ khảo cổ học K.T. Narasimhan và kiến trúc sư khảo cổ học M.M. Kanade (Ấn Độ), Bảo tàng Quảng Nam đã mời hai ông đến Chiên Đàn để giải mã nội dung bia. Nhưng rồi trước tấm bia đã tồn tại khoảng 1000 năm, cả hai nhà khảo cổ học này cung kính lạy và... lắc đầu: "Dù có nguồn gốc từ chữ Ấn Độ nhưng ngôn ngữ Sanskrit rất cổ, chúng tôi không đọc được!"

Thế thì trước đó ai đã giải mã những bi ký Mỹ Sơn? Theo tài liệu, đó là các học giả Pháp L. Finot, L. De Lajonquiere, kiến trúc sư khảo cổ học H. Parmentier, các nhà nghiên cứu Ph. Stanrn, J. Boisselier, G. Maspéro... nhưng khi bia Chiên Đàn được khai quật thì tất cả họ đã ra người thiên cổ!

"Tiền bất kiến cổ nhân - Hậu bất tri lai giả..." (Thơ Trần Tử Ngang), liệu có còn tìm được ai giải mã bia Chiên Đàn?

(Thanh Niên)

 
Khai quật đàn tế Nam giao nhà Hồ tại Thanh Hoá PDF In E-mail
12/07/2004
Từ 16.6, Ban Quản lý di tích (DT) danh thắng Thanh Hoá đã phối hợp cùng một số nhà khảo cổ học (KCH) của Viện KCH, Viện Bảo tồn DT tiến hành khai quật đàn tế Nam giao nằm trong khu quần thể di tích thành Nhà Hồ. Theo nhà KCH Nguyễn Hồng Kiên, "cho đến thời điểm này, đây là đàn tế Nam giao còn lại nguyên vẹn nhất và có thể được xem là quý giá nhất VN".

Những di vật tìm thấy ở khu
khai quật đàn tế.

Nhiều hiện vật được phát hiện
Toàn bộ khu vực đàn tế rộng khoảng 20.000m2, nằm cách thành Nhà Hồ 2,5km, tại núi Đốn Sơn (người dân quen gọi là núi Đún) xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá. Từ kết quả khai quật sơ bộ, các nhà khoa học đã bước đầu định hình được kiến trúc của đàn tế gồm: Nền thượng, nền trung, nền hạ, phòng Trai Cung (nơi vua ngự để tách xa các cung tần mỹ nữ trước khi ra tế)... Qua khai quật ở 4 hố và thám sát ở 4 địa điểm bước đầu, đã thấy có nhiều hiện vật như một số bờ kè bằng đá, hai bạo cửa, ngói, gạch lát nền… được trang trí rất cầu kỳ mang đậm dấu ấn thời Trần.

Tại hố khai quật số 1 phía tây nam đàn tế, các nhà KCH đã tìm thấy một bờ kè bằng đá, dài 25m. Trong hố khai quật này còn tìm thấy rất nhiều ngói, gạch, phù điêu bằng đất nung có kích thước 50 x 50, 50 x 48cm với nhiều viên được trang trí hình rồng, hình cánh sen, hình hoa cúc dây được mang từ Thăng Long vào, thể hiện niên đại của nhà Trần. ở hố khai quật số 2, hai cối cửa bằng đá được đục lõm để lắp chân cánh cửa, khoảng cách giữa hai cối rộng 1,5m cũng được phát hiện, theo nhận định ban đầu, đây là cửa Đông Môn lên nền thượng khu vực đàn tế. Hố số 3 nằm bên bờ nam nền thượng, bước đầu mới bóc lớp mặt đã cho thấy dấu tích của các bậc tam cấp dẫn lên nền thượng và những viên gạch lát đường.

Từ đó dẫn đến nhận định đây là cửa mở theo hướng nam để nhà vua đi lên đàn tế. Do chưa được khai quật mở rộng nên chưa thể xác định có bao nhiêu bậc thềm, nhưng theo các nhà chuyên môn đánh giá thì đường cửa này có khoảng 9 bậc. ở hố khai quật cuối cùng, một bờ kè bằng đá có chiều dài 7-8m được sắp xếp theo chiều dọc khá công phu cùng một số hiện vật khác được làm bằng đất nung như gạch trang trí hoa văn đã lộ diện.

Đàn tế duy nhất còn khá nguyên vẹn về mặt di tích
TS khảo cổ học Nguyễn Hồng Kiên - Viện Bảo tồn DT, người trực tiếp tham gia nghiên cứu khai quật di tích này - cho biết: Đàn tế Nam giao ở Huế ra đời rất muộn (triều Nguyễn), đã bị phá huỷ và được khôi phục lại; đàn tế Nam giao ở Hà Nội hiện không còn gì ngoài địa điểm là nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo hiện nay. Đàn tế Nam giao của triều Hồ được đắp từ rất sớm (năm 1402 - theo Đại Việt sử ký toàn thư). Đây còn là đàn tế còn nguyên vẹn nhất vì từ khi được xây dựng cho đến lúc nhà Hồ bị suy vong chưa ai đụng đến, chưa có việc xâm hại đáng tiếc nào xảy ra.

Thông thường, đàn tế Nam giao có hai cấp nền. Cấp nền dưới hình vuông, tượng trưng cho đất và con người; cấp nền trên hình tròn, tượng trưng cho trời, là nơi để vua làm lễ tế trời hàng năm. Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư thì các vương triều cứ 3 năm làm đại lễ, 2 năm làm trung lễ, 1 năm làm tiểu lễ báo cáo với thiên đình những việc đã làm được cho đất nước. Tuy nhiên, việc khai quật chưa thấy nền tròn (thờ trời) ở cấp cao nhất của đàn tế Nam giao nhà Hồ, do vậy để khẳng định các cấp nền được đắp, kè đá, cửa lên xuống, các công trình kiến trúc nếu có thì nằm ở cấp nền nào còn phải tiếp tục nghiên cứu. Cũng theo TS Nguyễn Hồng Kiên, đàn tế Nam giao nhà Hồ nằm trong La Thành (vùng thành ngoài của kinh đô), La Thành được trồng tre và nếu ai trộm măng sẽ bị xử chém đầu.

Đàn tế Nam giao nhà Hồ có vai trò đặc biệt quan trọng trong khu quần thể di tích Thành Nhà Hồ. Vì thế, tỉnh Thanh Hoá cần sớm có kế hoạch bảo vệ, tránh các tác nhân huỷ hoại. Hiện trong khu vực di tích có một con đường tắt ngang qua đàn tế, chính quyền địa phương nên đình chỉ việc đi lại qua con đường này. Điều quan trọng nhất là cần phải tiếp tục khai quật, nghiên cứu làm rõ về đàn tế Nam giao, nhằm giúp chúng ta hiểu chính xác hơn về một vương triều tuy tồn tại ngắn ngủi (1400- 1407) nhưng đã để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử VN. 

(LĐ)

 
Câu chuyện về những bức tranh cổ hiện có ở Nha Trang PDF In E-mail
10/07/2004

Theo lời giới thiệu của bạn bè, vào một ngày trung tuần tháng 6/2002, tôi tìm đến ngôi nhà số 16A Hòn Chồng, Nha Trang. Chủ nhân ngôi nhà là bác Liêu Quốc Cẩm, người Việt gốc Hoa, sinh năm 1935, tại Hội An. Bác kể cho tôi nghe về lai lịch những bức tranh cổ vẽ bằng mực Tàu trên nền giấy bản hiếm thấy ở Việt Nam, hiện thuộc quyền sở hữu của bác. Những câu chuyện mà bác cũng chỉ được nghe kể lại từ người cha quá cố, bởi khi lớn lên, bác đã thấy sự hiện diện của các búc tranh ấy từ lâu.

Thân sinh của bác là cụ Liêu Bình Tuyên sinh năm 1901 tại Quảng Ðông (Trung Quốc). Lớn lên, ông lưu lạc sang việt Nam. Sau khi bôn ba khắp nơi, ông đến định cư Hội An, lấy vợ là Thành Thị Cúc (hiện còn sống, ở Hội An, năm nay 97 tuổi), sinh được 8 người con, mà bác Liêu Quốc Cẩm là con thứ năm. Cụ Liêu Bình Tuyên là chủ nhà hàng Ðông Sơn tửu lâu, số 88 Nguyễn Thái Học, Hội An, một nhà hàng tương đối lớn, khá nổi tiếng ở đây thời bấy giờ. Là nơi cư ngụ nhiều "anh hùng nghĩa sĩ " bốn phương trời mỗi khi đến Hội An, kể cả những người cơ nhỡ, lỡ đường sinh nhai... Ðông Sơn tửu lâu là nhà của Ban Quảng Ðông, tồn tại đến thời Nhật, qua thời Tưởng Giới Thạch, thời Pháp... Sau này gia đình bác Cẩm chuyển về nơi khác, nơi đây được phân phối cho 4-5 hộ gia đình khác.

Thời đó, đi lại giao thương giữa Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn dễ dàng, thân sinh bác Cẩm vẫn thường đưa các con đi đi, về về Việt Nam, Trung Quốc. Thân sinh bác Cẩm không thể nhớ chính xác cái năm mà một người Trung Hoa, có vẻ giống như người tị nạn, tìm đến Ðông Sơn tửu lâu và trú ngụ nơi này. Ðó là một người đàn ông khoảng 80 tuổi, tướng mạo phi thường, da dẻ hồng hào. Tuy cùng là người Hoa với nhau, nhưng thân sinh của bác Cẩm không thể nói chuyện được với người này mà phải thông qua hình thức bút đàm. Ông ta có một lối sống rất kín đáo, bí hiểm, không cho ai biết lai lịch của mình. Tánh tình của ông rất khó chịu. Tỷ như, khi ăn uống phải có kẻ hầu người hạ, nếu người hầu rót rượu không đúng ý là ông ta hất tung cả bàn cơm. Có một việc xảy ra cho biết ông ta là con nhà võ và có nội công rất thâm hậu, đó là một bữa nọ, ông ngồi dưới chân bộ cửa đang dựng đứng, một trận gió rất lớn làm mấy tấm cửa ngã xuống đè trúng người, nhưng ông chẳng hề hấn gì.

Ở Ðông Sơn tửu lâu khoảng ba năm, trước khi giã từ Hội An về lại Trung Quốc, ông ta ngỏ ý muốn tặng cụ thân sinh của bác Cẩm những bức tranh để làm kỷ niệm những ngày tháng lưu lạc, cũng là một cách cảm tạ gia chủ. Ông nhờ cụ thân sinh bác Cẩm mua thật nhiều mực tàu, giấy bản và lụa. Rồi ngày nào cũng vậy, bắt đầu lừ lúc nửa đêm, ông vẽ đến 4 giờ sáng, được tất cả 6 bức tranh và hai bức liễn thật lớn bằng mực tàu trên nền giấy bản. Mỗi bức tranh lại kèm theo hai bức liễn nữa treo hai bên. Trước khi ra đi ông dặn dò cụ thân sinh của bác Cẩm rằng khi nào về lại Trung Quốc, chẳng cần đem theo tài sản gì, chỉ đem theo những bức tranh này là đủ. Có một bức tranh vẽ Quan Công, mà theo lời kể lại là một bức tranh rất hoành tráng, công phu và rất sống động do đôi mắt được "điểm nhãn" từ huyết của một con gà trống. Tiếc rằng bức tranh này đã bị cháy trong một trận hỏa hoạn.

Rồi từ đó, cứ mỗi lần Tết đến, cụ thân sinh bác Cẩm lại treo những bức tranh này trong nhà, đến khi ông qua đời năm 1966. Năm 1970, bác Cẩm định cư ở Nha Trang sau nhiều năm bôn ba nhiều tỉnh thành, và những bức tranh cũng được mang theo như là kỷ vật của gia đình. Mỗi năm Tết đến những bức tranh cũng được treo lên trong nhà như ngày xưa ông cụ thân sinh của bác thường làm.

Năm 1990, bác Cẩm có đem triển lãm những bức tranh này tại Nha Trang, nhưng không có ai biết được giá trị nghệ thuật của nó. Thế rồi, năm 1991, nhân chuyến đi Trung Quốc thăm người chị ruột ở Quảng Châu, nhớ lời dặn dò của người cha, bác mang theo hai bức tặng cho người chị ruột tên là Liêu Ðịnh Quân, năm nay 77 tuổi, hiện đang ở Quảng Châu. Người chị này định cư ở Trung Quốc từ năm 1954, ngày ấy bà về Trung Hoa bằng cách đi qua Hồng Kông, rồi đến Trung Quốc.

Trước khi cho tôi xem những bức tranh còn lại, bác Cẩm cho tôi xem toàn bộ những tấm hình chụp lại 5 bức tranh này trước khi nó bị "tan đàn xẻ nghé", và những bức hình rất cũ chụp gia đình bác ngày Tết ở Hội An với hai ông bà thân sinh có những bức tranh treo trên tường. Hai bức tranh bác Cẩm đã tặng người chị gồm có, một bức là 4 bức tranh ghép có cặp chim đại bàng đậu trên cành mai cổ thụ; một bức vẽ Lý Thiết Quài, một trong tám vị "Bát tiên" trong văn hóa dân gian Trung Hoa. Ðặc biệt, theo bác Cẩm: "Cặp liễn mà bác đã tặng người chị có chiều cao khoảng 3m, chiều rộng khoảng 0,5m. Hai câu thơ bằng chữ Hán (rất lớn) viết trên tấm liễn này cho biết phải là người sức khoẻ phi thường mới viết được".

Ba bức tranh hiện còn lại trong nhà bác Cẩm hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Mỗi bức có kích thước lớn quá khổ tranh bình thường với chiều cao khoảng 4m, bề ngang khoảng 1m, kèm theo tranh là hai tấm liễn có viết hai câu thơ bằng chữ Hán, treo đối xứng hai bên tách rời với tranh chính. Do những bức tranh quá lớn nên bác Cẩm phải cuộn lại, khi có ai đến xem thì mới mở ra, riêng việc kiếm được chỗ treo tranh cũng rất khó khăn. Tranh vẽ bằng mực tàu trên giấy bản bồi rất dày, được đính trên giấy lụa vùng Duy Xuyên (Quảng Nam) đầu thế kỷ XX. Nền giấy lụa có in hoa văn màu trắng óng ánh, có chỗ đã bị thủng những lỗ nhỏ do thời gian. Bức thứ nhất vẽ thần trừ tà, ôm bài ngà; bức thứ hai vẽ cành cây cổ thụ và bức thứ ba vẽ đầu rồng, với cặp mắt rất có hồn, có cảm giác đi hướng nào cặp mắt này cũng dõi nhìn theo. Bác Cẩm đọc cho tôi nghe hai câu thơ trên hai bức liễn treo kèm với bức tranh Ðầu rồng, tạm dịch là: "Rồng đi thiên địa động/Cọp beo đêm ngày rống. Trên mỗi bức tranh đều có tên, chữ ký và con dấu (triện) của người vẽ, mà bác Cẩm chỉ đọc được họ của tác giả là họ Tôn.

Có một lần về lại Hội An, bác Cẩm đem những bức tranh này triển lãm. Một người khách nước ngoài trả bác 20.000 USD cho tất cả ba bức tranh, biết đây chỉ là một người khách du lịch bình thường, mua tranh như khi gặp một cổ vật là lạ, không phải là người biết thưởng lãm tranh, bác Cẩm không đồng ý bán. Do điều kiện gia đình, kể cả điều kiện bảo quản tranh, mong muốn hiện nay của bác Cẩm là tìm được người biết được giá trị đích thực của những bức tranh này (đọc được những dòng chữ trên tranh, biết được người họa sĩ đã đến Hội An "mai danh ẩn tích" trong ba năm, vẽ nên những bức tranh diễn tả tâm trạng vừa u uất, vừa kiêu hãnh...) để có thể sang nhượng lại, cũng là một cách giữ gìn những bức tranh cổ này được tốt hơn

(KTNN)

 
Khánh Sơn - Quê hương đàn đá PDF In E-mail
10/07/2004
 Khánh Sơn, quê hương đàn đá, nơi sản sinh ra loại nhạc cụ cổ sơ nhất của loài người.

Đàn đá Khánh Sơn phát hiện năm 1979.

Từ lâu thế giới được biết Việt Nam là chủ nhân của trống đồng Đông Sơn, gắn với thời Hùng Vương, một loại trống thuộc kiểu mà học giả nổi tiếng người Áo Hê-gơ, từ năm 1902 đã xếp vào loại 1 trong cách sắp xếp các loại trống cổ thành 4 loại của mình. Cũng từ mấy chục năm nay, thế giới được biết Việt Nam còn là quê hương của bộ đàn đá độc đáo Ndút Liêng Krak do một người Pháp, ông G.Condoninas phát hiện tháng 2-1949 tại Tây Nguyên và bộ nhạc cụ thời tiền sử vô giá này hiện được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Con Người - Paris.

Nhưng từ năm 1979 đến nay, chúng ta liên tiếp phát hiện thêm nhiều bộ đàn đá khác và nếu kể cả bộ đàn đá Ndút Liêng Krak cho thấy: đến nay các bộ đàn đá đã tìm được đều nằm trong khu vực từ Tây Nam Khánh Hòa, Tây Bắc Ninh Thuận, Lâm Đồng đến Buôn Ma Thuột, Đắc Lắc và nơi tập trung nhất là ở Khánh Sơn. Đặc biệt ở Khánh Sơn, ngoài việc tìm ra các bộ đàn đá, qua việc khai quật, khảo sát người ta còn phát hiện ra những dấu hiệu chế tác đàn đá tại chỗ.

Khánh Sơn là một huyện miền núi phía Tây Nam của tỉnh Khánh Hòa. Từ Ba Ngòi, Cam Ranh lên tới trung tâm của huyện Khánh Sơn chỉ có hơn 30km. Nơi đây có thung lũng Tô Hạp, một vùng đất phì nhiêu chạy dài theo con sông Tô Hạp. Khánh Sơn có nhiều ngọn núi cao như dốc Gạo, Hòn Gầm, Hòn Dung, Hòn Xanh. Ngoài con sông Tô Hạp bắt nguồn từ Hòn Xanh ở phía Đông chảy ngược về hướng Tây, Khánh Sơn còn có sông Cua Ró, có suối Cây Chay, suối Đá Nhảy, suối Lớn, suối Nhỏ và nhiều suối khác nhỏ hơn không có tên.

Dân cư sinh sống tại đây có người Chu-ru, người Raglai, nhưng hiện nay phần lớn là dân tộc Raglai… Đồng bào Chu-ru số đông đã di cư đi nơi khác, một số sang huyện Khánh Vĩnh ở phía Bắc, số khác chuyển vào Ninh Thuận ở phía Nam để sinh sống.

Tuy có nhiều núi cao, rừng rậm nhưng đất ở Khánh Sơn, đặc biệt là vùng thung lũng Tô Hạp khá màu mỡ. Ở trên độ cao hàng trăm mét so với mặt biển, khí hậu ở đây càng đi lên càng thấy mát mẻ, thích hợp với sự sinh trưởng của cây thông và rất gần với không khí mát mẻ của Đà Lạt. Từ Cam Ranh đi lên chỉ hơn chục km, ta sẽ gặp những vạt thông nối tiếp nhau. Càng đi lên, thông càng dày, cao vút. Chỉ tính diện tích thông tự nhiên, vùng này đã có hàng ngàn hécta. Lâm trường Khánh Sơn ngày nay có nhiệm vụ chủ yếu là bảo quản, phát triển thông và chế biến nhựa thông.

Đây cũng là vùng đất của cổ tích, thần thoại, đến nay còn để lại nhiều di tích rất lý thú đối với các nhà khảo cổ học, dân tộc học và các ngành văn hóa, nghệ thuật. Đáng chú ý là truyền thuyết về Tảng Đá Hú, có liên quan đến nguồn gốc dân tộc Raglai và đàn đá Khánh Sơn. Chuyện kể rằng từ thời rất xưa,  thuở mới khai thiên lập địa, Trời và Đất còn ở rất gần nhau nhưng lại là hai kẻ thù của nhau, luôn xảy ra những cuộc xô xát. Trời - tiếng Raglai gọi là Cây Gơrâm - có tướng giúp Trời đánh giặc, còn Đất chỉ có hai vợ chồng "ông trồng cây, ông xây núi" là Cây Mơxiri và Mô Vila làm bạn với chim muông, cây cỏ. Hàng năm, Cây Gơrâm và Cây Mơxiri, Mô Vila đánh nhau bất phân thắng bại, đánh mệt thì tạm giải hòa, ít lâu sau, cuộc chiến lại nổ ra: Trời làm mưa gió, sấm sét, bão bùng dâng nước ngập lụt, Đất thì dâng núi cao, chĩa gươm giáo, bắn cung tên lên Trời. Càng lên cao đến gần Trời, Đất càng nổi trống và mõ la dữ dội để uy hiếp nhà Trời. Con cháu của Cây Mơxiri, Mô Vila ngày càng đông đúc nhưng vì cùng một dòng học nên không được phép lấy nhau. Vì đánh mãi không thắng được Đất, Trời phải tìm cách đánh lén. Nhân một buổi Cây Mơxiri, Mô Vila phải đi xây núi, trồng cây phía biển vắng nhà, Trời bèn tung sấm sét đánh ngay vào giữa bữa ăn trưa của con cháu Đất. May mà con cháu Cây Mơxiri, Mô Vila không ai bị chết, chỉ bị sét đánh văng ra bốn phía. Nghe tiếng sấm sét, Cây Mơxiri, Mô Vila hối hả chạy về, quân nhà Trời rút chạy, Đất đi tìm con cháu thì thấy đứa bị văng vào bếp, đứa ra ruộng bo bo, đứa dưới gốc cau, đứa nằm trong bụi dây mấu. Nhân đó ông Cây Mơxiri, Mô Vila bèn lấy tên các vật đã che chở cho con cháu ông để đặt thành họ cho chúng luôn. Từ đấy về sau, người Raglai, con cháu ông có bốn họ: Pinăng (cau), Catơ (bobo), Pupurơ (tro), Chơmơle (mấu). Các họ khác nhau được làm sui gia, dựng vợ gả chồng với nhau, và bốn họ của đại gia đình dân tộc Raglai ngày càng đông vui, hòa thuận, đánh thắng giặc trời, giặc ngoại xâm, xây dựng cuộc sống ấm no, yên lành trên vùng rừng núi quê hương mình. Ngày nay bên bờ một con suối nhỏ ở Khánh Sơn còn có một tảng đá lớn nhô lên mặt đất cao tới hơn đầu người, màu đá xanh đen, mặt nhẵn bóng, đồng bào gọi là Patâu Hu (Tảng Đá Hú). Dùng viên đá hay thanh gỗ cứng gõ vào Patâu Hu có tiếng vang như tiếng sắt, tiếng đồng. Thậm chí, khi kề sát miệng vào mặt đá, hú lên một tiếng hồi âm của tiếng hú cũng vang đi rất xa, dội đi khắp núi, khắp rừng như có hàng chục, hàng trăm người ở bốn phía cất tiếng hòa theo. Theo lời của người già Raglai, đây là tảng đá thiêng, ngày xưa mỗi lần thúc quân đánh lại Trời, ông Cây Mơxiri, Mô Vila lại gõ vào tảng đá này làm lệnh, tiếng đá vang xa khiến quân nhà Trời cũng phải khiếp sợ.

Cùng với những truyền thuyết xa xưa về Tảng Đá Hú, một số cán bộ, bộ đội đã có dịp qua vùng Khánh Sơn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thường kể cho nhau: Tại một nơi nào đó thuộc vùng này đôi khi nghe vang vọng trong đêm khuya một thứ âm thanh rất lạ, nghe phảng phất như tiếng chuông lẫn trong tiếng gió rừng, suối chảy nhưng có tiếng vang rất xa, trên đường hành quân cả chục cây số vẫn còn nghe thấy. Cũng có người cho đó là những công cụ giữ rẫy, đuổi thú rừng đến phá hoa màu của đồng bào ở đây.

Cuối năm 1978, khi nhân dân Khánh Sơn hân hoan chuẩn bị đón danh hiệu xã Anh hùng vừa được Nhà nước tuyên dương thì có tin trong dịp này bà con dân tộc Raglai sẽ đưa bộ đàn đá cổ truyền được cất giấu từ lâu ra biểu diễn để chào mừng. Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh phối hợp với Bộ Văn hóa và Thông tin đã cử đoàn cán bộ, chuyên viên lên Khánh Sơn tìm hiểu việc này và sau đó là những đoàn công tác khác nhau làm nhiệm vụ phát hiện, thăm dò, khảo sát tại chỗ. Kết quả là vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng tám và Quốc Khánh 2-9-1979, lễ công bố chính thức việc tìm ra bộ đàn đá Khánh Sơn đã được tiến hành tại TP. Nha Trang. Bộ đàn đá được công bố lần này do ông Bo Bo Ren, người dân tộc Raglai ở Khánh Sơn đào được và cất giấu trong hang đá hàng chục năm nay đem dâng hiến cho Nhà nước. Bộ đàn gồm 12 thanh đá được đẽo gọt với độ lớn nhỏ, dài ngắn khác nhau, tạo nên những âm thanh khác nhau. Ông Bo Bo Ren tự xếp 12 thanh đá này thành 2 bộ, mỗi bộ gồm 6 thanh, bộ A có thanh nặng nhất là 9kg, thanh nhẹ nhất 5kg. Bộ B thanh nặng nhất là 28,1kg, thanh nhẹ nhất là 10,5kg. Tổng trọng lượng của bộ A 50,5kg và tổng trọng lượng bộ B lên tới 110,8kg. Về niên đại, qua bước đầu nghiên cứu về dân tộc, địa chất, khảo cổ học, dự đoán bộ đàn đá này đã được chế tác ít nhất cũng cách đây khoảng từ 2.000 đến 5.000 năm. Ở mỗi thanh đều có vết mòn nhẵn ở một chỗ nhất định, trừ một thanh có 2 điểm cách nhau vài cm. Điều lý thú là khi gõ vào mỗi thanh ở bất cứ điểm nào đó cũng cho một âm thanh riêng của thanh đó rất đồng nhất, trừ thanh có 2 vết mòn nhẵn ở 2 điểm âm thanh có độ cao khác nhau. Điểm gõ vang nhất ở mỗi thanh chính là những vết đã mòn nhẵn chứng tỏ những người chế tác ra nó đã có sự tính toán, cân nhắc khá chính xác và bộ đàn đã có quá trình sử dụng rất lâu, trước khi ông Bo Bo Ren phát hiện nên mới có được độ mòn nhẵn như vậy.

Các nhà nghiên cứu về âm nhạc, về nhạc khí đã xếp đàn đá Khánh Sơn vào loại nhạc cụ "roi", tức là loại nhạc cụ tự rung như cồng, chiêng, đàn tơ-rưng… và bộ đàn này kết thành một nhạc khí tổng hợp nhiều "roi" theo một thang âm cố định, rất phù hợp với thang âm của bộ đàn đá Ndút Liêng Krak đang cất giữ ở Paris, đã được phát hiện từ năm 1949 ở Đắc Lắc. Với bộ đàn đá này, có thể tấu lên các điệu dân ca quen thuộc của các dân tộc ở Tây Nguyên, có thể biểu diễn những bản nhạc mới sáng tác theo phong cách Tây Nguyên, có thể phối hòa âm theo truyền thống riêng của Tây Nguyên mà vẫn phù hợp với yêu cầu hiện đại.

Cùng với việc phát hiện ra bộ đàn này, các nhà nghiên cứu sau khi khai quật và khảo sát tại đỉnh núi Dốc Gạo, thuộc địa phận thôn Tô Hạp, xã Trung Hạp còn tìm ra nhiều dấu tích chứng tỏ người xưa đã chế tác đàn đá tại đây với nhiều khối đá và mảnh vụn thuộc loại đá phún trào (ri-ô-lit pooc-phia) có nhiều ở Khánh Sơn, cũng là loại đá để chế tác đàn đá Khánh Sơn.

Sau bộ đàn đá của ông Bo Bo Ren, những năm sau này, nhiều nơi ở Tây Nguyên và ngay tại Khánh Sơn còn tiếp tục tìm được nhiều bộ đàn đá khác.

Lên thăm Khánh Sơn ngày nay, được bà con dân tộc Raglai vốn có truyền thống mến khách đón tiếp, bên bếp lửa nhà sàn, được uống rượu cần, được nghe các già làng kể chuyện và nhất là được nghe trực tiếp những âm thanh đàn đá ngay tại nơi chế tác ra nó từ hàng nghìn năm trước, thật là sảng khoái đối với du khách có dịp đến thăm vùng đất thiêng liêng này.

(Báo Khánh Hòa)

 
Đà Nẵng: Khu du lịch 5 sao Furama kín phòng mùa giảm giá PDF In E-mail
07/07/2004

Rất đông khách Việt tại Furama.

Ông Paul Stoll, Tổng Giám đốc Furama cho biết, sau thời gian dài bị ảnh hưởng bởi dịch cúm gà hồi đầu năm, từ tháng 6/2004 số lượng du khách đến nghỉ tại Furama đã phục hồi ở mức 76%.

Đặc biệt tuần qua, nhờ chương trình giảm giá mùa hè 50 USD/người hoặc 60USD/2 người/phòng (không bao điểm tâm) Furama bị “cháy phòng” do số lượng du khách (có 40% khách Việt Nam) đăng ký vượt quá số phòng. Tuần đầu tháng 7/2004, du khách tiếp tục đăng ký 90% số phòng tại Furama.

(Thanh Niên)

 
Phát hiện dấu tích Đàn Nam Giao nhà Hồ tại Thanh Hóa PDF In E-mail
07/07/2004
Các nhà khảo cổ vừa phát hiện dấu tích khu Đàn tế giao với quy mô khá lớn và còn nguyên vẹn, được dự đoán là Đàn Nam Giao trong La Thành của Thành nhà Hồ (Vĩnh Long-Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa).

Trục Thần đạo.

Cuộc khai quật do Ban Quản lý Di tích Danh thắng thuộc Sở Văn hóa-Thông tin Thanh Hóa tiến hành từ ngày 15-6, với sự giúp đỡ của Viện Khảo cổ và Viện Bảo tồn di tích.

Tại hố khai quật số một ở phía nam của đàn tế, các nhà khảo cổ tìm thấy 25m hàng bao móng kè bằng đá. Còn ở hố phía đông cũng tìm thấy hai cối cửa bằng đá đục lõm ở giữa. Khoảng giữa vị trí hai cối cửa này, độ 1,5m, được kè bằng gạch hình vuông hoặc hình chữ nhật xen kẽ, niên đại vào khoảng cuối thời Trần.

Dấu tích nền Hạ.

Dấu tích nền Thượng.


Bậc thềm phía nam của cấp nền thứ nhất (nền Thượng) đã được tìm thấy ở hố khai quật thứ ba. Một dấu tích quan trọng khác được tìm thấy ở hố cuối cùng: con đường chính cắt ngang nền Thượng, có thể gọi đây là trục Thần đạo. Điều thú vị là ở tất cả các hố khai quật, di tích được tìm thấy chỉ cách mặt đất 20 - 40cm. Bình thường khu vực đó bị cây cỏ mọc hoang che kín.

Hai trong ba hố thám sát tìm thấy chỗ bắt góc của các cấp nền, bằng đá và vuông vức.

Hố thám sát thứ ba mở trên vị trí một chiếc giếng mà theo người dân là Giếng Vua, mới chỉ bị lấp khoảng cuối những năm 1980. Các nhà khảo cổ phát hiện một đoạn thành giếng bằng đất nhưng có dấu hiệu của đá đã bị bóc đi và thay vào đó là đất mới lấp.

Về hiện vật, các nhà khảo cố đã tìm thấy nhiều viên gạch trang trí hình rồng, hình hoa cúc dây, nhiều mảnh ngói, phù điêu đất nung...


Gạch trang trí hình rồng.

Trong "Đại Việt Sử ký toàn thư" có nói Đàn Nam Giao của nhà Hồ được xây dựng vào năm 1402 (Nhâm Ngọ). Các hiện vật tìm thấy trong đợt khai quật cũng khẳng định rõ di tích đang khai quật có niên đại thế kỉ 13, 14. Chính nơi đây đã diễn ra cuộc chính biến không thành của Trần Khát Chân dẫn đến cuộc thảm sát hơn 200 người mà hiện vẫn còn miếu thờ ông ở phía sau núi Đốn Sơn. Ngoài ra những sử liệu về Đàn Nam Giao nhà Hồ hầu như không có hoặc rất ít.

Là một di tích vệ tinh quan trọng của thành nhà Hồ (cùng với Đồ Sơn, Ly Cung...), việc khai quật Đàn tế giao nằm trong khuôn khổ Dự án Nghiên cứu và Bảo tồn kiến trúc thành đá độc đáo có một không hai này của Việt Nam. Việc khai quật còn kéo dài đến giữa tháng 7. Ước tính quy mô cả khu vực Đàn tế khoảng 20.000m2. Sau khi hoàn thành việc thám sát, BQL Di tích Danh thắng Thanh Hóa sẽ xem xét kết quả và đề xuất tiếp việc khai quật mở rộng.
 
(VNN)
 
"Huyền thoại cõi Trường Sơn" PDF In E-mail
06/07/2004
Đó là tên lễ hội của chương trình văn hoá - du lịch "Nhịp cầu xuyên Á", sẽ diễn ra tại tỉnh Quảng Trị đêm 27.7 với nhiều hoạt động phong phú, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc...

Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn (chụp ngày 1.7.2004).  

Đêm hội "Huyền thoại cõi Trường Sơn" sẽ diễn ra tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Nhà văn Nguyễn Xuân Đức - Giám đốc Sở VH-TT Quảng Trị - cho biết, đêm hội chính là nâng một nghi thức nhà nước thông thường (lễ tưởng niệm tại nghĩa trang) lên tầm cao hơn: Lễ hội của cả cộng đồng. Điều này sẽ được thực hiện bởi các yếu tố lễ và hội đã được hình thành từ lâu trên cõi thiêng này. Trước hết đó là tính tâm linh đang diễn ra hàng ngày tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Không phải chỉ đến ngày 27.7 hàng năm, mà hàng ngày ở đây lúc nào cũng có người đến thăm viếng. Các cuộc viếng thăm không đơn thuần là hoạt động "đền ơn đáp nghĩa" mà đã trở thành một phần tất yếu trong đời sống tâm thần của du khách khi đến thăm Quảng Trị.

Ngoài yếu tố tâm linh, yếu tố văn hoá cũng đã được hình thành. Xét về quy hoạch, kiến trúc và địa hình thì nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn là nghĩa trang đẹp nhất ở nước ta hiện nay. Chính vì thế nơi đây đã trở thành một điểm thu hút du khách thập phương với sức cuốn hút ngày càng mạnh.

Đêm "Huyền thoại cõi Trường Sơn" sẽ được bắt đầu bằng cuộc hành hương lịch sử từ thị xã Đông Hà lên nghĩa trang với đông đảo thành phần tham gia: các cơ quan đoàn thể, lực lượng thanh niên, các đoàn khách quốc tế... Sau lễ viếng tại Đài tưởng niệm, hàng vạn ngọn nến sẽ được thắp lên làm nền cho buổi lễ. Trong ánh sáng kỳ ảo đó, lần lượt các đoàn sẽ làm lễ dâng hương lên đài chính trong nền nhạc hợp xướng bài ca "Lời ru cánh võng" của nhạc sĩ Văn Dung... Nhiều tiết mục đặc sắc mang âm hưởng sâu lắng như những cuộc gặp gỡ, trò chuyện với những người mẹ, người vợ liệt sĩ đến từ mọi miền tổ quốc sẽ thể hiện mối giao cảm thiêng liêng giữa người đang sống và những người đã khuất...

"Đêm huyền thoại cõi Trường Sơn" sẽ kết thúc bằng chương trình nghệ thuật mang tính hồi tưởng, và rồi nhộn nhịp trở lại với "Nhịp cầu xuyên Á" hướng tới tương lai. Tỉnh Quảng Trị tin rằng đêm "Huyền thoại cõi Trường Sơn" và toàn bộ lễ hội văn hoá - du lịch sẽ đem lại những ấn tượng sâu lắng và tốt đẹp trong lòng bạn bè quốc tế, đồng thời hy vọng "Nhịp cầu xuyên Á" có thể trở thành một festival luân phiên hàng năm hoặc vài năm một lần ở các địa phương giữa các quốc gia trên trục đường xuyên Á đầy sức quyến rũ và giàu tiềm năng du lịch này.

(LĐ)

 
<< Đầu tiên < Trước 51 52 53 54 55 56 57 Kế > Cuối cùng >>

Kết quả 751 - 765 của 852

Viec lam, Tìm việc làm, Tuyển dụng

 
© Copyright 2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved. Contact us
® Ghi rõ nguồn "MienTrung.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.