|
|
|
Trang chính Văn hóa |
|
| |
|
|
|
Văn hóa
|
02/07/2004 |
|
| Làng Bầu Trúc là một trong hai làng gốm cổ xưa nhất ở Đông Nam Á nằm cách thị xã Phan Rang -Tháp Chàm 10km về hướng Nam. Đây là một làng nhỏ có hơn 400 hộ trong đó 85% hộ làm nghề gốm truyền thống. Người trong làng kể rằng chính Pô klong Chan là người đã truyền nghề, ông là một trong những vị tổ sư của nghề gốm từ thời xa xưa. |
 | Người dân ở Bầu Trúc đã dùng đôi bàn tay khéo léo của mình, những vòng tre và những vỏ sò để tạo ra những tác phẩm vô giá. |
|
Xem tiếp...
|
|
|
02/07/2004 |
|
|
Đó là những ngôi nhà trong số 45 nhà rường cổ tại khu vực Kim Long, TP Huế đã được Trung tâm Kiến trúc Miền Trung (Viện Nghiên cứu kiến trúc, Bộ Xây dựng) tiến hành điều tra, khảo sát và đưa vào danh mục đầu tư tu bổ.
Trong số này có khoảng 18 ngôi nhà tiêu biểu sẽ được chọn đầu tư với mức kinh phí từ 100 - 120 triệu đồng. Dự án sẽ được hoàn thành vào cuối năm 2006 và UBND tỉnh đã có quyết định đầu tư cho dự án này trên 5 tỉ đồng.
(Thanh Niên) | |
|
|
01/07/2004 |
|
Chiếc canô cao tốc đón chúng tôi tại chân cầu cảng Kỳ Hà đưa về khu du lịch sinh thái Le Domaine de Tam Hải ở vùng biển Cửa Lở thuộc thôn 4, xã Tam Hải, huyện Núi Thành (Quảng Nam).
Sau gần 10 phút đường sông, hiện ra trước mắt tôi là khung cảnh một làng quê VN thanh bình, những biệt thự mái lợp tranh nép mình dưới những tán dừa, một bên là biển xanh với bãi cát trắng phẳng lì, còn phía bên kia là những đìa tôm vuông vắn. 12 biệt thự, mỗi căn được xây dựng trên một khu vườn diện tích 500m2 theo lối kiến trúc của nhà cổ VN hai gian bốn chái. Không thiếu những tiện nghi đắt tiền bên trong các biệt thự, nhưng tất cả được sắp xếp hài hòa trong một không gian thoáng đãng nhằm tạo cho du khách đến nghỉ dưỡng tại đây không khí ấm cúng như trong một gia đình nông thôn VN. Ở khu du lịch sinh thái này, những gì đã có sẵn trong thiên nhiên đều được giữ lại đúng vẻ nguyên sơ của nó, người ta chỉ trồng thêm các loài hoa dại của vùng đất cát để tô điểm thêm khung cảnh.
Ông Ronan, phó giám đốc điều hành Le Domaine de Tam Hải, cho biết: “Đối với loại hình du lịch sinh thái yêu cầu đầu tiên là cảnh quan môi trường. Khi phát hiện vùng biển Cửa Lở thuộc xã Tam Hải có vị trí vô cùng tuyệt vời với bãi biển sạch và đẹp, lại nằm bên khu vực Bàn Than có cảnh trí thiên nhiên đặc sắc mà không một nơi nào trên bờ biển miền Trung có được, chúng tôi đã quyết định đầu tư bởi nhận thấy việc đi tắt đón đầu một cơ hội làm ăn tại Khu kinh tế mở Chu Lai là vô cùng cần thiết.
Việc cách trở giao thông không quan trọng: chúng tôi có tàu cao tốc đưa đón khách bằng đường thủy từ sân bay Đà Nẵng vào nghỉ dưỡng tại đây. Tương lai không xa khi sân bay Chu Lai đi vào hoạt động, khách đến đây chỉ mất đúng 10 phút đi canô cao tốc. Một yếu tố quan trọng nữa là sự thân thiện của người dân địa phương sẽ giúp du khách tìm hiểu văn hóa cũng như phong tục tập quán của cư dân vùng biển này”.
Với vốn đầu tư khá khiêm tốn (1,3 triệu USD, 100% vốn là của một công ty Pháp) nhưng khu du lịch Le Domaine de Tam Hải sẽ làm được nhiều điều như lời ông Lê Minh Ánh, phó chủ tịch UBND tỉnh, phát biểu tại lễ khai trương khu du lịch. Đó là một dự án đầu tiên trong lĩnh vực du lịch của Khu kinh tế mở Chu Lai, tạo tiền đề cho tám dự án du lịch khác của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã được cấp phép dọc theo chiều dài vùng biển từ xã Tam Hải đến xã Tam Quang, nối với Khu công nghiệp Dung Quất (Quảng Ngãi). Bởi phát triển các khu nghỉ dưỡng, các khu vui chơi giải trí sẽ là một yếu tố quyết định sự phát triển đồng bộ các loại hình thương mại, dịch vụ, làm nền tảng cho phát triển công nghiệp của Khu kinh tế mở Chu Lai.
Còn ông Nguyễn Đức Tục, chủ tịch UBND xã Tam Hải, tâm sự: “Ở một vùng biển thật đẹp, suốt mấy chục năm qua ngủ yên bây giờ mới được đánh thức, khu du lịch sinh thái này tạo điều kiện cho xã phát triển các loại hình dịch vụ, giải quyết việc làm cho con em tại địa phương. Nếu tám dự án du lịch được đầu tư xây dựng tại khu vực này trong những năm đến thì xã Tam Hải sẽ thoát được cái nghèo truyền kiếp bao đời nay...”.
Chỉ mới một khu du lịch sinh thái qui mô không lớn được xây dựng, trước mắt đã giải quyết trên 40 lao động tại địa phương với mức lương khoảng 1 triệu đồng, con số không nhỏ đối với thanh niên vùng biển nghèo này.
(Tuổi trẻ) |
|
|
01/07/2004 |
|
Vùng Bắc Tây Nguyên là thủ phủ của các dân tộc: Zarai; Bahnar; Xê Đăng, Zẻ Triêng, Brâu v.v... Nơi đây là một vùng đất đậm đặc truyền thống sử thi và là nơi cội nguồn của ngôi nhà rông truyền thống. Toàn tỉnh Kon Tum hiện nay đã xây dựng được 381 nhà rông chiếm tỷ lệ trên 50% số thôn, buôn, làng mà tỉnh Kon Tum phấn đấu sẽ xây dựng 100% nhà rông vào năm 2005.
Hội thảo khoa học về “Nhà rông - nhà rông văn hóa” được tổ chức đầu tiên tại thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum, đã qui tụ nhiều giới nghiên cứu khoa học xã hội ở Hà Nội, TP HCM và các tỉnh Tây Nguyên - Trường Sơn, duyên hải miền Trung. 52 bản tham luận khoa học, trong đó 2/3 số tham luận là của các nhà nghiên cứu ở các cục, vụ, viện, trực thuộc Ủy ban KHXH - Nhân văn và Bộ Văn hóa - Thông tin (Viện Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật và Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Ban Tôn giáo Chính phủ, Cục Bảo tồn bảo tàng v.v...).
Hội thảo đã đặt ra nhiều vấn đề lý thú, tranh luận sôi nổi giữa các nhà nghiên cứu khoa học và các nhà quản lý văn hóa để tìm ra được tiếng nói chung về việc xác định nhà rông - ngôi nhà chung truyền thống của Tây Nguyên: hình dáng, kiến trúc vật liệu xây dựng, qui cách, qui trình xây dựng hay phần hồn với những tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của nó. Câu trả lời thứ nhất của hội thảo là: Nhà rông là một di sản văn hóa độc đáo cần được bảo tồn và phát huy. Hàng trăm ngôi nhà rông của đồng bào Tây Nguyên đã sừng sững tồn tại với thời gian. Nhà rông – niềm tự hào của đồng bào Tây Nguyên nói riêng và cả cộng đồng dân tộc Tây Nguyên – Trường Sơn và các tỉnh duyên hải miền Trung với nét độc đáo riêng biệt, dáng vươn cao vút, bề thế, thể hiện tính vươn lên mạnh mẽ, vượt qua gian lao, vất vả để tự khẳng định mình trong quá khứ và hiện tại. Sự ra đời của ngôi nhà chung (nhà rông) tự bản chất của nó gắn với những hình thái kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên.
Nhà rông Tây Nguyên được xây dựng chủ yếu bằng các vật liệu của núi rừng Tây Nguyên, tranh, tre, gỗ, lồ ô v.v… và được xây cất trên một khoảng đất rộng. Nằm ngay trong khu vực trung tâm của buôn làng. Chức năng của nhà rông truyền thống là nơi thực thi các luật tục, nơi tiếp khách, nơi diễn ra các sự kiện trọng đại của buôn làng, nơi già làng tập hợp dân làng để bàn “việc làng, việc nước”, nơi thể hiện các lễ hội - tâm linh cộng đồng và là nơi các thế hệ nghệ nhân già truyền đạt lại cho thế hệ trẻ những giá trị văn hóa truyền thống v.v… Ngôi nhà chung ấy còn là nơi lưu giữ các hiện vật truyền thống: chiêng, trống, cồng, vũ khí, đầu các con vật hiến sinh trong các ngày lễ. Độ cao của ngôi nhà rông truyền thống có khi cao đến 18m và mái nhọn, cao vút, người thợ thủ công tài tình, khéo léo chỉ bằng vật liệu của núi rừng mà tạo nên lối kiến trúc độc đáo, bền vững với nhiều loại hoa văn phong phú mà gam màu chủ đạo là màu đen, trắng và nâu đậm.
Một câu hỏi đặt ra trong hội thảo là ngôi nhà rông văn hóa ra đời có làm mất đi những gì vốn có của nhà rông truyền thống hay không? Có nhà nghiên cứu cho rằng nhà rông có vai trò giống như ngôi đình của người Việt, song cũng có đa số ý kiến cho là khác, bởi lẽ theo Giáo sư-Tiến sĩ Lâm Chí Biền (Viện Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật), nhà rông là biểu trưng hướng về cõi dương. Đình làng của người Việt, hướng về cõi âm, ở mỗi đình làng người Việt khi xây dựng mái thấp bé, phía trước và sau đình làng dựng theo thuyết phong thủy... Điều thống nhất trong hội thảo là, đa số các nhà quản lý văn hóa và các nhà khoa học đều cho rằng, nhà rông văn hóa là một thiết chế văn hóa cơ sở hiện nay trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Tiếp thu có chọn lọc nhà rông truyền thống và đưa vào hoạt động như một điểm sinh hoạt văn hóa ở buôn làng, cho dù tên gọi là nhà rông, nhà Gươi, nhà Zơng v.v... hay có nhà nghiên cứu gọi là “ngôi nhà sinh hoạt văn hóa mang hình dáng nhà rông” v.v... thì đại đa số vẫn thống nhất chung là chức năng tâm linh và các hoạt động “việc làng, việc nước” vẫn được tổ chức tại ngôi nhà chung cộng đồng ấy. Nhà rông chỉ có dân tộc Bahna - Zởgao, người Zẻ Triêng, Xê Đăng, Zarai ở Bắc Tây Nguyên (tỉnh Gia Lai, tỉnh Kon Tum) mới có, ngoài ra các dân tộc khác như dân tộc Ê Đê thì chỉ có nhà dài.
Nhà rông - nhà rông văn hóa là một biểu tượng văn hóa rất đáng tự hào của đồng bào các tỉnh Tây Nguyên - Trường Sơn và các tỉnh duyên hải miền Trung. Nhà rông là một di sản văn hóa đáng trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị của nó trong việc bảo tồn và giữ gìn văn hóa dân tộc.
(SGGP) |
|
|
29/06/2004 |
|
|
Một góc của điểm khai quật |
Cồn Ràng ở thôn Phụ ổ, xã Hương Sơn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế, cách sông Hương 4,5 km về phía nam, cách sông Bồ 3 km về phía bắc, xung quanh có nhiều bàu ruộng với những tên gọi cổ xưa như Lang Hồ, Cửa Trữa, La Lả, Hạ Lang... Ngoài ra, ở phía bắc Cồn Ràng là Rú Cấm, nơi có những huyền tích, huyền thoại về một vùng đất thiêng như Lửa Cồn, Chợ Ma, cồn Thu Lo, miếu ông ầm... Trong quá trình làm ruộng và xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, người dân Hương Chữ đã phát hiện thấy rìu đá, hạt mã não, đồ gốm... của người xưa.
Năm 1987, trong mùa điền dã khảo cổ, thầy trò khoa lịch sử trường Đại học Khoa học Huế đã đến Cồn Ràng, thử khai quật một số điểm, phát hiện 3 chum kích thước lớn và các di vật gốm, hạt trang sức bằng đá mã não và thủy tinh. Tiếp đến là các cuộc khai quật của Viện khảo cổ học Việt Nam kết hợp với Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thừa Thiên-Huế. Vừa qua, các cơ quan này đã tiến hành khai quật xong đợt 3, với tổng diện tích khai quật 2.300m2, chia thành 14 hố có kích thước trung bình 150 m2/hố. Kết quả cho thấy: Mộ táng phân bổ chủ yếu ở độ sâu 0,5 m đến 1,5 m. Địa tầng di tích khá thuần nhất, các lớp chủ yếu là cát, cát pha sét, cát thô mịn và bị laterit do địa hình chịu ảnh hưởng của phù sa sông biển và những đợt xâm thực bào mòn trước núi. Đến nay, các nhà khảo cổ đã khai quật được 217 ngôi mộ, chủ yếu là mộ chum phân bổ thành từng cụm thẳng hàng, tứ giác, tam giác, ngũ giác. Mộ chum Cồn Ràng có 4 dạng: Dạng hình trụ, hình trứng, hình cầu, giữa trụ và trứng, được trang trí nhiều loại hoa văn, có chum trang trí văn đập xung quanh vai, có chum trang trí văn thừng toàn thân, đa số các chum để trơn phần thân và đáy. Nắp mộ chum có 3 loại: Loại nón cụt, đáy bằng, hình cầu đáy lòng chảo và loại nón chóp đáy nhọn. Cách thức bài trí: Trên nắp, quanh vai và thân mộ chum thường đặt đồ gốm như nồi bình niên, bát đèn; bên trong là đồ trang sức như khuyên tai hình bông hoa rau muống, hình đầu thú... Nhìn chung, mộ chum Cồn Ràng được chôn không tuân theo một quy luật nào cả. Đa số các mộ chưa tìm thấy xương cốt, cả trong và ngoài mộ chỉ phát hiện thấy than củi... Tiến sĩ Bùi Văn Liêm, Trưởng đoàn khai quật, cho biết: Đây là cuộc khai quật một di tích khảo cổ lớn thứ hai trong lịch sử khảo cổ học Việt Nam, chỉ sau di chỉ Lung Leng ở tỉnh Kon Tum. Qua nghiên cứu từ tư liệu lòng đất Cồn Ràng với khối lượng lớn hạt mã não làm đồ trang sức, đồ sắt làm công cụ sản xuất, đồ gốm làm đồ gia dụng..., có thể dự đoán Cồn Ràng là một trong những khu mộ lớn nhất của văn hóa Sa Huỳnh từ khoảng 2.500 năm trước. Nghiên cứu cũng cho thấy cư dân Cồn Ràng vào thời kỳ này đã đạt được những thành tựu lớn trong đời sống kinh tế vật chất và văn hóa tinh thần; thạo nghề nông, chăn nuôi và giỏi trong nghề đánh bắt thủy hải sản; biết đến thẩm mỹ làm đẹp cho bản thân và cộng đồng.
Trong thời gian khai quật di tích Cồn Ràng, được sự giúp đỡ của bà con địa phương, đoàn khảo cổ còn phát hiện ra di tích mộ chum ở nhiều địa điểm khác thuộc vùng lân cận Cồn Ràng như Cồn Dài, Bàu Dưng, Cửa Thiền, Phú ốc... Ngoài ra, Cồn Ràng cách xóm Tháp, thôn An Đô, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà khoảng 2.500 m về phía đông bắc có nhà thờ họ Chế có gia phả từ 14 đến 16 đời, và nơi đây còn có nhiều huyền thoại, huyền tích như miếu Bà Yàng, Điện thờ Bà Lồi... là những tư liệu quý trong quá trình nghiên cứu giai đoạn tiền sơ sử ở tỉnh Thừa Thiên-Huế nói riêng và các tỉnh ven biển miền Trung nói chung. Tỉnh Thừa Thiên-Huế tự hào có di sản văn hóa thế giới là Cố đô Huế, nay thực sự có thêm niềm tự hào nữa là khu mộ chum lớn thuộc văn hóa Sa Huỳnh ở Cồn Ràng.
(VOV) |
|
|
29/06/2004 |
|
|
 |
|
Anh Tuấn và các tác phẩm thi pháp tre của mình. |
Khách đến tham quan Thiền Viện Trúc Lâm (Đà Lạt) đều không khỏi ngạc nhiên khi thấy đôi vợ chồng trẻ, vợ thì dọn dẹp, sắp xếp, còn chồng thì hì hục đục, vẽ trên… tre. Ngạc nhiên lẫn thán phục khi chỉ một loáng sau là từ những thanh tre vô hồn ấy hiện ra những nét chữ tuyệt diệu…
Anh là Phan Công Tuấn, quê gốc ở Quảng Nam, vào Đà Lạt lập nghiệp cùng gia đình từ nhỏ, nhưng hình ảnh cây tre đất Quảng không xoá mờ trong anh. | |
|
Xem tiếp...
|
|
|
29/06/2004 |
|
Một số ngư dân ở 2 huyện Hàm Tân và Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận đã phát hiện một chiếc tàu cổ bị chìm cách bờ biển xã Tân Thành (Hàm Thuận Nam) 5 km. Bà con tiến hành trục vớt, khai thác được một lượng khá lớn tiền cổ và một khẩu súng thần công.
Ngư dân cũng đã thông báo với chính quyền và cơ quan quản lý văn hóa tại địa phương. Các chuyên gia thuộc Bảo tàng tỉnh Bình Thuận cho biết: số tiền cổ mà bà con giao nộp khoảng 3.000 kg được xác định sản xuất cách đây trên 150 năm. Mặt trước đồng tiền có dòng chữ "Minh Mạng Thông Bảo", mặt sau không in chữ. Khẩu súng thần công dài 85 cm, đường kính 7,5 cm, nặng khoảng 300 kg đã được Bảo tàng tỉnh Bình Thuận mua lại của ngư dân với giá 5 triệu đồng.
(Thanh Niên) |
|
|
29/06/2004 |
|
Cuộc đua thuyền buồm quốc tế dự kiến diễn ra vào cuối tháng 10 và đầu tháng 11-2004 từ Hồng Công tới Nha Trang, Đà Nẵng sẽ mở đường cho loại hình du lịch biển mới: du lịch bằng du thuyền dọc bờ biển Việt Nam. Chương trình do Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) phối hợp với Hãng Goodman Marine International Singapore và Câu lạc bộ du thuyền Hoàng gia Hồng Công tổ chức.
|
 |
Giải đua thuyền buồm quốc tế (International Regatta) đã được tổ chức khá phổ biến và định kỳ tại nhiều nơi trên thế giới và khu vực, nhưng với Việt Nam lại hoàn toàn mới. Cuộc đua này không chỉ thuần túy về thể thao mà còn ở phạm vi rộng hơn: kết hợp giữa thể thao và du lịch. |
|
Xem tiếp...
|
|
|
29/06/2004 |
|
Trong con mắt của nhiều người dân Bảo Lộc, ông Đỗ Văn Toàn là người có phần “lập dị”. Ngoài lục tuần nhưng dáng vẻ ông vẫn còn rắn rỏi: Nước da sẫm màu khói, tóc để dài buộc thành búi kiểu đuôi gà sau đầu trông rất bụi, đôi mắt sáng vẻ hoang dã.
|
|
Gùi có nắp - một đỉnh cao của nghề đan lát truyền thống các dân tộc Tây Nguyên. |
Vào khoảng năm 1978, huyện Bảo Lộc (cũ) phát động phong trào định canh, định cư trong vùng đồng bào dân tộc. Đang rảnh rang lại được các cán bộ huyện động viên nên ông Toàn đã hăng hái tham gia. Ít ai ngờ đó chính là bước ngoặt định mệnh gắn cả quãng đời còn lại của ông với công tác sưu tầm di sản văn hóa của đồng bào thiểu số Nam Tây Nguyên.
Ban đầu chỉ là sưu tầm cho vui nhưng càng đi ông càng hiểu được giá trị công việc mình đang làm. Ban đầu bằng xe đạp cọc cạch, rồi đến cái xe máy cổ lỗ sĩ Yamaha, ông lặn lội khắp các thôn buôn vùng sâu như Lộc Bắc, Lộc Lâm… Cứ 15- 20 ngày một lần, ông lại khăn gói lên đường. Ông sống thân thiện, nhiều lúc đóng khố như người dân tộc vùng sâu nên đồng bào gọi ông bằng cái tên: K‘Toàn. K‘Toàn bật mí: “Đối với đồng bào, quan trọng là phải giữ chữ tín, cái họ cần lần sau mình vào phải có, có khi chỉ một cái bấm móng tay, một con cá khô nhưng đã hứa là phải có. Mình sống thật với họ, họ không tiếc điều gì. Đã có những đêm ông mơ thấy cả hiện vật, đó là những thứ mà trong bộ sưu tập đang còn thiếu nhưng đã đi 2-3 lần mà chưa đem về nhà được. Ông bảo: “Mê cứ như là trai mê gái lúc thanh niên!”.
Vài năm gần đây ông tậu được chiếc mô tô 125 phân khối, cũng vì thế mà không ít người lầm tưởng ông là dân chơi, nhưng ít ai hiểu, ông nghèo vì sưu tập hiện vật. Một buổi trưa, chúng tôi đến đúng lúc cả nhà ông đang ăn cơm. Ông giở lồng bàn cho mọi người xem, chỉ có rau luộc và một ít tép kho. Vợ ông – một phụ nữ trạc tứ tuần nói thêm: “Ông ấy mê mấy thứ đó quá, biết làm sao?”.
Nhưng thật không uổng công, hiện giờ ông Toàn đang sở hữu khoảng hơn 600 hiện vật mô tả sinh hoạt của các dân tộc ít người tại Lâm đồng. Đồ đạc chất đầy 3 gian nhà ọp ẹp, chỉ có ông mới lấy ra và sắp xếp lại theo đúng vị trí ban đầu. Ông phân loại hiện vật thành 7 nhóm gồm: Đồ gia dụng, công cụ dệt vải, công cụ rèn, đồ săn bắn trên cạn, đồ săn bắn dưới nước, lễ hội dân gian, công cụ trồng tỉa và phát rẫy. Ông quả quyết: “Bộ sưu tập của tôi còn phong phú hơn cả bảo tàng”. Trong đó, đáng chú ý là cặp vòng đeo tai bằng ngà voi – một thứ trang sức đắt giá của đàn ông lẫn phụ nữ dân tộc (nhiều người lâu nay cứ tưởng chỉ có phụ nữ căng tai, đeo vòng), bộ đàn ống tre (dây bằng tre), bộ khố cổ dài 6-7m, bộ kèn bầu đầy đủ từ 1 – 6 ống, gùi có nắp (hiện vật độc bản ngày nay rất hiếm gặp vì ít người biết đan)…
|
|
Nghệ nhân K‘Toàn.
|
Cái cách thể hiện niềm đam mê của K‘Toàn cũng thật đáng nể: Nhiều dụng cụ không còn trong thực tế đời sống của đồng bào nên ông phải đi phục chế lại theo mô tả của các già làng. Nhờ vậy, bộ sưu tập công cụ “phát rừng làm rẫy” của ông phong phú thuộc loại nhất, nhì Việt Nam với gần 100 dụng cụ.
Ngoài hiện vật, ông Toàn còn tự mình chụp, tập hợp hình ảnh về cảnh sinh hoạt của đồng bào, từ những sinh hoạt đơn giản như đan lờ bắt cá, dệt vải đến những nghi lễ tín ngưỡng truyền thống lạ mắt. Ảnh được ông phóng lớn khổ 20 x 30cm và xếp thành tập, nặng đến 10kg.
Chưa có cơ quan nào đứng ra thẩm định giá trị bộ sưu tập tư nhân của ông Toàn, chỉ biết rằng nó rất quí. Nghe nói, có người từ TPHCM lên tận nhà xem và ngỏ lời mua lại bộ sưu tập với giá ba trăm triệu nhưng ông không bán. Ông bộc bạch: “Từ trước đến giờ tôi không muốn bán nhưng mai mốt thì không còn đủ sức khuân ra, khuân vào. Tôi lại cần tiền để sửa chữa lại ngôi nhà đang xuống cấp, mua sắm cho vợ con nên biết đâu…”. Ông mong được Nhà nước cho thuê một mảnh đất thuận lợi gần khu trung tâm, rồi sẽ bán nhà, đất để đầu tư xây dựng một điểm trưng bày khang trang.
(SGGP) |
|
|
28/06/2004 |
Nguyễn Trung Hiếu Trong hệ
thống di tích vốn ít ỏi của TP Đà Nẵng, thành Điện Hải là di tích quan trọng gần
như độc tôn. Gần 200 năm thành Điện Hải tồn tại như cây cỏ, mới đây dư luận mới
"chợt nhớ" khi một đoạn tường thành vòng ngoài của di tích được phát hiện. Thế
nhưng sẽ có ý nghĩa gì khi tương lai không xa nơi đây sẽ giống một "disneyland"
dưới bóng những toà nhà 17-20 tầng cùng những chung cư đang hối hả xây
dựng?
) |
Đoạn tường thành vòng ngoài
mới được phát lộ. | Quá khứ oanh
liệt... Năm 1813, Vua Gia Long cho xây đồn Điện Hải gần cửa biển Đà
Nẵng. Sau đó 10 năm, Vua Minh Mạng dời đồn này vào đất liền, xây kiên cố bằng
gạch, rồi đổi tên là thành Điện Hải. Năm 1847, trước sự nhòm ngó của thực dân
Pháp, Vua Thiệu Trị cho mở rộng thành có chu vi 556m, thành cao hơn 5m, chung
quanh là hào sâu 3m, biến nơi đây trở thành một cứ điểm phòng ngự có hành cung,
kỳ đài, các cơ sở chứa lương thực, đạn dược, thuốc súng và được trang bị 30 ụ
súng đại bác cỡ lớn. Thành xây theo kiểu Vauban. |
|
Xem tiếp...
|
|
| | << Đầu tiên < Trước 51 52 53 54 55 56 57 Kế > Cuối cùng >>
| | Kết quả 766 - 780 của 853 | |
|
|
|
|
|
|
© Copyright
2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved.
Contact
us ® Ghi rõ nguồn
"MienTrung.com" khi bạn phát hành lại
thông tin từ website này. |
|
|