|
|
|
Trang chính Kinh tế |
|
| |
|
|
|
Kinh tế
|
14/07/2004 |
|
Chưa bao giờ, người trồng mía ở xã Nhơn Thọ (An Nhơn), mà nhất là thôn Đông Bình, lại trăn trở với việc trồng mía như hiện nay. Theo ông Nguyễn Đức Thành, Trưởng thôn Đông Bình, toàn thôn có 520 hộ thì có đến 300 hộ trồng mía. Nhưng đó là trước đây, giờ thì số người trồng mía của thôn đã giảm gần một nửa.
|
|
Con đường này, đã "ngốn" một khoản tiền trung chuyển của người trồng mía ở Đông Bình |
Nguyên nhân của việc người nông dân nơi đây không còn thiết tha gì đến việc trồng mía cũng chỉ tại con đường vào vùng trồng mía của thôn. Do con đường xuống cấp trầm trọng nên họ phải chịu một khoản tiền khá lớn cho việc trung chuyển mía bằng cộ trâu. Trước đây, đến thời điểm thu hoạch, xe vận chuyển mía của BISUCO đến Đông Bình thu mua tận nơi. Còn giờ đây, các con đường vào ruộng mía xuống cấp trầm trọng, xe của Công ty đành phải "ở xa nhìn vào", chờ cộ trâu trung chuyển ra điểm tập kết.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng ở xóm Quý Viên (Đông Bình) bức xúc: "Giá mía thì thấp, Công ty lại bắt chúng tôi phải gánh chịu một khoản tiền trung chuyển mía từ cộ trâu đến địa điểm tập kết. Cứ mỗi tấn mía vận chuyển bằng cộ trâu giá từ 17 đến 20 ngàn đồng, tùy xa gần. Đó là chưa kể tiền lệ phí qua trạm thu phí, tiền cơm nước cho tài xế trong lúc chờ cân mía". Lúc trước, nhà ông Hùng làm được 4 sào mía nhưng do không kham nổi khoản tiền trung chuyển nên gia đình đã giảm xuống còn 2 sào trong năm nay. Và không riêng gì người trồng mía ở Đông Bình, nhiều người trồng mía ở nơi khác trong xã cũng đang gánh chịu những khoản chi phí tương tự. Điều này đã làm cho người trồng mía Nhơn Thọ đang quay lưng lại với cây mía.
Mặc dù trong thời gian gần đây, Công ty Cổ phần đường Bình Định (BISUCO) đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ để thu hút người trồng mía, như: Tăng mức cho vay ưu đãi từ 5 triệu đồng lên 8 triệu đồng để trồng mới 1 ha mía; thực hiện bảo hiểm giá mua tối thiểu 200 ngàn đồng/tấn mía có 10 chữ đường... Dù vậy nhưng người trồng mía Nhơn Thọ vẫn chưa chịu mặn mà trở lại với cây mía vì mức lãi không cao. Ông Dương Ngọc Quảng, ở xóm Đông Viên, năm trước trồng 5 sào mía, sau khi thu hoạch xong tính lại không có lãi bao nhiêu. Giờ, ông đã chuyển 5 sào trồng mía sang trồng các loại cây ngắn ngày khác. Ông Quảng cặn kẽ: "Cứ 1 sào mía thu hoạch được 3-4 tấn, giá 200 ngàn đồng/tấn, nếu 4 tấn thì thu được 800 ngàn đồng/sào. Trong khi đó, chi phí mua giống mất 100 ngàn, tiền phân 170 ngàn, tiền bơm nước 3 đợt 42 ngàn, tiền công thuê chặt mía 125 ngàn, tiền thuê cộ trâu trung chuyển 68 ngàn, tiền công chăm sóc... Đến khi thu hoạch tính lại chẳng lời được bao nhiêu, thà chuyển sang trồng cây khác cho chắc ăn".
|
|
Ông Quảng đang lo âu cho việc thu hoạch mía sắp tới |
Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Võ Vạn An, Chủ tịch HĐND xã Nhơn Thọ, cho biết: "Người trồng mía trong xã đã kiến nghị nhiều lần về việc các con đường xuống cấp trầm trọng, không thể vào tận nơi vận chuyển mía được. Trong khi đó, tỉnh và BISUCO cũng đã có chủ trương mỗi năm trích một phần lợi nhuận để tu bổ lại các con đường nhưng lâu nay không thấy gì. Chính điều này đã ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người trồng mía".
Nhơn Thọ là vùng đất rất thích hợp cho việc trồng mía, mía ở đây có chữ đường khá cao. So với các xã khác trong huyện, Nhơn Thọ là xã có diện tích trồng mía nhiều nhất. Những năm gần đây, do giá mía bấp bênh, nhiều người đã từ bỏ cây mía để chuyển sang trồng dưa hấu, đậu nành, đậu phụng, bắp... thu lãi cao hơn. Năm 2004, diện tích trồng mía của toàn xã chỉ có 115 ha, so với năm trước giảm 33 ha. Ông Trương Chinh, Chủ tịch UBND xã, trăn trở: "Cứ cái đà này, trong thời gian tới sẽ có nhiều người từ bỏ cây mía để chuyển sang cây trồng khác có lãi hơn. Có hai vấn đề lớn mà người dân trong xã nói chung và người dân thôn Đông Bình nói riêng, nhiều lần kiến nghị lên BISUCO là phải sửa chữa kịp thời các con đường vận chuyển mía. Làm mới những tuyến đường đi vào những vùng có diện tích trồng mía lớn. Đó là cách làm giảm đi phần chi phí trung chuyển cho người trồng mía. Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống nước tưới cũng phải cần quan tâm. Nếu không, diện tích trồng mía ngày càng giảm và kế hoạch xây dựng vùng nguyên liệu mía của tỉnh đến năm 2010, Nhơn Thọ sẽ có 380 ha trồng mía là không thể thực hiện được".
Chúng tôi đem những trăn trở của người trồng mía Nhơn Thọ trao đổi với ông Thiệu Thanh Huy, Trạm trưởng Trạm thu mua phát triển nguyên liệu số 3 (BISUCO), được ông Huy cho biết: "Do trong các đợt thu hoạch trước, mỗi tấn mía trung chuyển được Công ty hỗ trợ 10 ngàn đồng/tấn. Nhưng, trong đợt thu hoạch vừa rồi giá đường giảm thấp, Công ty không còn hỗ trợ tiền trung chuyển cho người trồng mía. Còn về việc sửa chữa các tuyến đường để phục vụ cho việc chuyên chở mía, hàng năm Công ty vẫn trích kinh phí ra thực hiện. Nhưng do nguồn kinh phí có hạn, không thể thực hiện đại trà được. Riêng tuyến đường vào vùng trồng mía của thôn Đông Bình, chúng tôi đã báo cáo lên lãnh đạo Công ty và Công ty hứa trong năm nay sẽ sửa chữa, nâng cấp".
Ông Huy nói vậy nhưng người trồng mía của thôn Đông Bình nói riêng và xã Nhơn Thọ nói chung đã "ngán ngẩm hung" với cái cảnh BISUCO cứ hứa đi rồi hứa lại, giờ họ chỉ tin vào những gì chính mắt mình thấy. Chính vì thế, theo chúng tôi, BISUCO nên sớm thực hiện việc sửa chữa, làm mới các tuyến đường vào các vùng trồng mía như đã cam kết, đồng thời các ngành chức năng của tỉnh sớm mở rộng hệ thống kênh mương để đảm bảo nước tưới cho cây mía ở đây. Nếu tiếp tục chậm trễ, người trồng mía Nhơn Thọ sẽ quay lưng thật sự với cây mía và kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu mía ổn định của tỉnh sẽ bị ảnh hưởng.
(Báo Bình Định) |
|
|
14/07/2004 |
|
“Trước mắt, đồng ý để UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế cấp giấy phép đầu tư vào Khu khuyến khích phát triển kinh tế thương mại Chân Mây đối với các dự án có quy mô vốn đầu tư dưới 40 triệu USD”- là ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về một số chủ trương phát triển kinh tế của tỉnh Thừa Thiên - Huế, được Văn phòng Chính phủ truyền đạt tại thông báo số 134, ngày 12- 7.
Tỉnh được phép kêu gọi đầu tư nước ngoài xây dựng cảng Chân Mây bằng hình thức BOT. Đồng thời, giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp cùng Bộ Tài chính cấp 50 tỷ đồng trong năm 2004 để bổ sung vốn cho công trình Bến số 1 của cảng.
Cũng theo thông báo 134, Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho tỉnh Thừa Thiên - Huế lập dự án xây dựng đường hầm qua sông Hương, trình Thủ tướng xem xét, quyết định. Riêng đề nghị của tỉnh về sử dụng vốn dư của dự án đường hầm Hải Vân sẽ được các Bộ GTVT, Kế hoạch và Đầu tư bàn bạc với JBIC giải quyết.
(NLĐ) |
|
|
14/07/2004 |
|
Đó là Công ty TNHH Mê Kông (TP.Buôn Ma Thuột) do ông Nguyễn Quyền làm giám đốc.
Công trình được xây trên thượng nguồn sông Hinh, có mặt bằng rộng 46ha, thuộc 2 xã Ea M'đoan và Cư Kroá - là vùng sâu, vùng xa của huyện M'đrắc - với số vốn đầu tư 52 tỉ đồng, gồm 2 tổ máy, tổng công suất 5.000kW, mỗi năm sản xuất 24 triệu kWh điện.
Công trình đã được khởi công vào ngày 12.7.2004, dự kiến sẽ hoàn thành vào tháng 12.2005.
(LĐ) |
|
|
13/07/2004 |
Ông Ăm Khanh ở thôn Princ, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tuy là thương binh 2/4, mất một chân nhưng ông lại là một gương điển hình về làm kinh tế giỏi. Khi còn làm Cấp Ủy, Bí thư xã A Dơi, ông luôn cống hiến hết mình vì đồng bào, vận động bà con cố gắng làm kinh tế, bảo vệ rừng, ông thường nói với họ: "Bảo vệ rừng như bảo vệ chính mình vậy".
Từ ngày về nghỉ hưu ông Khanh đã tự nguyện bảo vệ 700 ha rừng và quyết tâm làm kinh tế đạt hiệu quả cao. Năm 1994 Ăm Khanh mạnh dạn thế chấp sổ hưu vay vốn ngân hàng làm nhà, làm trang trại để chăn nuôi. Sau khi tự mình mở 3 km đường rùng, tìm địa hình tốt làm chòi, phát quang lau lách, đào 2 ha ruộng, đào 2 ao thả cá, trồng 700 gốc tiêu, 600 gốc caphê, 2 ha sắn, 1 ha ngô và các cây ăn quả khác như dưa các loại, dứa... Hiện nay đàn bò của Ăm Khanh lên đến 30 con, đàn trâu 10 con, dê 8 con. Ngoài nuôi trâu, bò ông còn nuôi rất nhiều gà, ngan. Hàng năm ông còn nhân rộng mô hình trồng trọt và chăn nuôi. Ăm Khanh còn đầu tư 14 triệu đồng mua một máy xát lúa liên hợp để phục vụ bà con trong thôn. Là người làm việc chăm chỉ, ham học hỏi kinh nghiệm sản xuất của những người đồng bằng, áp dụng phù hợp với mô hình rừng núi, mỗi năm gia đình ông Khanh thu nhập trên 40 triệu đồng từ lúa, ngô, sắn, tiêu, caphê, cá...
Không chỉ đi đầu trong kinh tế, Ăm Khanh còn là người luôn dẫn đầu trong công tác xây dựng Đảng. Mặc dù sống ở trên chòi canh, cách trụ sở của Đảng, chính quyền của xã đến 7 km, mỗi lần đi bộ ra đó phải mất hơn 2 tiếng đồng hồ, nhưng không khi nào lãnh đạo của xã mời hợp ông lại vắng mặt. Trong những cuộc họp ông thường đưa ra những ý kiến kiên quyết đấu tranh với những gia đình không biết xây dựng gia đình văn hóa và làm kinh tế...Ông đã được xã cử đi dự và báo cáo thành tích cùng với Hội cựu chiến binh về gương sản xuất giỏi tại huyện.
Nguyện vọng trước hết của Ăm Khanh bây giờ là được lâm nghiệp xã, huyện cấp giấy phép để bảo vệ tốt hơn 700 ha rừng, thứ nữa là sang năm ông sẽ ra huyện xin được vay vốn ngân hàng để tăng cường làm thêm kinh tế, đầu tư và trồng trọt, chăn nuôi nhiều hơn. Đồng thời ông cũng mong muốn đồng bào mình xây dựng Đảng, chịu khó học hỏi làm kinh tế giỏi để góp phần đưa thôn, xã nhà tiến lên vững mạnh. Hy vọng cùng với Ăm Khanh-đồng bào dân tộc Vân Kiều-PaKô ở các xã của huyện luôn phát triển kinh tế để góp phần xây dựng bản làng giàu mạnh, tiến bộ, văn minh. |
|
|
12/07/2004 |
|
|
|
|
Khách sạn Yasaka-Saigon-Nhatrang.
|
Ngày 9-7, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã trao giải 10 khách sạn và 10 công ty lữ hành hàng đầu ở Việt Nam. Theo đó, 10 khách sạn hàng đầu của Việt Nam gồm New World, Bến Thành (Rex), Đệ Nhất, Sofitel Plaza, Nikko Hà Nội, Melía Hà Nội, Sofitel Metropole, Hội An, Hương Giang và Yasaka-Saigon-Nhatrang.
Mười công ty lữ hành hàng đầu của Việt Nam là liên doanh du lịch Exotissimo-Cesais, liên doanh du lịch Apex Việt Nam, liên doanh du lịch Hồ Gươm - Diethelm, Công ty dịch vụ Du lịch Bến Thành, Công ty Du lịch Thanh Niên xung phong, Công ty Du lịch Việt Nam tại Hà Nội, Công ty Thương mại dịch vụ Tân Định (Fiditourist), Công ty Du lịch Hà Nội, Công ty Du lịch Hòa Bình, Công ty Du lịch Hương Giang.
Điều kiện trở thành các khách sạn hàng đầu là bảo đảm an ninh trật tự trong khách sạn, bảo đảm tuyệt đối an toàn về tài sản và tính mạng cho khách đến lưu trú và vui chơi giải trí, an toàn vệ sinh thực phẩm, thực hiện tốt việc tổ chức những khóa học ngắn hạn để bồi dưỡng nâng cao, đào tạo, đào tạo lại về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ cho cán bộ nhân viên trong khách sạn.
Điều kiện trở thành các doanh nghiệp lữ hành quốc tế hàng đầu là đảm bảo kinh doanh lành mạnh, không vi phạm các quy định về tài chính, kế toán, thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao và đón được tối thiểu 7.000 khách du lịch quốc tế.
(Báo Khánh Hòa) | |
|
|
12/07/2004 |
|
Đến tuần đầu tháng 7 này, dự án tiền khả thi về xây dựng Công viên khoa học Đà Lạt đã cơ bản hoàn tất và sẽ được chính thức đưa vào hoạt động trong tương lai gần. Có thể nói, đây chính là một cơ hội mới cho sự phát triển thị trường khoa học công nghệ của tỉnh Lâm Đồng nói riêng và cả khu vực nói chung.
Có thể hiểu: Công viên khoa học (CVKH) là một trung tâm khoa học công nghệ (KHCN) nhằm mục đích cung cấp những dịch vụ kinh doanh chất lượng cao và làm nhiệm vụ tạo môi trường liên kết các nguồn tri thức trong và ngoài nước. Điều đáng lưu tâm nữa là, CVKH là cơ sở để triển khai thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học và hỗ trợ những sáng kiến kinh doanh.
Một thị trường KHCN đã mở ra Ở Việt Nam, Đà Lạt được xác định là một trong những trung tâm giáo dục, khoa học và công nghệ của Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Bởi thế, với Đà Lạt, điều kiện để phát triển thị trường KHCN đã có và xem ra khá thuận lợi. Nhận biết điều này, ngay từ năm 2001, Sở KHCN Lâm Đồng đã cùng với Công ty tư vấn Việt Tân (Hà Nội) tiến hành tìm đối tác để cùng tham gia nghiên cứu lập dự án xây dựng CVKH Đà Lạt. Và đối tác đã được tìm thấy: Neopoli và Finnconsult - hai công ty tư vấn và phát triển hàng đầu của Phần Lan. "Đà Lạt - Lâm Đồng hội đủ những điều kiện để trở thành một trung tâm KHCN trong khu vực với đầy đủ các ngành khoa học ứng dụng như kỹ thuật vật lý nguyên tử, công nghệ sinh học, môi trường, dược phẩm, nông nghiệp...Do vậy, việc hình thành CVKH Đà Lạt là việc làm không thể chần chừ" - Giám đốc điều hành CVKH Neopoli, trưởng đoàn nghiên cứu tại Lâm Đồng - ông Hannu Kooko - sau một thời gian làm việc tại Đà Lạt đã nhận xét như vậy.
Sau hơn 3 năm hợp tác giữa Sở KHCN Lâm Đồng và Công ty tư vấn Việt Tân (Hà Nội) cùng với Neopoli và Finnconsult của Phần Lan, dự án xây dựng CVKH Đà Lạt đã cơ bản hoàn tất và sẽ được đưa vào hoạt động trong tương lai không xa nhằm mục đích chính là góp phần thúc đẩy nền kinh tế địa phương phát triển trên con đường hiện đại hóa, công nghiệp hóa và hội nhập với thị trường kinh tế thế giới. Ông Hannu Kooko cho biết, CVKH Đà Lạt bao gồm các ngành kinh doanh và dịch vụ rất thiết thực và có khả năng mang lại hiệu quả cao về nhiều mặt như các ngành nông nghiệp công nghệ cao, lâm nghiệp và chế biến lâm sản, sinh học, tin học ứng dụng, môi trường, du lịch, di sản kiến trúc... Trước mắt, CVKH Đà Lạt nhằm vào các doanh nghiệp địa phương trong việc ứng dụng KHCN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tìm kiếm thị trường, tiếp cận các nguồn đầu tư để phát triển công nghiệ hiện đại... Theo đó, dự kiến ở giai đoạn thử nghiệm, CVKH Đà Lạt sẽ thu hút khoảng 20 công ty và trên dưới 100 nhân lực vào làm việc và nguồn vốn hoạt động là các khoản vay ưu đãi, các loại quỹ phát triển công nghệ, các chương trình tài trợ, vốn địa phương, vốn cổ đông...
Hội nhập quốc tế Trên thế giới, CVKH đã xuất hiện từ hơn 50 năm trước đây. Đến lúc này, trên hầu khắp các châu lục đều đã có CVKH với con số thống kê không dưới 1.000. Quá trình phát triển CVKH của thế giới được đánh dấu bằng sự kiện đáng nhớ vào năm 1984 với sự ra đời của tổ chức Hiệp hội CVKH quốc tế (IASP). Hiện tổ chức hiệp hội này đã thu hút gần 300 hội viên của 64 quốc gia tham gia. Tại quốc gia Phần Lan, tổ chức CVKH được ra đời vào năm 1981 và đã phát triển lên được 7 đơn vị CVKH vào năm 1990. Con số này đã được tăng lên 24 đơn vị từ năm 2002 với tổng số khoảng 15.000 chuyên gia làm việc trên nhiều lĩnh vực, cung cấp dịch vụ cho không dưới 2.000 công ty. Tại Trung Quốc, quốc gia cận kề Việt Nam, tính đến nay cũng đã có 20 CVKH chuyên sâu trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp. Hoặc như Malaysia: CVKH đã được đầu tư với nguồn vốn hàng tỷ USD để dự kiến trnog vòng 10 năm tới thu hút được nguồn vốn trên 10 tỷ USD của khoảng 150 công ty trong và ngoài nước đầu tư trên nhiều lĩnh vực nhằm tạo việc làm và thu nhập cho không dưới 30.000 lao động.
Tại Việt Nam, việc ra đời của CVKH Đà Lạt vào khoảng cuối năm 2004 này tuy không còn sớm nhưng quả thực là rất cần thiết cho sự phát triển chung của quốc gia.
(LĐ) |
|
|
10/07/2004 |
|
Đầm Thị Nại có diện tích mặt nước rộng gần 5.000 ha, trải dài từ thành phố Quy Nhơn cho đến huyện Phù Cát. Vùng đầm này có phong cảnh đẹp và nhiều loài thủy sản quý, góp phần nuôi sống cả vạn cư dân ven đầm sống bằng các nghề đánh bắt truyền thống.
|
|
Chồ rớ hoạt động nhộn nhịp trở lại trên đầm Thị Nại |
Hơn 10 năm nay, nguồn lợi thủy sản ở đầm Thị Nại ngày càng cạn kiệt bởi tệ nạn "xiếc máy, xung điện". Đời sống của các hộ ngư dân hành nghề truyền thống đánh bắt thủy sản trên đầm gặp nhiều khó khăn. Từ đầu năm 2003 đến nay, nhờ hoạt động có hiệu quả của đội công tác phòng chống xung điện xiếc máy thuộc huyện Tuy Phước và Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản nên bà con ngư dân có điều kiện phục hồi các nghề chờ rớ, lưới gõ, ngao… Theo ông Nguyễn Thành Hoàng, nhân viên Đội phòng chống xung điện xiếc máy trên đầm Thị Nại, đến nay, đội đã tóm gọn 17 ghe hoạt động xiếc máy, 78 phương tiện hoạt động xung điện khai thác thủy sản trái phép, làm giảm tối đa hoạt động hủy hoại nguồn lợi thủy sản. Nhờ vậy mà các loài tôm, cá… mới có cơ hội sinh sôi, nảy nở hồi phục trở lại.
Sự trở lại của các loài thủy sản làm hồi sinh nghề đánh bắt truyền thống, nhiều người bỏ nghề từ lâu nhưng nay đã quay về với nghề cũ. Ông Văn Dũng, ở thôn Vinh Quang 2 xã Phước Sơn, Tuy Phước, cho biết: "Gia đình tôi làm nghề chồ rớ "cha truyền, con nối", nhưng nhiều năm nay, nghề này bấp bênh lắm, đi có về không, nhiều người đã bỏ nghề. Nhưng vài tháng gần đây, thấy tôm, cá xuất hiện nhiều trở lại, làm chồ rớ cũng kiếm được từ 40-70 nghìn đồng/đêm, nên nhiều người làm lại nghề chồ rớ". Toàn thôn Vinh Quang 2 có thêm 10 hộ chồ rớ mới có 37 hộ khác còn giữ được chồ rớ cũ bây giờ có dịp cắm lại để làm, nhiều hộ thu được gần 100 nghìn đồng qua một đêm hành nghề. Sau bão số 2, có một số chồ thu được 200-400 nghìn đồng do trúng tôm sú, tôm đất, tôm bạc và cả tôm rằn hơn chục kg. Ông Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã Phước Hòa, Tuy Phước cho biết: "2 thôn Kim Đông và Huỳnh Giản của Phước Hòa hiện rất đông bà con quay lại làm nghề chồ rớ. Mất mùa tôm liên tiếp 3-4 năm làm họ chán việc nuôi tôm. Nghề chồ rớ đang là cứu cánh của họ".
Ngoài nghề chồ rớ, một số nghề đánh bắt truyền thống khác như nghề đánh lưới nổi bắt cá, đánh lưới chìm bắt tôm, cua, ghẹ; nghề trủ ngao… cũng cho thu nhập khá. Ông Đỗ Văn Định, chuyên làm nghề lưới chìm, bộc bạch: "Xóm 19 và 20 của thôn Vinh Quang 2 hiện nay có đông người làm nghề chài lưới, thu nhập 40-50 nghìn đồng/ngày/người. Trước đây đánh lưới tôm họa hoằn lắm mới trúng con tôm bạc, tôm rằn, bây giờ thì trúng thường xuyên. Nếu dẹp hẳn được tệ nạn xung điện xiếc máy thì bà con làm nghề truyền thống chúng tôi có của ăn, của để". Hiện tại, thôn Vinh Quang 2 có 800 hộ thì có 30% số hộ làm nghề chồ rớ, 20% làm nghề đặt đó soi đèn, 40% làm nghề đánh lưới và nghề trủ ngao.
Hy vọng nguồn lợi thủy sản đầm Thị Nại dần hồi phục như xưa, là chỗ dựa cho nghề đánh bắt truyền thống phát triển, vừa góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, đem lại nguồn thu nhập ổn định bảo đảm đời sống cho ngư dân ven đầm. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là việc tổ chức các nghề đánh bắt truyền thống cần được quy hoạch, phù hợp với an toàn giao thông đường thủy trên đầm.
(Báo Bình Định) |
|
|
10/07/2004 |
|
Từ 1 đến 7-7 tại TP. Hồ Chí Minh đã diễn ra Hội chợ triển lãm Quốc tế hàng Công nghiệp tại Việt Nam do Bộ Công nghiệp tổ chức. Bình Định có 5 doanh nghiệp và 2 gian hàng trưng bày của Sở Công nghiệp tham gia Hội chợ.
Kết thúc Hội chợ, đã có 3 sản phẩm của 3 doanh nghiệp Bình Định được Ban tổ chức trao cúp vàng và huy chương vàng. Trong đó sản phẩm máy lọc sạn của Cơ sở cơ khí Đông Hải và rượu Bầu Đá Ngọc Hương cùng nhận cúp vàng cho thương hiệu sản phẩm và huy chương vàng cho chất lượng sản phẩm; Công ty Bia Quy Nhơn nhận huy chương vàng cho chất lượng sản phẩm.
Được biết, Hội chợ này có trên 800 gian hàng của các doanh nghiệp, đơn vị trong và ngoài nước tham gia.
(Báo Bình Định) |
|
|
09/07/2004 |
|
|
 |
|
Động thổ khởi công nhà máy. |
Lễ khởi công xây dựng nhà máy diễn ra vào hôm qua (8/7) tại Khu công nghiệp Điện Nam-Điện Ngọc (Điện Bàn, Quảng Nam). Dự án toạ lạc trên diện tích 4ha, có vốn đầu tư giai đoạn 1 là 4 triệu USD và sẽ nâng lên 7 triệu USD trong giai đoạn 2.
Dự kiến nhà máy sẽ đi vào hoạt động đầu năm 2005, giải quyết 200 lao động tại chỗ và có tỷ lệ xuất khẩu khoảng 60% tổng sản lượng hằng năm. Theo ông Nguyễn Đức Lành, Giám đốc Công ty Phát triển Đô thị và Khu Công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng, sau khi lấp đầy diện tích giai đoạn 1 với 38 nhà đầu tư, giải quyết việc làm cho 15.000 lao động, đến nay việc xây dựng nhà máy thủy sản Việt-Hoa có ý nghĩa hết sức quan trọng do đây là dự án đầu tiên trong 6 dự án đã đăng ký cho giai đoạn 2 của Khu Công nghiệp Điện Nam-Điện Ngọc.
(Thanh Niên) | |
|
|
08/07/2004 |
|
Huyện Phù Cát hiện có 1.635 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN), thu hút 4.197 lao động. Những năm gần đây, ngành CN-TTCN Phù Cát có sự phát triển, song chưa mạnh, tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ đạt 14%/năm, thấp hơn tốc độ tăng trưởng chung của toàn tỉnh 5,4%.
* Thực trạng chung
Phải khẳng định rằng, Phù Cát là huyện phát triển đa dạng về kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp. Thế nhưng, các cơ sở chế biến nông - lâm - thủy sản của Phù Cát hiện nay chỉ mới dùng lại ở khâu sơ chế với quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu là trong dân cư. Ngành cơ khí thì cũng chỉ mới dừng lại ở mức lắp ráp xe độ chế, máy tuốt lúa, máy lọc sạn và các cộng cụ cầm tay… phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Lĩnh vực sản xuất gạch ngói cũng "teo" dần do nguyên liệu và đầu ra sản phẩm không ổn định. Làng nghề truyền thống thì cũng đang dần bị mai một, chỉ còn 4 làng nghề chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn, sản phẩm làm ra chỉ tiêu thụ được ở các chợ nông thôn, giá sản phẩm thấp.
Ngoài những tồn tại nêu trên, hạn chế khó lớn nhất hiện nay của sản xuất CN-TTCN Phù Cát là tâm lý làm ăn nhỏ lẻ trong một bộ phận người sản xuất. Bởi vậy, tốc độ mở rộng sản xuất của ngành CN-TTCN không theo kịp tác động của thị trường. Đến nay, toàn huyện mới chỉ có 10 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp với quy mô nhỏ, giá trị sản xuất mỗi năm chỉ đạt 9 tỉ đồng.
* Giải pháp phát triển
Để khắc phục hạn chế, đẩy mạnh phát triển CN-TTCN của huyện trong thời gian tới, Phù Cát đã xây dựng và đang triển khai đề án phát triển CN-TTCN trên địa bàn huyện đến năm 2010 và những năm tiếp theo. Trên cơ sở xác định kinh tế công nghiệp vẫn là thế mạnh thứ 2 sau nông nghiệp, huyện chủ trương phát triển tất cả các ngành, các lĩnh vực sản xuất công nghiệp theo hướng CNH-HĐH. Trước mắt, địa phương tập trung giải quyết những vướng mắc trong sản xuất kinh doanh mà các hộ sản xuất thường gặp phải, như thủ tục hành chính, mặt bằng sản xuất, nguồn vốn…
Về thủ tục hành chính, huyện giao cho Phòng Công nghiệp - Xây dựng chịu trách nhiệm giúp đỡ và hoàn tất phần giấy tờ trong thời gian ngắn nhất cho các đối tượng có nhu cầu đầu tư xây dựng, đăng ký kinh doanh trên địa bàn huyện. Về nguồn vốn, huyện ưu tiên cho các cơ sở mới thành lập, cơ sở thay đổi máy móc thiết bị công nghệ mới và đầu tư mở rộng sản xuất được vay các nguồn vốn ưu đãi cũng như các nguồn vốn thương mại khác. Song song với những biện pháp đó, huyện còn tiến hành quy hoạch các cụm công nghiệp (CCN) tập trung để giải quyết mặt bằng sản xuất cho các đơn vị. Ngoài ra, những cơ sở đăng ký vào sản xuất tại các CNN tập trung này còn được hưởng chính sách về giá thuê đất, miễn giảm thuế, hỗ trợ vay vốn ưu đãi trung và dài hạn…
Hiện các giải pháp này được xem là một hướng mở cho sự phát triển của ngành CN-TTCN Phù Cát, và trên thực tế bước đầu đã đem lại được kết quả khả quan. Mặc dù các CCN trên địa bàn huyện mới chỉ ở giai đoạn quy hoạch và đang xây dựng nhưng đã có nhiều cơ sở đăng ký vào hoạt động. CCN Gò Mít (thị trấn Ngô Mây) mới hoàn tất 50% khối lượng xây dựng cơ bản nhưng đã có 10 đơn vị đăng ký, trong đó có 4 doanh nghiệp đầu tư xây dựng và đã đi vào sản xuất. CCN Cát Minh đang tiến khâu hành quy hoạch nhưng cũng đã có 19 cơ sở sản xuất gạch ngói trong khu dân cư đăng ký xin chuyển vào…
Hy vọng, với những động thái tích cực này, thời gian đến ngành CN-TTCN huyện Phù Cát sẽ phát triển mạnh.
(Báo Bình Định) |
|
| | << Đầu tiên < Trước 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 Kế > Cuối cùng >>
| | Kết quả 841 - 855 của 947 | |
|
|
|
|
|
|
© Copyright
2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved.
Contact
us ® Ghi rõ nguồn
"MienTrung.com" khi bạn phát hành lại
thông tin từ website này. |
|
|