Trang chính
Xã hội
Văn hóa
Du lịch
Lịch sử
Kinh tế
Khoa học
Y tế - Giáo dục
Tin học
Môi trường
Dịch vụ
Ẩm thực
Thể thao
Tản văn
Tin mới nhất

Trang chính arrow Kinh tế
Advertisement
 
Kinh tế
50 dự án đăng ký đầu tư vào KCN Dung Quất PDF In E-mail
28/06/2004

Theo ông Trần Lê Trung, Trưởng Ban quản lý Khu công nghiệp (KCN) Dung Quất, Ban quản lý đã nhận được trên 50 dự án đăng ký đầu tư vào Khu công nghiệp Dung Quất với tổng vốn đăng ký 14.281 tỷ đồng.

Từ nay đến cuối năm, Ban quản lý Khu công nghiệp Dung Quất sẽ cấp giấy phép đầu tư từ 10 đến 12 dự án với tổng vốn đầu tư 2.500 đến 3.000 tỷ đồng.

Từ đầu năm đến nay, Ban quản lý đã cấp giấy phép đầu tư cho 8 dự án đầu tư vào Khu công nghiệp Dung Quất với tổng số vốn đầu tư trên 1.548 tỷ đồng, nâng số dự án đầu tư vào KCN lên 38 dự án với tổng vốn đăng ký là 34.800 tỷ đồng.

Hiện KCN có 12 dự án đã hoàn thành, 12 dự án đang triển khai xây dựng, 8 dự án chuẩn bị xây dựng và 6 dự án đang đền bù, giải tỏa mặt bằng.

(Thời báo kinh tế Việt Nam)

 
Quảng Nam: Khôi phục, phát triển các làng nghề dệt thổ cẩm Cơtu, Bhơnoong PDF In E-mail
28/06/2004

Với đề án khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống của Quảng Nam, Tổ chức Cứu trợ và phát triển quốc tế Nhật Bản FIDR đầu tư 10.000 USD nhằm khôi phục, phát triển nghề dệt thổ cẩm cho đồng bào Cơtu.

Dự án này sẽ kéo dài từ 2001-2008, triển khai ở 17 thôn của 2 xã Cady, Tàbhing (huyện Nam Giang). Trong khi đó, dự án khôi phục nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc Bhơnoong (huyện Phước Sơn) giai đoạn đầu cũng đã được địa phương đầu tư 140 triệu đồng để mở các lớp dạy nghề dệt cho thanh niên. Riêng dự án khôi phục làng dệt thổ cẩm ở huyện Đông Giang đã được Tổ chức Tầm nhìn thế giới hỗ trợ, giải quyết cho khoảng 50 lao động nữ với kinh phí ban đầu của địa phương là 30 triệu đồng.

(Thanh Niên)

 
Đối thoại cùng ông Hồ Việt – Trưởng đại diện văn phòng Tổng cục Du lịch PDF In E-mail
28/06/2004

Loạt bài khởi động mùa du lịch của Báo Người Lao Động bắt đầu từ tháng 5 -2004 vừa qua đã ghi nhận nhiều ý kiến của du khách trong và ngoài nước. Một trong những trọng điểm mà du khách hướng tới và góp ý nhiều là các tỉnh miền Trung.

Với lợi thế tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn nổi trội và đặc sắc trong cả nước, miền Trung – Tây Nguyên được xác định là một trong những trọng điểm phát triển du lịch Việt Nam, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tiềm năng này còn trong mơ ? Chúng tôi thực hiện phút nói thật với người có trách nhiệm.

Đầu tư chẳng thấm vào đâu!

. Phóng viên: Đề án của Tổng cục Du lịch (TCDL) đã đề xuất nhiều giải pháp được cho là khả thi, theo ông, liệu có kết quả tốt? Ngân sách Nhà nước đã rót 678,25 tỉ đồng (giai đoạn 2001-2004) cho ngành du lịch khu vực này, thế nhưng số khách quốc tế đến miền Trung - Tây Nguyên chỉ chiếm 10% cả nước?

- Ông Hồ Việt: Mức hỗ trợ của Nhà nước như thế mới đáp ứng khoảng 30% - 40% nhu cầu đầu tư. Còn đầu tư của các công ty du lịch vào hạ tầng xem như không đáng kể bởi quan niệm “con gà đẻ trứng vàng”. Có mấy cái “trứng vàng di sản” đó, không lẽ cứ cho “con gà” nó ăn bữa đói, bữa no mà cũng lại đẻ ra “trứng vàng” nữa...? Cũng một phần do hoàn cảnh tự nhiên - xã hội. Miền Trung là vùng đất khó, chịu ảnh hưởng nặng nề của hai cuộc chiến tranh. Năm 2002, trong khi GDP cả nước bình quân 400 USD/đầu người/năm thì ở miền Trung chỉ là 285 USD, ở Tây Nguyên là 275 USD. Khái niệm làm du lịch vẫn còn mới đối với nhiều tỉnh, thành.

Cán bộ du lịch: Thiếu cả “tâm” lẫn “tầm”

. Thế nhưng, thưa ông, không thể cứ đổ lỗi cho hoàn cảnh lịch sử mãi. Quan trọng là chiến lược phát triển du lịch và những con người thực hiện chiến lược đó?

- Tôi cũng nghĩ như vậy. Hiện nay, năng lực của người làm du lịch ở đa số các địa phương đều không đáp ứng được yêu cầu công việc. Nói chung, về công tác cán bộ còn yếu kém nhiều mặt. Điều này rất dễ lý giải: Họ không được đào tạo bài bản, khi có điều kiện đi học thì địa phương thiếu kinh phí, đành ách lại! Hơn nữa, di sản có đấy, tiềm năng du lịch có đấy, nhưng cán bộ ngại khó, hoặc thiếu cái tâm thì ngành du lịch địa phương cũng “đói” bởi người đầu ngành không làm hết trách nhiệm. Đó cũng là nguyên nhân khiến ngành du lịch trong khu vực cứ ì ạch mãi trong nhiều năm qua, chưa có bước đột phá.

. Điều ông vừa nói, có nghĩa là rất cần cái tâm của người làm du lịch. Nhưng cái tâm chưa đủ, mà cần phải có cái tầm nữa. Tôi lấy ví dụ ở Quảng Bình: Nếu có “tầm” thì đã không có chuyện người dân xây dựng khách sạn mini ồ ạt tại khu vực gần Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng sau ngày 15-2-2004, khi Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, khiến cảnh quan di sản bị phá vỡ.

- Đấy đấy, tôi cũng có đề cập ở trên rồi. Cán bộ ngành du lịch của ta vừa thiếu lại vừa yếu. Như thế thì thiệt hại cũng khó lường lắm. Ra biển Cửa Tùng (Quảng Trị) thì rõ ngay. Bãi biển đẹp như thế, hấp dẫn như thế, lại giao cho... cấp xã quản lý, làm ăn chẳng ra cái thể thống gì cả. Hậu quả là biển Cửa Tùng bị phá nát, du khách bỏ Cửa Tùng vào biển Đà Nẵng, biển Cửa Đại. Còn Khu Du lịch sinh thái nước khoáng Bang (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình), chính quyền địa phương lại giao cho một công ty... sản xuất vật liệu xây dựng đầu tư và khai thác, chứ không phải là một công ty du lịch. Làm sao có hiệu quả cao cho được!

Muốn tiêu tiền nhưng bị cấm

. Du khách nước ngoài đến với Hội An rất đông, thế nhưng dịch vụ cho khách còn rất hạn chế. Cụ thể là chính quyền thị xã chủ trương cấm tuyệt đối các dịch vụ được cho là “nhạy cảm” như massage, bar, dancing hay hớt tóc thanh nữ... Vì thế, du khách phải “chạy” ra Đà Nẵng để... tiêu tiền?

- Đây đúng là một bất cập, đã từng đem ra mổ xẻ tại hội thảo du lịch ngoài đảo Cù Lao Chàm vừa rồi. Chủ trương của chính quyền thị xã nhìn chung là có lý, nhưng dưới lăng kính của người làm kinh tế-du lịch thì ở một góc độ nào đó có thể cho đây là tư duy cực đoan. Hễ cái gì không quản lý được hoặc khó quản lý là cấm tiệt, làm vậy coi sao được. Nhu cầu của khách rất đa dạng, vấn đề ở chỗ là cần phải có cách nâng cao năng lực quản lý. Trong lúc người làm du lịch ở Singapore chẳng hạn, tìm mọi cách để “móc túi” du khách một cách triệt để thì ta lại từ chối những cơ hội thu tiền. Thế này là tụt hậu. Khách đi du lịch là để xài tiền, mà ta không có chỗ cho họ xài, họ cũng chê ta dở, không tới nữa.

Mạnh ai nấy làm

. Tại sao gần một nửa trong số 10.000 phòng lưu trú tại các tỉnh trong khu vực phải nhờ các hãng lữ hành ở TPHCM và Hà Nội rót khách trong khi chúng ta có 30 hãng lữ hành quốc tế và hàng chục công ty du lịch trong nước từ Nghệ An đến Bình Thuận đang hoạt động?

- Furama Resort (Đà Nẵng) là điển hình ăn nên làm ra, chiếm gần bằng một nửa doanh thu du lịch toàn TP Đà Nẵng. Một số doanh nghiệp Nhà nước khác như Du lịch Hương Giang (Huế), Dịch vụ - Du lịch Hội An (Quảng Nam) cũng làm ăm khấm khá và đáp ứng được nhu cầu phát triển. Đa số các đơn vị du lịch còn lại còn làm ăn theo kiểu cò con, nhỏ lẻ, thiếu hẳn tính chuyên nghiệp, thậm chí còn làm ăn theo kiểu phong trào. Nhìn vào số khách sạn mini đang mọc lên như nấm ở Hội An thì rõ. Hiện đã có 2.500 phòng rồi, năm 2005 sẽ tăng lên 3.000 phòng. Nhưng mà khách ở đâu ra, chẳng lẽ đến Hội An là nằm mãi trong phòng. Công suất phòng trung bình hiện nay ở Hội An chỉ trên dưới 40% thôi. Làm như thế là sẽ hạn chế khả năng ứng dụng công nghệ và mở rộng hoạt động kinh doanh cùng các loại hình dịch vụ bổ trợ.

. Nếu nhìn ra thế giới, khi Thái Lan mở chiến dịch quảng bá “Bất ngờ Thái Lan - Surprising Thailand” thì huy động Bộ Ngoại giao, Hải quan, Vận tải... cùng làm và thực hiện đồng bộ, dài hạn. Còn ở ta thì chưa làm được điều này?

- Đúng như thế, xu hướng quốc tế hiện nay là liên hiệp lại. Một người bạn của tôi đi Thái Lan về, hỏi rằng tại sao Thái Lan làm được mà mình không làm được. Bởi vì người ta biết huy động toàn xã hội và ai cũng có trách nhiệm vì cái chung. Còn ở ta, sự đoàn kết của các công ty du lịch còn yếu lắm, ý thức của người dân cũng chưa cao, chẳng ai chịu nghe ai. Thế là hình ảnh của Việt Nam bị lu mờ. Malaysia đón 14 triệu du khách/năm nhờ làm tốt công tác quảng bá. Việt Nam chỉ 2,5 triệu khách thôi, một phần cũng vì quảng bá kém. Tôi qua Bắc Kinh, đi đâu cũng thấy lời chào, rất nhiều slogan giới thiệu đất nước họ, thậm chí ra chợ thấy người bán hàng rao ầm ĩ cả lên! Còn ở ta, thử nhìn vào một cái chợ đi, có ai rao hàng đâu, không mua thì thôi. Rõ ràng, tính thị trường của du lịch chúng ta còn thấp lắm.

10 giải pháp tăng tốc phát triển du lịch

Theo đề án tăng tốc phát triển du lịch miền Trung - Tây Nguyên, dự kiến đến năm 2005, khu vực miền Trung – Tây Nguyên sẽ đón được 1,2 triệu lượt khách quốc tế, 5,2 triệu lượt khách nội địa. Đến năm 2010, hai con số trên sẽ tăng lên lần lượt là 2,1 triệu và 8 triệu. Thu nhập du lịch cũng tăng từ 335,76 triệu USD (năm 2005) lên 770 triệu USD (năm 2010). Để đạt được mục tiêu này, đề án đưa ra 10 giải pháp, chính sách tăng tốc phát triển du lịch, đó là: Tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho khách du lịch; tăng cường công tác quy hoạch phát triển du lịch; tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh du lịch đạt hiệu quả; đầu tư phát triển du lịch; giải pháp tài chính; phát triển nguồn nhân lực; ứng dụng khoa học, công nghệ; bảo vệ và tôn tạo tài nguyên, môi trường du lịch; an toàn cho du khách và an ninh cho khu vực; hợp tác quốc tế về du lịch

(NLĐ)

 
Vịnh Vân Phong - điểm hẹn mới cho ngành hàng hải PDF In E-mail
26/06/2004
 
Vịnh Vân Phong có một vị trí đặc biệt trên bản đồ thương mại - hàng hải quốc tế, là điểm cực đông của bán đảo Ðông Dương, nằm gần nhất các tuyến đường hàng hải quốc tế từ châu Âu về Ðông-Bắc Á, từ châu Âu qua châu Á đi châu Mỹ, các tuyến Bắc Á đi Nam Á,... và ngược lại.

Xem tiếp...
 
Bình Thuận với định hướng chuyển đổi "bốn cây, một con" PDF In E-mail
25/06/2004
Năm 2003, giá trị thu nhập sản xuất nông nghiệp ở Bình Thuận đạt 12 triệu đồng/ha, tăng 3 triệu đồng/ha so năm 2000. Trong định hướng phát triển nông nghiệp đến năm 2010, Bình Thuận tập trung phát triển nông nghiệp có tỷ suất hàng hóa cao trên cơ sở đi vào chuyên canh một số cây trồng, vật nuôi có lợi thế của địa phương. Bông, điều, cao-su, thanh long và bò là "bốn cây, một con" đang được Bình Thuận tập trung phát triển mạnh trong năm 2004.
 
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm mà Bình Thuận đã xác định phải tập trung thực hiện quyết liệt trong năm 2004. Mục đích của việc chuyển đổi không gì khác hơn là có chế độ canh tác hiệu quả để phát huy lợi thế của địa phương, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu, nhằm nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác. Từ định hướng chuyển đổi chung, thực tế thị trường nông sản và điều kiện cụ thể của địa phương, năm 2004, Bình Thuận tập trung chuyển đổi một số cây trồng để có được hơn 47.400 ha bông, điều, cao-su, thanh long, bốn cây trồng khẳng định lợi thế của Bình Thuận. Về vật nuôi, phát triển đàn bò thịt (155.000 con) là mục tiêu của Bình Thuận trong năm nay. Vậy, Bình Thuận sẽ làm gì để đạt được mục đích này?
Bông vốn là cây trồng không phải xa lạ với Bình Thuận. Năm 2003, toàn tỉnh gieo trồng gần 2.400 ha và trong năm nay sẽ đưa diện tích bông lên 7.000 ha. Vụ đông xuân 2003 - 2004, tỉnh chủ trương chuyển dịch 1.000 ha đất lúa sang trồng bông, nhưng chỉ được 901,5 ha. Tuy không đạt kế hoạch diện tích, nhưng năng suất bình quân toàn tỉnh đạt 24,8 tạ/ha, tính ra lãi ròng và thu nhập từ cây bông vụ đông xuân cao hơn nhiều so với lúa, càng khẳng định vị trí của cây bông trong hệ thống luân canh trên đất lúa. Vụ mùa năm nay, Bình Thuận sẽ tập trung gieo trồng 6.000 ha bông từ việc chuyển cơ cấu luân canh trên đất trồng màu theo công thức: bắp hè thu + bông vụ mùa; hoặc mè (vừng), dưa lấy hạt hè thu + bông vụ mùa. Tỉnh khuyến cáo bà con nông dân nên sử dụng các giống bông lai kháng sâu, năng suất cao do chi nhánh bông Bình Thuận chịu trách nhiệm về chất lượng hạt giống và bảo đảm cung ứng đủ số lượng. Chi nhánh bông công bố giá mua ngay từ đầu vụ, thực hiện đúng theo mẫu hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho dân đúng theo quy định. Ðồng thời, phổ biến tiêu chuẩn phân loại bông xơ trong thu mua đến tận người trồng bông trước khi thu hoạch, kiểm tra. Các địa phương có bố trí kế hoạch trồng bông, các ngành chuyên môn thường xuyên chỉ đạo việc gieo trồng đúng lịch thời vụ, bố trí đủ nước tưới, tiêu úng kịp thời và theo dõi chặt chẽ diễn biến sâu, bệnh trên cây bông.

Ðiều cũng là một cây trồng thế mạnh của Bình Thuận. Năm 2003, diện tích điều toàn tỉnh gần 20.100 ha. Theo kế hoạch, năm nay, Bình Thuận sẽ trồng mới 1.500 ha điều ghép và tổ chức cải tạo 1.500 ha. Bình Thuận cũng tập trung chỉ đạo việc đầu tư thâm canh, cải tạo vườn điều hiện có để đưa năng suất bình quân từ 6,7 tạ/ha lên 8 tạ/ha, nhằm đạt sản lượng hạt điều toàn tỉnh trong năm nay khoảng 13.500 tấn. Thực hiện mục tiêu này, tỉnh đã giao cho Trung tâm giống cây trồng Bình Thuận và một số đơn vị sản xuất giống khác chuẩn bị 300.000 cây điều ghép phục vụ cho người trồng điều xuống giống từ tháng 6 đến tháng 8. Ðể khuyến khích nông dân đầu tư trồng mới, tỉnh có chủ trương hỗ trợ 50% giá giống điều ghép trồng mới, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, giá hỗ trợ là 80%. Trung tâm khuyến nông tỉnh đã tổ chức 35 lớp tập huấn kỹ thuật trồng điều ghép cho dân, xây dựng 10 ha mô hình trồng mới điều thâm canh có tưới và tập huấn kỹ thuật cải tạo, thâm canh điều cho các địa phương. Tỉnh cũng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, hội nghị chung quanh việc hỗ trợ giá giống, kết quả trồng mới giống điều ghép và thâm canh cải tạo vườn điều. Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Bình Thuận tiến hành ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm thí điểm với người trồng điều tại một số xã của hai huyện Ðức Linh, Tánh Linh.

Dù mới được phát triển, nhưng cây cao-su tỏ ra khá thích hợp đất phía nam Bình Thuận và được tỉnh xác định là một trong bốn loại cây trồng cần tập trung mở rộng diện tích trong năm 2004 và những năm tiếp theo. Năm nay, Bình Thuận đầu tư trồng mới 1.500 ha để đưa diện tích cao-su toàn tỉnh đạt 13.500 ha. Ðồng thời, thâm canh diện tích đã trồng, rút ngắn thời kỳ xây dựng cơ bản, đưa diện tích khai thác trong năm lên 4.000 ha với sản lượng mủ khoảng 4.000 tấn. Việc xuống giống phải tập trung dứt điểm từ đầu tháng 6 đến cuối tháng 7. Tỉnh đã chỉ đạo UBND huyện Tánh Linh kiên quyết triển khai các biện pháp thu hồi đất ở vùng Biển Lạc thuộc hai xã Gia Huynh, Gia An giao cho Công ty cao-su Bình Thuận để đẩy nhanh tốc độ trồng mới. Chỉ đạo hai huyện Ðức Linh, Tánh Linh tiến hành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích trồng cao-su miễn phí theo dự án đa dạng hóa nông nghiệp. Các địa phương được bố trí trồng mới cao-su đã triển khai chuẩn bị đất, cây giống và tổ chức tập huấn kỹ thuật cho người trồng cao-su. Từ đầu tháng 6, Ban quản lý dự án đa dạng hóa nông nghiệp đã tiến hành cung ứng giống cho các hộ trồng cao-su tiểu điền, phối hợp các trạm khuyến nông theo dõi việc trồng mới cao-su đúng thời vụ và kỹ thuật.

Loại cây trồng còn lại được tập trung phát triển mang rõ nhất đặc trưng của vùng đất Bình Thuận là cây thanh long. Hơn chục năm trước, thanh long được mệnh danh là cây xóa đói, giảm nghèo của Bình Thuận. Ngày nay, quả thanh long có thể xem là "sứ giả" của vùng cực nam Trung Bộ này. Cuối năm 2003, toàn tỉnh có 4.931 ha, năng suất bình quân từ 20 đến 22 tấn/ha/năm; năm qua, Bình Thuận đã cung cấp cho thị trường gần 100.000 tấn quả thanh long. Năm nay, kế hoạch của tỉnh sẽ đầu tư trồng mới thêm 250 ha, trong đó 120 ha được chuyển dịch từ đất lúa một, hai vụ hiệu quả thấp và 130 ha đất màu, đất chưa sử dụng. Tổ chức thâm canh nâng chất lượng trái thanh long, hình thành tiêu chuẩn thanh long xuất khẩu phù hợp thị trường tiêu thụ. Trung tâm giống cây trồng tỉnh đang trồng thử nghiệm 17 giống thanh long ruột đỏ do Viện cây ăn quả miền Nam chuyển giao, sẽ sớm có kết luận để nhân rộng sản xuất, làm phong phú thêm sản phẩm trái thanh long ở vùng sản xuất tập trung của tỉnh. Tuy nhiên, để thuận lợi hơn cho việc tiêu thụ, Bình Thuận nên sớm tìm hướng xuất khẩu chính ngạch.

Cùng với việc tập trung chuyển đổi bốn loại cây trồng, nông nghiệp Bình Thuận cũng đã xác định con bò là vật nuôi chủ lực cần tập trung phát triển. Năm nay, Bình Thuận cố gắng đưa tổng đàn bò lên 155.000 con và chú trọng cải thiện chất lượng đàn bò. Ðể thực hiện việc này, Bình Thuận tiếp tục đẩy mạnh công tác cải tạo giống bò, nâng tỷ lệ bò lai đạt 50% để nâng cao tầm vóc, chất lượng giống, tạo tiền đề cho việc lai tạo bò. Tập trung phát triển 110 ha đồng cỏ và đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật cho nông dân về chế biến các phụ phẩm nông nghiệp, nhằm chủ động thức ăn quanh năm cho bò. Cùng với đó, tăng cường công tác thú y, phòng, chống dịch bệnh để bảo vệ an toàn cho cả đàn.

Ðích phấn đấu của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp là nhằm nâng cao hiệu quả trên đơn vị diện tích canh tác. Năm 2004, ngành nông nghiệp Bình Thuận phấn đấu nâng giá trị thu nhập bình quân trên 1 ha canh tác lên 14 triệu đồng, tức là tăng hơn 2 triệu đồng/ha so năm 2003. Ðể đạt được mục tiêu ấy, một trong những giải pháp quan trọng là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xác định lợi thế của địa phương. Hy vọng năm 2004 sẽ là cột mốc quan trọng để nông nghiệp Bình Thuận tiến những bước dài trong những năm tiếp theo.
(Nhân dân)
 
Quảng Nam: Một mô hình câu cá ngừ đại dương đạt hiệu quả cao PDF In E-mail
25/06/2004

Ngư dân vận chuyển cá ngừ đại dương vào bờ để tiêu thụ.

Sau 4 chuyến đi biển trong vòng 6 tháng, tàu câu cá ngừ đại dương của chủ tàu Lê Minh Trí ở thôn 7 Tam Hải (Núi Thành - Quảng Nam) đã đạt tổng doanh thu 272 triệu đồng. Đây là mô hình đầu tiên ở Quảng Nam với khoảng 20 ngư dân tham gia, được nâng cấp, trang bị thêm từ tàu câu mực khơi 60 CV.

Riêng chủ tàu Lê Minh Trí cũng là ngư dân đầu tiên ở Quảng Nam được tham dự một khóa tập huấn về kỹ thuật câu cá ngừ đại dương tại Phú Yên.

Để đảm bảo điều kiện câu cá ngừ, chủ tàu Lê Minh Trí vừa trang bị lưới câu 700 lưỡi tổng trị giá 90 triệu đồng (trong đó được Sở Thủy sản hỗ trợ 18 triệu đồng), tuy nhiên chưa sử dụng hết năng suất. Giai đoạn đầu, các chuyến ra khơi của chủ tàu Lê Minh Trí đã cho thấy hiệu quả cao từ mô hình này, cá câu được mỗi con nặng 50-100 kg, giá bán ra 65 nghìn đồng/kg, cao hơn nhiều so với chuyến đầu tiên (chỉ bán được 10 nghìn đồng/kg).

(Thanh Niên)

 
Xây dựng cụm văn hóa du lịch Po Klong Garai PDF In E-mail
24/06/2004

Dự án xây dựng cụm văn hóa du lịch Po Klong Garai vừa được ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận phê duyệt. Cụm văn hóa này được xây dựng trên diện tích gần 10ha, với số vốn đầu tư gần 11 tỷ đồng.

Ngay dưới chân tháp cổ, các hạng mục chính của cụm văn hóa sẽ được xây dựng như khu trưng bày, giới thiệu các sản phẩm văn hóa Chăm; khu công viên cây xanh và hệ thống nhà nghỉ.

(Tuổi trẻ)

 
Đắk Lắk Nông dân nhận vốn đầu tư trồng cây ăn quả chất lượng cao PDF In E-mail
24/06/2004
Sáng 22/6/2004, tại TP Buôn Ma Thuột, ông Nguyễn Phú Cường - Giám đốc Công ty Phát triển công nghệ sinh học (DONA-TECHNO) cho biết: từ đầu năm 1998 đến nay, DONA-TECHNO đã đầu tư công nghệ và vốn cho nông dân ở Đắk Lắk trồng các loại cây ăn quả chất lượng cao.

DONA-TECHNO sẽ thu mua toàn bộ sản phẩm của nông dân; riêng năm 2004, dự kiến mua 500 tấn với giá từ 12.000 - 15.000 đồng/kg sầu riêng và từ 4.000 - 5.000 đồng/kg chôm chôm. Vụ mùa 2004-2005 này, DONA-TECHNO bắt đầu hợp đồng đầu tư và chuyển giao công nghệ giống cây ăn quả chất lượng cao cho Công ty Cà phê Phước An (Đắk Lắk), bằng giống sầu riêng DONA trồng xen trong vườn cà phê.

(Thanh Niên)

 
Thay đổi giờ bay TPHCM-Tuy Hòa PDF In E-mail
23/06/2004

Đại diện văn phòng Tổng Cty Hàng không VN tại Phú Yên cho biết từ ngày 2.7 đến 29.10.2004, giờ bay trên tuyến TPHCM - Tuy Hòa và ngược lại có sự thay đổi so với trước đây.

Ngày bay vẫn là vào chiều thứ ba và thứ sáu hằng tuần nhưng giờ bay cụ thể như sau: xuất phát tại TPHCM lúc 14g45 đến Tuy Hòa lúc 15g15, đi tại Tuy Hòa lúc 16g40 đến TP.HCM lúc 17g55. Được biết, từ ngày 1.7 đến 31.12.2004, dự kiến tỉnh Phú Yên sẽ tiếp tục khuyến mãi cho hành khách đi máy bay trên tuyến đường bay TPHCM - Tuy Hòa với mức 70.000 đồng đối với vé dành cho người lớn và 50.000 đồng đối với vé cho trẻ em. Số tiền này không trừ vào tiền mua vé tại các đại lý của Tổng Cty Hàng không VN mà  được nhân viên tỉnh Phú Yên trao tận tay hành khách đi và đến sân bay Tuy Hòa vào lúc làm thủ tục lên máy bay.

(Tuổi trẻ)

 
Ðầu tư giúp Tây Nguyên phát triển sản xuất hàng hóa PDF In E-mail
23/06/2004
Tây Nguyên là một vùng đất giàu tiềm năng nhưng kinh tế còn nghèo, nhất là vùng sâu, vùng xa. Nhà nước đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nhiều chương trình giúp đồng bào tiếp cận với kỹ thuật canh tác tiên tiến, phát triển sản xuất hàng hóa.

Tây Nguyên có diện tích tự nhiên 54.474 ha, có đường biên giới với hai nước bạn dài 600 km. Trong khu vực có 4,7 triệu dân với 46 dân tộc anh em chung sống. Một vùng đất có nhiều tiềm năng về cây công nghiệp, rừng, thủy điện... Song Tây Nguyên vẫn là vùng còn nhiều khó khăn, nhất là những xã vùng sâu, vùng xa, cho nên trong chừng mực nhất định đời sống đồng bào nhiều vùng nông thôn còn đói nghèo, cơ sở hạ tầng thấp kém, làm hạn chế sức sản xuất của những vùng này.

Xác định rõ là địa bàn chiến lược về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, Ðảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp và hình thức đầu tư để khai thác tiềm năng sẵn có và từ đó giúp nhân dân không ngừng vươn lên xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nếu tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn 1991 - 1995 khoảng 6,3 nghìn tỷ đồng (trung bình gần 1,1 nghìn tỷ đồng/năm), thì giai đoạn 1996-2000 là 24 nghìn tỷ đồng, gấp bốn lần so với trước và từ năm 2001, mức độ đầu tư tăng dần, như năm 2001 là 5.200 tỷ đồng, năm 2002 là 5.520 tỷ đồng, năm 2003 là 6.030 tỷ đồng; trong đó tỷ lệ đầu tư cho công nghiệp chiếm 33%, nông - lâm nghiệp, thủy lợi 38%, giao thông 11%, y tế, giáo dục, văn hóa 4%.

Từ mức đầu tư cho thấy, sự quan tâm của Ðảng, Nhà nước nhằm tạo động lực cho vùng Tây Nguyên phát triển và cũng chính sự đầu tư đó đã tạo đà cho những vùng khó khăn tự vươn lên, mở ra hướng đi mới cho nông thôn Tây Nguyên phát triển theo hướng CNH, HÐH.

Cùng với việc đầu tư là sự chỉ đạo, điều hành kịp thời của Trung ương, cộng với sự nỗ lực của các cấp chính quyền, cho nên nền kinh tế ở các tỉnh Tây Nguyên giữ ở mức tăng trưởng khá, như năm 2001 tăng trưởng đạt 10,5%, năm 2002 đạt 7,3%, năm 2003 đạt 11,2% (riêng Lâm Ðồng đạt 23,5%, Gia Lai 11,9%). Bằng việc phát huy lợi thế các tỉnh, Tây Nguyên từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, nếu năm 2002 tỷ trọng nông - lâm nghiệp chiếm 50,8%, công nghiệp - xây dựng chiếm 18,9%, dịch vụ chiếm 30,2%, thì năm 2003 cơ cấu trên là 50,1%, 18,2% và 31,6%.

Có được cơ cấu bước đầu đó, các tỉnh đã hoạch định chiến lược cho mình là xác định xây dựng các khu công nghiệp với quy mô thích hợp, như khu công nghiệp Tâm Thắng (Ðác Nông), Cụm công nghiệp Buôn Hồ, khu tiểu thủ công nghiệp ở Buôn Mê Thuột (Ðác Lắc)... Chỉ đạo cơ sở chuyển đổi cơ cấu cây trồng, giảm dần diện tích cà-phê không có hiệu quả sang trồng các loại cây năng suất cao, thu nhập trên một đơn vị diện tích nhiều hơn và quảng bá về du lịch, xây dựng thương hiệu...

Khi đề cập kinh tế - xã hội Tây Nguyên, ai cũng chú trọng đến những vùng còn khó khăn, mà một trong những chủ trương rõ nhất là Chương trình 135, xóa đói, giảm nghèo được triển khai đồng bộ và đạt kết quả khả quan. Từ năm 1999, Chương trình 135 triển khai ở 36 xã của tỉnh Ðác Lắc, kinh phí đầu tư cho mỗi xã là 400 triệu đồng/năm và bắt đầu từ năm 2003 lên 500 triệu đồng.

Ðây là một chương trình đã và đang tạo động lực giúp các xã khó khăn vươn lên và trong năm năm qua 36 xã nói trên được đầu tư xây dựng 324 công trình với kinh phí 97,3 tỷ đồng, trong đó có 145 công trình giao thông, 111 trường học, 25 công trình thủy lợi và nhiều công trình phục vụ sinh hoạt cộng đồng, chợ, y tế... Ngoài ra còn 18 trung tâm cụm xã với số vốn đầu tư 7,1 tỷ đồng, đây là những công trình mang tính liên vùng, phục vụ nhu cầu đi lại, mua bán và học hành của nhân dân và con em trong vùng. Ðiều đáng nói hơn là qua Chương trình 135 đã từng bước đào tạo một đội ngũ cán bộ ở cơ sở biết quản lý kinh tế, nhân dân có việc làm...

Thông qua đó tỷ lệ đói nghèo năm 1998 ở Ðác Lắc là 25,5% thì nay còn 13,3%, nhân dân được hưởng lợi từ nhiều công trình, nhất là nước sạch, 90% số con em trong độ tuổi đến trường. Cho dù Chương trình 135 vẫn còn những khiếm khuyết, có nơi công trình xây dựng kém chất lượng, không hiệu quả, việc bố trí công trình còn nhiều vấn đề đáng bàn, nhưng những kết quả nói trên góp phần đáng kể để 36 xã khó khăn của Ðác Lắc tạo những bước tiến mới.

Chứng kiến buôn làng mình đổi thay, Y Hang, ở Ea Nuôi, xã Dur Măn, huyện Krông Ana (Ðác Lắc) cho biết: "Khi còn nhỏ, mình thấy buôn làng ở Dur Măn này nghèo lắm, đến mùa giáp hạt phải lên rừng kiếm củ mài, hái cây rừng để sống qua ngày, cả xã không nơi nào có nhà ngói. Từ ngày Ðảng, Chính phủ đầu tư cho xã, cho huyện, nhất là giúp đồng bào biết sản xuất ra những loại nông sản bán được nhiều tiền, ai chưa biết thì cán bộ hướng dẫn... Chính những việc làm đó đã giúp bà con có cuộc sống tương đối thoải mái như hiện nay. Còn riêng gia đình mình từ khi có chủ trương đầu tư thâm canh cà-phê, lúa... mình mạnh dạn theo học các lớp khuyến nông, vay vốn ngân hàng đầu tư để phát triển mạnh sản xuất và chăn nuôi. Làm cái gì, trồng cây gì mình cũng tìm hiểu và đầu tư theo hướng thâm canh, chọn cây có năng suất cao để trồng. Bây giờ gia đình mình khá giả rồi, nhà có xe máy cày, làm được nhà xây, con cái học hành đầy đủ. Xã mình nay có nhiều nhà xây rồi, không ít gia đình mua sắm được máy cày, máy xay xát".

Gia đình Y Vam Mlô, cũng ở xã Dur Măn có 2 ha cà-phê, 1,5 ha lúa nước, có xe tải 2,5 tấn... Anh quả quyết: bà con ở buôn làng Tây nguyên này chỉ có thực hiện những biện pháp thâm canh thì mới xóa đói, giảm nghèo và làm giàu được. Bằng quyết tâm đó, Y Vam là một trong những người giàu ở Dur Măn.

Một trong những chương trình ở Tây Nguyên phải được nhắc đến đó là định canh định cư (ÐCÐC) được các tỉnh quan tâm và đầu tư đúng mức. Ðến nay Lâm Ðồng cơ bản ÐCÐC cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, Kon Tum đạt 83%, Gia Lai 85% và Ðác Lắc đạt 74,5%, mức độ có khác nhau, nhưng qua ÐCÐC các buôn làng Tây Nguyên từng bước đã ổn định sản xuất, đồng bào biết áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, lựa chọn những loại cây trồng có hiệu quả cao để gieo trồng trên nương rẫy của mình và từ đó số buôn làng giàu lên khá nhiều ở Tây Nguyên.

Hệ thống thủy lợi, trạm y tế, trường học đều được xây dựng ở hầu hết các vùng, tạo điều kiện thuận lợi để chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, con em đến trường không phải đi xa. Các trường nội trú cũng được xây dựng, hằng năm đón tiếp hàng trăm con em các dân tộc thiểu số theo học.

Những tiền đề đó là động lực giúp đồng bào Tây Nguyên có điều kiện tốt hơn để xây dựng buôn làng ngày càng giàu mạnh, xóm làng yên vui.

Bên cạnh việc đầu tư mang lại hiệu quả như nêu trên, Tây Nguyên vẫn còn những khó khăn phải tiếp tục giải quyết, đó là tăng trưởng kinh tế chưa thật sự vững chắc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi vẫn còn chậm, 0tình trạng đói nghèo dù có giảm nhưng vẫn ở mức cao, không ít gia đình thiếu đất sản xuất, đất ở đã và đang được Nhà nước tích cực giải quyết.

Ðây là những vấn đề các tỉnh trong khu vực rất quan tâm hỗ trợ nhằm nâng cao hơn nữa đời sống nhân dân, xây dựng Tây Nguyên thành một trong những vùng động lực của đất nước.
(Nhân dân)
 
<< Đầu tiên < Trước 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 Kế > Cuối cùng >>

Kết quả 871 - 885 của 947

Viec lam, Tìm việc làm, Tuyển dụng

 
© Copyright 2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved. Contact us
® Ghi rõ nguồn "MienTrung.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.