Trang chính
Xã hội
Văn hóa
Du lịch
Lịch sử
Kinh tế
Khoa học
Y tế - Giáo dục
Tin học
Môi trường
Dịch vụ
Ẩm thực
Thể thao
Tản văn
Tin mới nhất

Trang chính arrow Y tế - Giáo dục
Advertisement
 
Y tế - Giáo dục
Đắk Lắk: Cấp sách giáo khoa và vở cho học sinh dân tộc thiểu số PDF In E-mail
04/08/2004

Để học sinh các dân tộc thiểu số bước vào năm học mới một cách thuận lợi, tỉnh Đắk Lắk đã chuẩn bị 2,3 triệu bản sách giáo khoa, 1 triệu quyển vở để cấp cho các học sinh này với mức mỗi học sinh 1 bộ sách giáo khoa và từ 6 - 12 quyển vở. Trị giá số sách, vở này là 13 tỉ đồng. Ngoài ra, học sinh người dân tộc thiểu số còn được miễn các khoản đóng góp khác.

(Thanh Niên)
 
Làm thuê nuôi con thành tiến sĩ PDF In E-mail
04/08/2004

Một buổi sum họp của gia đình thầy Lân, cô Cúc

Những năm còn chế độ bao cấp, gia cảnh quá túng bấn, vợ chồng thầy giáo Nguyễn Văn Lân - Hồ Thị Cúc (thôn Cẩm Đồng, xã Điện Phong, Điện Bàn, Quảng Nam) có lúc đã nghĩ đến chuyện cho đứa con đầu thôi học. Nhưng ngẫm lại, rằng mình là giáo viên, làm vậy... khó coi quá, nên cuối cùng họ quyết định dù khó khăn đến mấy cũng phải lo cho được ít nhất là một trong số 4 đứa con của mình ăn học tới nơi tới chốn.


Ngoài giờ lên lớp, ngày nào vợ chồng thầy Lân - cô Cúc cũng vác cuốc ra đồng, làm lụng cật lực trên 200m2 đất màu xin được của xã. Mảnh vườn nhỏ quanh nhà cũng được "tận dụng" triệt để: trồng bất cứ thứ gì có thể ăn được, không để một thẻo đất nào bị bỏ phí. Rảnh ra đôi chút, họ lại sang các thôn ở bờ nam sông Thu Bồn - nơi có nhiều đất màu nhận khoán công việc để làm. Có khi nhận hái dâu thuê; có khi đi phát mía hay cuốc đất, làm cỏ đậu. Hết việc, cả hai lại mang gùi đi mót lúa, mót đậu ở các triền bãi ven sông... Nhớ lại những ngày tháng đó, cô Cúc bảo: "Dù không quen lao động chân tay, nhưng vì hoàn cảnh nên phải gắng sức mà làm. Cực ghê lắm, nhưng bù lại, mình luôn được an ủi khi con cái đứa nào cũng học giỏi...".

Sự vất vả của vợ chồng thầy Lân - cô Cúc càng tăng thêm khi người con đầu là Nguyễn Hồng Nguyên vào đại học. Nguyên học rất giỏi, được nhận học bổng thường xuyên nhưng không đủ để mua sách vở nên gần như tháng nào gia đình cũng phải "viện trợ" bằng phân nửa tiền lương của hai người. Nhiều lúc không đủ gạo để gửi cho Nguyên, họ phải thay bằng bột đậu, bột bắp rang... Chưa hết cực thì năm sau, cô con gái Hồng Loan cũng vào đại học. Không còn cách nào khác, vợ chồng họ quyết định áp dụng "phương án 5 không": không may quần áo mới cho mình, không sửa nhà, không ăn ngon, không mua sắm bất cứ vật dụng gì và không được mặc cảm khi phải làm thuê nhiều hơn. Khi ấy, Nguyên và Loan cũng phải giao ước với cha mẹ là tiết kiệm tối đa, dù nhớ nhà cũng chỉ được về thăm mỗi năm hai lần vào dịp tết và hè. Phương án này được duy trì và thực hiện nghiêm túc suốt nhiều năm sau đó, cho đến khi người con thứ ba là Nguyễn Hồng Vỹ học xong đại học... Mãi đến năm ngoái, ngôi nhà tranh của họ mới được dỡ bỏ, khi 3 người con lớn mang tiền về góp cho cha mẹ xây nhà.

Cũng cần nói thêm là, khi biết cha mẹ hy sinh quá nhiều cho mình, 4 anh em Nguyên, Loan, Vỹ và Vân đều rất cố gắng trong học tập. Hồng Nguyên, dù phải vừa học vừa làm nhưng vẫn học thêm và lấy được một tấm bằng đại học ngoại ngữ ngay sau khi tốt nghiệp Đại học Nông Lâm. Noi gương anh, trong 4 năm dùi mài kinh sử ở các trường đại học, Loan, Vỹ cũng đều có thêm 1 hoặc 2 tấm bằng khác ngoài tấm bằng đại học chính quy... Nhờ những vốn liếng quý giá này, cánh cửa học vấn lại mở ra khi họ đã có việc làm ổn định. Nguyên trúng tuyển một chương trình đào tạo cao cấp của Đại học Tổng hợp Queensland, rồi trở thành tiến sĩ di truyền học của đại học này vào năm 2002. Mới đây, Nguyên đã lập gia đình với một cô gái tiến sĩ cùng quê... Hai người em kế của Nguyên là Nguyễn Thị Hồng Loan và Nguyễn Hồng Vỹ cũng nêu quyết tâm "chưa xong cao học, chưa lập gia đình", và bây giờ họ đều đã là thạc sĩ. Riêng cậu út Hồng Vân hiện đang học đại học cũng đã "bắn tin" cho gia đình biết là quyết không thua các anh, các chị...

(Báo Thanh Niên)

 
Sốt xuất huyết gia tăng ở một số địa phương miền Trung PDF In E-mail
03/08/2004
Sau khi tăng mạnh ở ĐBSCL và Đông Nam bộ, vài ngày qua số người mắc sốt xuất huyết đã gia tăng ở một số địa phương miền Trung, có địa phương có tới 500 bệnh nhân nhập viện. Nguồn tin từ Bộ Y tế ngày 2-8 cho biết như trên.

Theo Bộ Y tế, tính đến 2-8, cả nước đã có trên 56.100 bệnh nhân sốt xuất huyết, tập trung ở 44 địa phương, 59 người trong số này đã tử vong. Sau khi có văn bản của Bộ Y tế hướng dẫn tổ chức cam kết ngăn chặn dịch sốt xuất huyết ở các địa phương (cuối tháng bảy vừa qua), đến nay đã có 14 địa phương thực hiện ký cam kết với các huyện thị.

(B.TT)

 
Ninh Thuận: thành lập ba trường THPT PDF In E-mail
03/08/2004
Theo quyết định của UBND tỉnh, năm học mới 2004-2005 ba trường THPT Tôn Đức Thắng, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng của các huyện Ninh Hải, Ninh Sơn và Ninh Phước sẽ chính thức đưa vào sử dụng sau gần hai năm xây dựng.

Như vậy từ nay, mỗi năm ít nhất 4.000 HS vùng xa của tỉnh sẽ không còn vất vả khi hằng ngày phải vượt hơn 30km để về học ở trung tâm huyện lỵ như trước đây. Được biết, tổng kinh phí xây dựng ba trường nói trên hơn 20 tỉ đồng.

L.T.

 
Chỉ số giáo dục Việt Nam: cao hay thấp? PDF In E-mail
31/07/2004

Tỉ lệ biết chữ ở bậc THPT trở lên càng cao thì mới càng đáng mừng. Trong ảnh: học sinh Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, TP.HCM - Ảnh: T.T.D.

Tỉ lệ biết chữ không phải chỉ là tỉ lệ biết đọc, biết viết như ta thường quan niệm cách đây trên nửa thế kỷ, mà thật sự nó là một loại đo lường mức dân trí của một nước, được phản ánh qua chỉ số giáo dục. Chỉ số giáo dục là một trong ba chỉ số được dùng để xác định chỉ số phát triển con người (HDI). 

Hiện tại, nó là một trong các loại chỉ báo (indicator) cho biết nền giáo dục của một nước có khả năng tạo nên sản phẩm thích ứng với sự hội nhập quốc tế về các mặt kinh tế, văn hóa và xã hội hay không.

Báo Tuổi Trẻ đã công bố chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) của VN, theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc, đồng thời nêu lên “sự suy giảm đáng kể” ở nước ta về chỉ số giáo dục, về tỉ lệ biết chữ trong năm 2004 so với năm 2003.

Trước khi bàn về chỉ số phát triển con người nói chung và chỉ số giáo dục VN nói riêng, ta cần phải lưu ý rằng các chỉ số được đăng trên báo gần đây không phải là những chỉ số của năm 2004 hay 2003, mà là của các năm 2001 và 2002 được công bố vào các năm 2003, 2004.

Hơn nữa, ta cần phải biết rằng các chỉ số khác biệt giữa năm này với năm kia không nói lên sự tăng hay giảm, vì cách tính toán các chỉ số ấy luôn thay đổi theo từng năm.

Vì vậy một báo cáo về HDI trong năm 2004 (Health Systems Trust, 21-7-2004) đã cảnh giác rằng ta không nên so sánh năm này với năm kia mà chỉ cần so sánh chỉ số của các quốc gia với nhau theo cùng thời kỳ và từ cùng một nguồn xuất xứ mà thôi.

Như vậy ta không thể nói tỉ lệ biết chữ của người lớn ở VN đã giảm từ 92,7% (2003) xuống còn 90,3 % (2004), từ đó kéo chỉ số giáo dục của VN từ 0,83 xuống chỉ còn 0,82 (2004).

Điều mà ta có thể rút ra từ các dữ liệu thống kê về HDI được công bố năm 2004 là: so sánh chỉ số giáo dục (education index) tại các nước châu Á, chúng ta thua kém Hàn Quốc (0,97), Nhật Bản (0,94), Singapore (0,91), Philippines (0,89), Brunei (0,87), Hong Kong (0,86), Malaysia (0,83), Thái Lan (0,86), Trung Quốc (0,83) và chỉ cao hơn Indonesia (0,80), Campuchia (0,66), Myanmar (0,73) và Lào (0,64) mà thôi.

Nhưng chỉ số giáo dục là gì? Theo các báo cáo phát triển con người, chỉ số giáo dục là một trong ba chỉ số được dùng để xác định HDI: sống lâu, sống khỏe, có kiến thức và có mức sống đầy đủ.

Chỉ số giáo dục được xây dựng trên tỉ lệ biết chữ của người lớn (từ 15 tuổi trở lên) và trên tỉ lệ ghi danh theo học các bậc tiểu học, trung học và đại học gộp lại.

Nhưng tỉ lệ biết chữ chiếm 2/3 hệ số, trong khi tỉ lệ ghi danh ở tiểu, trung và đại học chỉ chiếm 1/3 mà thôi. Nói cách khác, căn bản quan trọng để tính toán chỉ số giáo dục giữa các quốc gia là tỉ lệ biết chữ.

Tỉ lệ biết chữ này của VN trong năm 2002 là 90,3, nghĩa là dưới Trung Quốc (90,9), Singapore (92,5), Thái Lan (92,6), Philippines (92,6), Hong Kong (93,5), Brunei (93,9) và Hàn Quốc (97,9).

Tỉ lệ biết chữ là gì? Tỉ lệ biết chữ không có nghĩa đơn giản là tỉ lệ biết đọc biết viết.

Theo định nghĩa khái niệm “kỹ năng biết chữ của người lớn” trong cuộc khảo sát quốc tế về tình trạng biết chữ của người trưởng thành được thực hiện từ 1994 - 1998 (IALS, International Adult Literacy Survey), nó có nghĩa là “sự hiểu biết và khả năng sử dụng thông tin để có thể vận dụng một cách hiệu quả các kiến thức đòi hỏi trong một xã hội tri thức của thế kỷ 21”.

Nói cách khác, biết chữ có nghĩa là kiến thức và kỹ năng xử lý thông tin mà con người cần phải có khi đọc các tài liệu thường gặp hằng ngày trong công việc làm, ở gia đình hay trong cộng đồng.

Khi thực hiện cuộc khảo sát này để tính tỉ lệ biết chữ của một nước, người ta không đo lường cá nhân về kiến thức lý thuyết hay khả năng nhớ thuộc lòng các thông tin, mà chỉ khảo sát khả năng triển khai và giải thích ý nghĩa của các tài liệu dưới nhiều dạng khác nhau: văn xuôi, văn vần, các tài liệu hướng dẫn, các thông báo, biểu mẫu xin việc, bảng biểu thống kê, tài liệu định lượng, các tính toán...

Căn cứ trên điểm số các thang đo lường ấy, người ta phân chia dân chúng trong mỗi nước theo các mức biết chữ và tính tỉ lệ trong từng mức, từ 1 (thấp nhất) đến 5 (cao nhất).

Mức 3 đòi hỏi kỹ năng tương đương với tốt nghiệp THPT và năm đầu đại học.

Mức 4 và 5 đòi hỏi kỹ năng xử lý thông tin cao hơn, tương đương với trình độ đại học.

Như vậy, nếu tỉ lệ biết chữ ở nước ta là 90,3% (2002), tức vào hàng thứ 8 trong 14 nước châu Á, điều này cũng chưa đủ để nói lên chất lượng nền giáo dục nước ta, nếu ta chưa biết được tỉ lệ phần trăm số người ở mỗi mức biết chữ, trong năm mức nói trên, ở lớp tuổi 15 - 65.

Hiện nay, dường như chưa có dữ kiện thống kê nào cho biết được các tỉ lệ này ở nước ta. Điều mà ta mong mỏi đạt tới không phải là tỉ lệ biết chữ 92,7% như trước năm 2002, hay thậm chí 97,9% như ở Hàn Quốc, nếu tỉ lệ ấy gồm đa số người dân ở mức 1, nghĩa là mức biết chữ thấp nhất.

Điều mà ta mong mỏi là tỉ lệ cao ở mức biết chữ từ bậc 3 trở lên, tức là trình độ học vấn tương đương THPT. Đó là mức dân trí cần thiết mà các nước đang cố gắng đạt đến trong nền kinh tế tri thức toàn cầu.

Thế nhưng nhìn trở lại bảng dữ kiện về chỉ số phát triển con người trong báo cáo 2004, ta thấy tỉ lệ phần trăm ghi danh theo học từ bậc tiểu học lên đến đại học ở nước ta chỉ là 64%, tức đứng vào hàng 11 trong 14 nước châu Á!

Nếu tình trạng thu nhận học sinh và sinh viên theo từng lớp tuổi ở nước ta không được cải thiện, nhất là ở bậc THPT và đại học, trong tương lai dù tỉ lệ biết chữ có tăng lên kéo theo sự gia tăng chỉ số giáo dục, nhưng đa số dân chúng còn ở mức độ biết chữ thấp, điều đó cũng không khiến ta lạc quan và cũng không nói lên được sự gia tăng về chất lượng của nền giáo dục nước ta, hay khả năng đáp ứng của nó trong nền kinh tế tri thức toàn cầu.

TS DƯƠNG THIỆU TỐNG (Từ TTO)

 
Lâm Đồng: hàng trăm phòng học xây dựng ì ạch PDF In E-mail
30/07/2004

TT (Lâm Đồng) - Theo giám đốc Sở GD-ĐT Lâm Đồng Lý Quang Nhẫn, hệ thống phòng học xây mới chuẩn bị cho năm học mới ở tỉnh này đang gặp khó khăn.

Kiểm tra trong số 410 phòng học xây mới trên toàn tỉnh, chỉ có khoảng 250 phòng có thể kịp đưa vào sử dụng, trong khi 160 phòng còn lại mới được khởi công phần móng, đổ cột hoặc tường vách dở dang..., nếu cố gắng cũng phải đến tháng 11-12 mới có thể hoàn thành.

Số phòng học bị ì ạch hoặc “đóng băng” thuộc các nguồn vốn đầu tư của trung ương và địa phương theo các chương trình trọng tâm về giáo dục, phát triển kinh tế - xã hội, nhưng không có vốn đối ứng. Ông Nhẫn nói khó khăn lớn nhất hiện tại là không thể huy động đạt kết quả cao tiền xây dựng trường trong dân vào nguồn vốn đối ứng, vì số học sinh thuộc diện miễn giảm tiền này như dân tộc thiểu số, gia đình có công, hộ có sổ đói nghèo quá lớn, chiếm 30-50%.

Theo đó, chính sách “ Nhà nước và nhân dân cùng xây trường” theo nghị quyết 4 HĐND tỉnh khóa 6 (ở vùng I: Nhà nước - dân: 50-50%, vùng II: 70-30%. Còn vùng III: Nhà nước 100%) đang gặp trở ngại lớn mỗi khi tiến hành xây dựng một trường lớp mới.                                                                         

(Theo Tuổi Trẻ)

 
Sáu điểm yếu của sinh viên VN PDF In E-mail
29/07/2004

Là một sinh viên cao học, bạn đọc Nguyễn Đông Triều tỏ ra bức xúc trước thực trạng giáo dục hiện nay. Bằng trải nghiệm thực tế và tâm huyết, tác giả mong muốn tạo diễn đàn thảo luận rộng rãi của đông đảo sinh viên để góp phần vào việc thay đổi môi trường học tập. Trong đó, chấn hưng giáo dục không chỉ là đòi hỏi ở các cấp lãnh đạo, ở nhà trường, thầy cô khách quan mà còn phải bắt đầu từ chủ thể là bản thân từng sinh viên.

Sự thụ động

Sự thụ động ấy biểu hiện rõ ràng nhất trong việc lựa chọn trường ĐH cho riêng mình: hầu như các bạn chưa có một ý thức rõ ràng về những sở thích, cá tính của bản thân để lựa chọn cho mình một ngôi trường ĐH. Khi hỏi một bạn học sinh Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong đang chuẩn bị làm hồ sơ, tôi đã rất bức xúc khi được bạn Anh Thơ, học sinh lớp 12A1, cho biết rằng em chọn trường theo yêu cầu của bố mẹ em, chứ em chưa biết gì cả. Và sự thụ động ấy đã vô tình theo suốt các bạn sinh viên (SV) trong mấy năm trời học ĐH. Lên giảng đường khỏi cần học bài vì đã có sẵn các giáo sư giảng bài rồi - như lời nhận xét của bạn Thùy Trang, SV năm 3, một SV giỏi của Trường ĐH Kinh tế TPHCM.

Không tự mình tìm cơ hội

“Các bạn SV chỉ thích những gì có sẵn mang đến cho mình mà quên mất một điều rằng cơ hội là do mình tự đi tìm, tự tạo ra chứ không phải do người khác mang lại”. Đây là nhận xét của một nhân viên phát triển sản phẩm của cà phê Trung Nguyên. Và anh cũng nói thêm: “Các bạn đừng hỏi chúng tôi những câu hỏi đại loại như là: “Nếu em có 300 triệu đồng trong tay liệu em đã có thể mở công ty được chưa? Mở công ty hay làm bất cứ việc gì là quyền của bạn nếu bạn thích, bạn phải động não và làm nó chứ không phải là hỏi chúng tôi. Chúng tôi không hơn gì các bạn đâu, đơn giản chúng tôi chỉ là những người đi trước các bạn có chút ít kinh nghiệm và hãy để chúng tôi chia sẻ nó cho các bạn”.

Chỉ thích làm thầy chứ không thích làm thợ

Đó dường như là tâm lý chung của người VN. Bạn Đức Trụ, SV năm 4 Khoa Quản lý Công nghiệp Trường ĐH Bách khoa, đã nói rằng: “Mình học quản lý, nên sau này ra trường mình sẽ làm quản lý chứ nhất định không chịu làm nhân viên đâu”. Đó là một suy nghĩ tốt nếu như thật sự bạn là người có năng lực, nhưng nếu như ngược lại nó sẽ rất nguy hiểm. Đó là suy nghĩ hoàn toàn sai lầm, bởi lẽ hầu như SV mới ra trường đều chưa có kinh nghiệm và việc đào tạo khiến SV có tư tưởng muốn làm chủ chứ không muốn làm thợ.

Một bộ phận không nhỏ SV VN có tư tưởng càng có nhiều bằng cấp càng tốt. Họ cho rằng nhiều bằng cấp sẽ làm cho các doanh nghiệp “choáng” và cơ hội thăng chức của mình sẽ cao hơn. Một cuộc thăm dò về năng lực của kỹ sư và công nhân đưa ra một kết quả hoàn toàn bất ngờ và không như mong đợi: Hiệu quả công việc của các công nhân có tay nghề cao cao hơn các kỹ sư trong cùng một đợt tuyển dụng của công ty (theo báo điện tử - Thời báo Kinh tế Sài Gòn). Kết luận này đã làm chấn động cả giới SV và cũng cho cả doanh nghiệp.

Khả năng làm việc nhóm chưa cao

Một trong những trường ĐH áp dụng phương thức làm việc nhóm khá thành công đó là Khoa Quản lý Công nghiệp Trường ĐH Bách khoa TPHCM. Hầu như tất cả các môn học SV đều có bài tập nhóm của mình và kết quả của SV sẽ được ghi nhận vào việc thuyết trình nhóm ở cuối môn học. Thế nhưng, theo kết quả điều tra để phục vụ cho bài viết này thì khoảng 35% SV Khoa Quản lý Công nghiệp than rằng làm bài tập nhóm mất nhiều thời gian quá, nhóm mà có 6 người thì trung bình chỉ có 3 đến 4 người làm mà thôi, những người khác thì quen thói ỷ lại. Chính vì vậy mà việc làm cho xong, làm để đối phó là điều không thể tránh khỏi ở SV.

Trình độ Anh văn cũng là một hạn chế

Có rất nhiều SV mới ra trường rất giỏi, có năng lực nhưng họ lại không thể tiếp cận được với các chương trình đào tạo của các doanh nghiệp vì họ không thể giao tiếp bằng tiếng Anh, đó là một hạn chế của SV VN. “Phải công nhận một điều rằng: SV VN có khả năng viết và hiểu tiếng Anh rất tốt, nhưng lại không thể nói được” - như lời nhận xét của thầy Từ Việt Hùng - giảng viên dạy tiếng Anh Khoa Công nghệ Thông tin - Trường ĐH Dân lập Hồng Bàng.

SV VN chưa thể nói tiếng Anh tốt, bởi một lẽ đơn giản họ sợ bị sai, bị người khác cười. Mà nếu như bạn là một SV giỏi, có năng lực nhưng bạn lại không thể thể hiện cho người khác biết được khả năng thực sự của bạn (rằng bạn giỏi như thế nào) thì có lẽ bạn sẽ khó thành công.

Thay đổi tư duy về học tập trong mỗi SV

SV chúng ta cần chủ động hơn trong việc học tập, hãy có một tầm nhìn rộng trong việc xác định cho mình một phương pháp học tập có khoa học. Học để “làm việc” chứ không phải học để “thi”. Lâu nay chúng ta đang phải đối đầu với cơ chế thi cử từ khi bước vào lớp 1 cho đến khi tốt nghiệp ĐH. Chúng ta cái gì cũng biết nhưng không biết làm cái gì. Chủ động hơn trong học tập, tự rèn luyện cho mình khả năng tiếp cận với khoa học công nghệ. Chọn ngành học phù hợp với sở thích và khả năng của mình.

Thiết nghĩ việc thay đổi trong suy nghĩ về một định hướng trong việc học tập là điều mà mỗi SV hiện nay cần có để có thể tự hoàn thiện chính mình.

Nguyễn Đông Triều

Xem tiếp...
 
Bệnh nhi được ghép thận đầu tiên đã bình phục PDF In E-mail
29/07/2004
Ngày 28-7, tại lễ tổng kết 6 tháng đầu năm 2004 và 1 năm triển khai chuyên khoa ngoại thần kinh trẻ em, bác sĩ Trần Thị Mộng Hiệp, Trưởng Khoa Nội Tổng hợp 4 Bệnh viện Nhi Đồng 2, công bố bệnh nhân được ghép thận đầu tiên ở phía Nam - cháu Huỳnh Nguyễn Nhật Trúc, 12 tuổi ở tỉnh Gia Lai- đã bình phục.

Sau 44 ngày ghép thận (kể từ ngày 14-6), cháu chưa có biểu hiện thải ghép cấp, không rò rỉ nước tiểu sau phẫu thuật, chức năng thận hoạt động bình thường ngay sau phẫu thuật. Qua xét nghiệm máu, nước tiểu, hình ảnh học, siêu âm cho thấy sức khỏe bệnh nhân bình thường. Dự kiến 1-2 ngày nữa cháu sẽ được xuất viện. Cũng theo bác sĩ Mộng Hiệp, bệnh nhân ghép thận cần được tái khám để theo dõi tình trạng thải ghép.

Bệnh viện Nhi Đồng 2 sẽ lo chi phí, thuốc men cho cháu Nhật Trúc đến năm 18 tuổi và Công ty Novartis sẽ cung cấp thuốc ức chế miễn dịch ít nhất trong 2 năm. Hiện cháu Nhật Trúc được một nhà hảo tâm nhận nuôi ăn, ở trong 6 tháng tại TPHCM để tiện việc tái khám.

(Báo Người Lao Động)

 
Gia Lai: Cơ sở vật chất trường học xuống cấp trầm trọng PDF In E-mail
27/07/2004
Năm học 2003-2004 vừa kết thúc thì cơ sở vật chất trường học trong tỉnh Gia Lai cũng xuống cấp trầm trọng. Trong kỳ nghỉ hè này, vì thiếu sự quản lý, bảo quản, nhiều bàn ghế học sinh ở các địa phương đã bị vứt bỏ ngổn ngang, nhiều phòng học đang bị hư hại nghiêm trọng.

Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh, mới đây đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh đã tiến hành kiểm tra việc thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp trên địa bàn 7 huyện và thị xã: Krông Pa, Chư Prông, Ia Grai, Đức Cơ, K’bang, Kông Chro và An Khê. Kết quả cho thấy 10 phòng học bị rạn nứt tường, nứt trần, không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng.

(Theo Thanh Niên)

 
Đà Lạt: liên kết đào tạo giáo viên sư phạm kỹ thuật PDF In E-mail
27/07/2004
UBND tỉnh Lâm Đồng vừa có kế hoạch chủ động đào tạo lực lượng giáo viên về kỹ thuật từ năm học 2004-2005 để bổ sung cho hệ thống các trường dạy nghề, THCS, THPT, trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện. Theo đó, Trường CĐ Sư phạm Đà Lạt sẽ liên kết với Trường đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM đào tạo.

Hai ngành sư phạm kỹ thuật đầu tiên đang được thông báo tuyển sinh là: kỹ thuật công nghiệp và kỹ thuật kinh tế gia đình (tức nữ công) với số lượng 100 sinh viên. Đối tượng được xét tuyển vào học là thí sinh thi khối A kỳ tuyển sinh vừa qua, có hộ khẩu thường trú ở Lâm Đồng ít nhất ba năm và được miễn học phí hoàn toàn trong suốt bốn năm học, đồng thời vẫn được nhận học bổng (nếu đạt khá, giỏi).

(Báo Tuổi Trẻ)

 
<< Đầu tiên < Trước 11 12 13 14 15 16 Kế > Cuối cùng >>

Kết quả 181 - 195 của 232

Viec lam, Tìm việc làm, Tuyển dụng

 
© Copyright 2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved. Contact us
® Ghi rõ nguồn "MienTrung.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.