Trang chính
Xã hội
Văn hóa
Du lịch
Lịch sử
Kinh tế
Khoa học
Y tế - Giáo dục
Tin học
Môi trường
Dịch vụ
Ẩm thực
Thể thao
Tản văn
Tin mới nhất

Trang chính arrow Ẩm thực
Advertisement
 
Ẩm thực
Tứ xứ bánh canh PDF In E-mail
21/08/2004
bánh canh

Bánh canh được làm chủ yếu từ bột gạo, một số nơi ở miền nam có thêm bánh canh làm bằng bột lọc. Tại Huế có hai loại là bánh canh Nam Phổ và bánh canh cá tràu, tức cá lóc. Cách làm sợi bánh cũng như nước dùng của hai loại này khác nhau nhiều.

Bánh canh vùng Nam Phổ, bột gạo được đem pha với nước, sau khi quậy đều tay bằng một thanh tre, chính thanh tre này sẽ là dụng cụ rê sợi bánh canh. Do phải rê bằng tay nên đòi hỏi người làm phải thật thạo mới rê được.

Tại quán Nam Phổ trên đường Nguyễn Tri Phương, chị Thuận là chủ quán và cũng là bếp chính phải thực hiện công đoạn này. Nhìn chị khéo léo khuấy bột khi nhấc thanh tre lên, lúc đó bột bám bên trên sẽ nương theo cây nhỏ xuống, giai đoạn này người rê phải thật đều tay sao cho bột kéo thành sợi rơi xuống nồi nước sôi bên dưới thành những sợi bánh canh tròn đều nhau.

Với bánh canh cá lóc, theo chị Hương, chủ quán bún bò Đông Ba trên đường Nguyễn Du thì cách làm có khác. Bột gạo ngon xay mịn, chế nước sôi vào và nhồi bột liền tay cho đến khi nào khối bột nhuyễn mịn là được. Sau đó cán bột mỏng, dùng dao cắt thành sợi cho vào nồi nước lèo.

Cách làm bột của bánh canh Bình Định cũng tương tự như bánh canh cá lóc, nhưng theo chị Thanh, chủ quán Sông Trăng - Bình Qưới thì bột gạo phải được pha với nước ấm rồi mới nhồi. Sau này để khắc phục độ bở, bột được pha thêm bột mì để bánh mềm nhưng vẫn dai.

Với bánh canh ở sông Dinh - Phan Rang thì bánh được ép qua khuôn vẫn dẹt nhưng hai hông cọng bánh tròn chứ không thẳng góc như bánh vùng ngoài. Và khi đến Nam Bộ thì bánh canh rõ là cọng tròn, to, phần lớn bằng bột lọc. Riêng đối với vùng Trảng Bàng - Tây Ninh, bánh canh là một đặc sản. Bánh canh ở đây làm từ gạo nàng Miên, một loại gạo trồng vùng biên giới giáp Campuchia. Bánh tráng phơi sương cũng được làm từ gạo này, nhờ đó bánh cọng nhỏ nhưng dai, không như bánh canh bột lọc khi ngấm nước dễ bở. Cho dù làm bằng bột gạo hoặc bột lọc thì bánh đều được ép qua khuôn lỗ tròn.

Nước dùng của bánh canh được nấu từ xương lợn và các sản vật đặc trưng của từng vùng. Nam Phổ dùng tôm đất quết nhuyễn và cho từng viên vào nước lèo. Bánh canh cá lóc thì dùng cá lóc luộc trong nước dùng rồi lấy thịt đem um với mắm ruốc Huế. Vùng Bình Định trở vào Bình Thuận do nằm sát biển nên các loại cá thu, cá mối, cá rựa,… được nạo lấy thịt quết làm chả chiên hoặc hấp cho vào bánh canh. Từ đây vào các tỉnh miền nam, giò heo, thịt heo trở thành chủ lực, sau đó lại thêm cua, tôm. Tô bánh canh từ Huế vào đến Nha Trang bao giờ cũng hơi sánh đặc, từ Bình Thuận trở đi nước lèo trong và không sệt.

Cũng là bánh canh nhưng mỗi vùng có cách nấu riêng nên cách ăn cũng khác nhau. Bánh canh nấu theo gu người miền nam thường phải có cục giò heo to ụ, chưa kể còn thêm cua nếu là bánh canh cua, chỉ cần một tô thôi là đã đủ no. Hay như bánh canh Trảng Bàng, gu ăn trước hết phải làm một mâm thịt luộc cuốn bánh tráng phơi sương với hàng chục loại rau, đến khi bụng hơi lưng lửng rồi mới gọi tô bánh canh. Các món bánh canh miền trung lại có đặc điểm là một món ăn nhẹ nên tô bánh cũng vừa, đặc biệt như bánh canh Nam Phổ khi ra tô không nóng lắm. Người ăn cứ ăn từng muỗng nhẹ nhàng nhưng liên tục, nếu dừng lại hơi lâu thì món ăn sẽ bị vữa ngay.

Bánh canh là món ăn đặc biệt vừa là món mặn nhưng cũng có thể làm thành món ngọt. Bánh canh ngọt Bình Định sử dụng bột bánh như món mặn, nước đường thẻ nấu với gừng cho bột vào sẽ sánh. Khi ăn cho thêm mè rang. Bánh canh ngọt Nam Bộ hơi phức tạp, bột gạo phải khuấy trùng rồi cán mỏng cắt sợi, nước đường thẻ nấu chung với nước cốt dừa làm món ăn trở nên béo và thơm mùi dừa.

(Theo VNExpress)

 
Huế và món ăn dân dã PDF In E-mail
18/08/2004



Ẩm thực dân gian là một trong những nét độc đáo của Huế. Rất nhiều trong số các món ăn bình dân của Huế hôm nay đã từng là đồ "ngự thiện" trong cung ngày xưa.


Quán ăn truyền thống Huế thường là các quán bình dân, nhiều khi không tên, thậm chí là những gánh hàng rong. Gần đây trong dịp ghé qua vùng chợ Thông ở An Ninh Hạ, tôi tình cờ được thưởng thức món cháo sườn bò ở một quán không tên. Và tôi chợt hiểu tại sao vua Bảo Đại đã thích cái thú dân dã này.

Từ quán O Gái tới quán... không bảng hiệu

Quán nằm ở chân cây cầu gỗ bắc qua kênh Bạch Yến, được gọi là cầu chợ Thông. Ngày xưa chợ được gọi là chợ Cùng, vì đến đây là cùng đường rồi. Sau vì vua Minh Mạng thích lên vùng này săn bạch yến, người ta phải đào một con kênh nối từ sông Hộ Thành ra đây để thuyền ngự trẩy cho tiện. Từ đó đường thủy lên Kinh đô được thông suốt, và dân địa phương đổi tên chợ thành chợ Thông.

Hỏi tên quán thì cô chủ thẹn thùng trả lời không biết. Sau đó cô bảo có khi nghe người ta gọi quán cô là quán O Gái. Chỗ này tiện đường cho thợ thuyền, phu xe ghé qua mỗi sáng, chiều. Chỉ bốn ngàn đồng một tô, nhưng cháo sườn quán O Gái nếu ở một thời điểm khác chắc cũng đã chiều được những khách vương giả kén ăn. Cháo ở đây có vị thật thà, chân chất của xương, thịt. Tô cháo trong trong, sanh sánh mầu điều của tương ớt rim. Thấp thoáng ở giữa ẩn mấy khúc sườn bò nấu vừa mềm, kèm theo vài lát tim heo. Hành tây thái mỏng bỏ vào sau để chỉ hơi chín tới, lẫn với hành lá và ngò còn nguyên sắc xanh... Nhìn và nếm tô cháo người ta có thể quên mất là trời đang nóng hay lạnh, đang ngày hay đêm. Giống như mọi loại cháo truyền thống ở Huế, cháo sườn quán O Gái có bỏ lẫn hạt sen Tịnh Tâm cho tăng vị bùi.

Cũng cháo như thế, nhưng quán Thuận, một quán bình dân ở địa chỉ 86 Bùi Thị Xuân gần cầu Lòn, lại bán cháo vịt. Cháo ở đây cũng nấu cùng kiểu với cháo sườn. Cũng hành, sen, ớt, cũng rất thành thật, nhân vị béo của xương bò được thay thế bằng vị hoang dã của vịt cỏ. Vịt luộc vừa đúng độ, còn tươi nguyên chưa bị hâm nóng lại bằng lò vi sóng, cho nên mềm và nuột nà. Vịt luộc ở Huế ăn kèm với rau sống, rau thơm các loại, và nhất là chuối xanh, dưa chuột và quả vả thái mỏng. Quán Thuận nổi tiếng một phần nhờ nước chấm, tiếng địa phương gọi là nước lèo, do chính họ làm ra. Tương đậu pha với nước luộc vịt trộn đẫm gừng, lạc giã nhỏ. Đường và tương ớt làm gia vị chính. Tất cả được nấu kỹ cho sánh. Một người bạn ở sứ quán Hoa Kỳ sau khi thử món cháo và vịt luộc quán Thuận đã lấy làm tiếc là chủ quán không đóng chai loại nước chấm này để xuất khẩu.

Các đĩa đựng thức ăn dâng vua ngày xưa rất nhỏ, và các tô cháo, bán bình dân ở Huế cho đến bây giờ cũng vẫn khiêm tốn. Vì thế sau món cháo, khách vẫn còn có thể đi thử tiếp một vài đặc sản khác của Huế, thí dụ như bánh khoái. Có thuyết cho rằng thật ra đây là bánh khói, nhưng người Huế phát âm choãi thành bánh khoái. Bánh khoái được bán khắp nơi, trên bờ dưới nước. Các quán bánh khoái ở cửa Thượng Tứ, hay ở trong thành vẫn nổi tiếng xưa nay. Nhưng cũng vì nổi tiếng nên có chỗ bị cải tiến để trở thành quá trau chuốt. Chỉ có một vài quán bình dân như quán Bánh khoái Bến Đò Cồn ở địa chỉ 168 Chi Lăng, Gia Hội, còn giữ được hương vị thật thà của Huế xưa, mặc dù giờ đây bếp dầu đã thay thế cho các lò than, củi nghi ngút khói. Bánh khoái đúng kiểu phải hơi nhỏ cho hợp với phong cách Huế. Vỏ bánh ráo mặt mà vẫn mềm. Tôm tươi vừa chín giòn tan, thịt ba chỉ luộc thái nhỏ, và giá chín tới, không nhão. Nhưng quan trọng nhất vẫn là nước chấm. Tương của quán này sánh, với vị mặn, ngọt vừa đủ, gan xay và đậu phụng pha khéo không lộ liễu. Ngoài những phụ liệu như rau sống và trái xanh, cái chất không thể thiếu được của bánh khoái, cũng như của hầu hết các món ăn Huế, là vị ớt xanh thổ sản ở đây. Loại ớt này thơm ngát nhưng không hắc. Tuy rằng cay đậm, ớt xanh không làm rát lưỡi như ớt chỉ thiên.

Cũng bên Gia Hội, trên đường về Bao Vinh, đi vào ngõ cạnh địa chỉ 42 Huỳnh Thúc Kháng, rẽ phải ở cuối hẻm sẽ đến một quán bánh canh không bảng hiệu. Quán hoạt động theo lối gia đình ít nhân công nên khách thường phải đợi hơi lâu, vì thế quán được khách quen gọi là quán Bà Đợi. Dù bánh canh của quán này được thái sợi dẹt như kiểu Quảng Bình chứ không nén khuôn sợi tròn như thường tình, nhưng nước dùng thì đặc Huế. Xưa nay những gánh bánh canh Nam Phổ vẫn nổi tiếng. Tuy nhiên bánh canh ở đây hiện giờ đã bị cải biến nhiều, gọi là thể theo nền kinh tế thị trường. Phố bánh canh Hàn Thuyên gần cửa Hiển Nhơn với một rừng đèn dầu trong đêm khuya có khung cảnh thật dễ thương, nhưng nước dùng cũng thiếu hương vị cũ. Trong khi đó chỉ cần nhìn cách người mẹ nhào bột, người cha lăn bột, hay người con trai nắng mưa xoay trần ra giã chả, cũng đủ thấy vị chân thật của quán Bà Đợi. Nước dùng của quán này có vị đậm đà và thơm tự nhiên của tôm. Khi tô bánh canh được bưng ra, nước trong, chả và tôm tươi giòn sần sật, thực khách sẽ gia thêm tiêu, muối, chanh, tương ớt dầu và hành lá thái nhỏ bầy sẵn trên bàn, mặc dù tự nước dùng trong tô đã đủ ngon vị lắm rồi... Hiếm khi khách bỏ sót nước dùng trong tô bánh canh ở quán Bà Đợi.

Bún bò: Xưa và nay

Bún bò hay bún giò Huế thường được ăn vào buổi sáng sớm. Ngon nhất vẫn là các gánh bún rong rải rác khắp nơi bán đến tám giờ sáng đã ngưng. Tiếc rằng giờ đây khó có thể tìm ra được một tô bún còn mang đúng vị thật, không bị ngọt lợ. Trước tiên người ta đã đánh mất khai vị sả và ruốc đặc thù của bún Huế. Bún to sợi truyền thống hoàn toàn biến mất. Rồi các loại rau thơm, diếp mới, và ngay cả giá sống, cũng làm lạc đi cái hương vị riêng của bún bò, bún giò heo. Hiện nay mỗi tối, sau tám giờ, có quầy bà Đóa ở vệ đường trước số nhà 84 Mai Thúc Loan trong Thành được xem là một trong những nơi còn nấu đúng lối bún bò Huế xưa. Tuy rằng sợi bún cũng đã bị đổi, và quán có thêm loại thịt bò nhúng ngoại lai như ở hầu hết mọi quán bún bò ở Huế bây giờ. Một số chủ quán giải thích rằng phải đổi như thế cho hợp khẩu vị khách phương xa. Trong khi đó nhiều người Huế lại nói là giờ đây muốn có được tô bún Huế đúng cách thì phải vào Đà Nẵng hay thành phố Hồ Chí Minh. Truyền nhân của bún Mụ Rớt ở Gia Hội xưa bây giờ đang mở quán bún bò Huế ở quận Cam thuộc bang California, Hoa Kỳ. Tiệm vẫn nấu đúng lối truyền thống và rất được khách Việt, Mỹ ưa chuộng.

Trước đây người ta hòa ruốc xác vào nước cho đủ vị mặn. Đun sôi khoảng một hai giờ để lấy chất ngọt từ xác ruốc và để ruốc đỡ nặng mùi. Chờ cho ruốc lắng rồi chắt lấy nước trong. Xương heo, có người thích xương bò/ chần nước sôi cho sạch bỏ vào nấu với nước ruốc. Không đậy vung, và thả vào nồi vài củ cải để nước thêm trong, nếu cần. Thịt bò bắp bỏ vào nấu cho đến khi mềm, vớt ra để nguội rồi thái lát. Riêng giò móng heo sẽ nấu riêng cho đến khi chất đục, tanh của mỡ và da ra hết mới cho vào nồi. Ớt rim cho vào nước từ sớm, nhưng nếu nấu ở nhà thì một bó sả bằng nắm tay con nít được bỏ vào nồi khoảng nửa giờ trước khi ăn, để sả vẫn còn hương nhưng đã hết vị hắc. Rau răm cùng hành tây và bắp chuối thái mỏng là phụ gia chính của bún bò Huế. Nhiều nơi còn cho thêm tiết luộc, gân, chả cua vào bún, và nay trở nên phổ biến.

Huế thị thành - Huế đồng quê

Ở trên chỉ là một vài món ăn nóng, an toàn cho du khách. Kho tàng ẩm thực dân dã truyền thống của Huế còn phong phú lắm. Cơm hến, bún dấm, rồi các bánh bột như bèo, nậm, lọc chẳng hạn, cũng góp phần tạo thành một thực đơn gần như là biểu tượng của chốn Đế đô. Chỉ năm, ba ngàn đồng một tô trong thời buổi này, nhưng chẳng đã từng được trân trọng trên những đĩa thượng thiện của các đế hậu trong cung ngày xưa. Những món ăn dân dã khác của Huế chưa thể đề cập mời bạn đến Huế một lần thưởng thức, tự bạn sẽ cảm nhận thêm về một nét ẩm thực đã góp phần làm nên cái hồn của Huế thị thành chan hoà và gắn với Huế đồng quê...

(AmThuc)

 
Bánh chưng Nhật Lệ - Thành phố Huế PDF In E-mail
18/08/2004
Đây là món ăn nổi tiếng ở Huế và có xuất xứ từ con phố Nhật Lệ trong thành Nội, nơi tập trung hàng chục lò làm bánh. Bánh thơm dẻo, ăn rất khoái khẩu do sự kết hợp nhuần nhuyễn mùi vị giữa nhân đậu, thịt (mỡ và nạc) với gạo nếp và các loại gia vị như tiêu, hành. Người ăn quen lâu ngày thành nghiện, thành thèm.
Ăn bánh chưng Nhật Lệ khi nguội ngon hơn khi nóng. Bóc lớp lá chuối ra, màu bánh xanh thơm nhức mắt. Cắn một miếng, nhân đậu thịt mỡ màu nâu trắng béo bùi ngập chân răng. Một chuyên gia gói bánh của phố Nhật Lệ cho biết: "Nếp là phải nếp tốt, không lẫn tẻ, hạt phải tròn đều. Thịt là loại tươi nóng mới mổ ra. Nấu thì phải nấu cho bánh chín đúng độ, không nhão nát, không sống...". Du khách đến Huế ai cũng tìm ăn bánh chưng Nhật Lệ, để thấm cái hương vị đặc trưng của Lang Liêu ngàn đời "danh bất hư truyền"...

Bánh có loại bán 1.000 đồng một cặp, nhỏ bằng hai bao diêm chồng nhau. Hai cặp bánh mới hết một lạng gạo nếp. Loại 2.000 đồng một cặp thì một cặp một lạng nếp. Bánh càng nhỏ gói càng khó vì nó cũng tỉ mẩn đủ thao tác thịt, đậu xanh đánh thành nhân, gạo nếp, lá dong lớp trong, lớp ngoài. Bánh chưng Nhật Lệ có loại tới 30.000 đồng/cặp, có khi tới 50.000 đồng. Nhưng loại lớn này chỉ gói theo đơn đặt hàng, thường là vào dịp giỗ chạp, cưới hỏi hoặc tết.

Cứ sáng sớm tinh mơ là hàng chục người đổ về phố Nhật Lệ lấy bánh chưng đi bỏ cho các điểm bán lẻ. Tính ra mỗi ngày, các lò bánh chưng Nhật Lệ cung ứng ra thị trường năm, bảy nghìn chiếc bánh chưng.
 
Lươn bung củ chuối PDF In E-mail
18/08/2004

Lươn nấu cùng củ chuối hột, đem bung nhừ tỏa vị ngọt đậm của thịt quyện với vị chát của chuối hột, tạo vị ngon khó quên. Món ngon dân dã này thường có vào mùa mưa tháng tám.

Những con lươn to bằng ngón chân cái, da vàng ươm, óng ả, quen sống trong hang, người ta đánh bắt bằng cách cầm mồi câu hoặc đánh trúm. Còn củ chuối nấu món này phải là củ chuối hột, chuối thường ăn không ngon. Chuối hột sinh sản rất nhanh, cuốn nõn như chuối tiêu, chỉ dùng củ non lấy ở cây mới cao độ trên dưới một mét rửa sạch, gọt bỏ vỏ bên ngoài, thái nhỏ thành sợi sau đó đem ngâm với nước lã cho đỡ thâm và chát.

Chọn lươn to, da vàng, tuốt nhớt, làm sạch, rồi chặt từng khúc ngắn, khoảng một đốt ngón tay. Củ chuối thái nhỏ, rửa sạch. Cả hai thứ cho vào nồi trộn lẫn với mẻ, để một lúc cho ngấm rồi thêm một số gia vị như: vỏ quýt, mắm tôm, ớt, hành, nước củ nghệ giã nhỏ làm màu, muối mắm vừa đủ, rồi bắc lên bếp đun sôi sau đó cho thêm một ít nước.

Nấu món này phải có thời gian để củ chuối và lươn đều mềm nhừ nên gọi là "bung". Khi nồi lươn bung củ chuối đã chín, bắc ra, mở vung rắc hành và rau thơm được thái mịn lên trên. Mùi thơm ngon tỏa ra làm ta ngây ngất, vị ngọt đậm của lươn hòa quyện với vị chát của chuối hột, cộng thêm chất chua của me, vị cay của ớt, vị ngọt của mắm tôm, chất thơm của vỏ quýt, vị mặn của muối... tạo nên một thứ hương vị thơm ngon khó quên.

Lươn bung củ chuối hột là món ăn dân dã, dễ kiếm và dễ chế biến ở mọi vùng quê. Nhưng có lẽ thường được nấu ăn nhiều nhất là vào mùa mưa tháng tám. Có nơi lại dùng thưởng thức trong đêm rằm Trung thu.

Giờ đây người ta còn dùng món "lẩu lươn". Đó là lươn om với chuối xanh, cà xanh. Nhưng nhiều người vẫn không thể quên món "lươn bung củ chuối".

 
Ăn tôm ở Bình Định PDF In E-mail
14/08/2004

Con tôm đối với nhiều nơi là một món ăn đặc sản nhưng đối với người Bình Định thì lại rất bình thường; tôm biển, tôm đầm, tôm nước lợ, nước ngọt… đủ cả.

Nói vậy thôi chứ các loại tôm "cao cấp" như tôm hùm, tôm sú thì dành xuất khẩu hoặc bán vào các nhà hàng, giới lắm tiền mới dám "chơi". Riêng các loại tôm đất, tôm bạc… thì dù ít tiền cũng "xài" được. Nhất là từ khi phong trào nuôi tôm nổi lên rầm rộ thì các loại tôm "thường thường bậc trung" nói trên ngày càng phong phú. Tôm mua về nhà, chế biến thì cũng ngon, nhưng ăn tôm ở ngay bờ tôm thì mới thật thích.

Một số hộ nuôi tôm ở nhiều nơi thường kiêng cữ chuyện nướng tôm ở bờ nuôi tôm. Có lẽ họ ngại cái từ "nướng". Riêng dân nuôi tôm ở Bình Định thì hầu như chẳng kiêng cữ gì. Có khách quí hoặc bạn bè đến thăm là họ sẵn sàng chiêu đãi món tôm đủ các kiểu: nướng, hấp, chạo tôm… (dĩ nhiên là phải ở trong thời điểm mùa tôm).

Người viết bài này không làm nghề nuôi tôm nhưng có nhiều bạn bè làm chủ bờ tôm nên cũng thường được thưởng thức cái kiểu ăn tôm đầu bờ. Thử tưởng tượng một đêm trăng vằng vặc, dăm bảy người bạn ngồi trên chiếc chòi bảo vệ giữa đìa nuôi tôm rộng mênh mông ở Huỳnh Giảng, Vinh Quang (Tuy Phước) hoặc Nhơn Bình (Quy Nhơn), vừa nhâm nhi tôm nướng với xị rượu Bàu Đá, vừa tâm tình chuyện làm ăn… thì cũng quá đã.

Lần đầu tiên được bạn mời đến tham quan cơ ngơi nuôi tôm và được chiêu đãi, cứ nghĩ đến việc ăn tôm "chùa" thì cũng ngại lắm. Nhưng rồi bạn trấn an: "Tôi mời ông ăn tôm đất chứ đâu có cho ông ăn tôm sú mà ông "xót" của dùm tôi. Mà tôm đất ở bờ tôm thì…vô tư". Nghe thế nên tôi cũng yên lòng mà "xơi" tới tới.

Buổi chiều, sau khi mời mỗi người ăn mấy chiếc bánh xèo nhân tôm để… tráng bụng, 7 giờ tối chủ bờ tôm kéo cả bọn bơi thuyền ra chòi. Anh quạt một lò than đỏ hồng, bày ra chiếu một đĩa muối tiêu chanh cùng xị rượu. Chúng tôi hơi ngạc nhiên vì chẳng thấy tôm đâu cả, cứ ngỡ anh bạn đã bắt tôm chuẩn bị sẵn. Thấy thế, anh bạn cười cười, tay đập một quả trứng gà, cho lòng đỏ trứng vào một chiếc đĩa lớn rồi anh đưa tôi một chiếc muỗng bảo cứ dùng đáy muỗng chà nhè nhẹ và thật đều vào đĩa lòng đỏ trứng, thỉnh thoảng nhỏ vào đấy vài giọt dầu mè mà anh đã mua sẵn. Anh bạn cho biết: "Đây là món nước sốt kiểu Pháp, chấm tôm nướng ngon lắm, ăn theo kiểu "Tây- ta đề huề" mà. Ông cứ chà nhẹ đều tay khoảng 30 phút là xong".

Rồi anh lấy chiếc lưới trủ đặt xuống vùng nước bên trong cổng bờ tôm, treo phía trên một ngọn đèn dầu. Con tôm cứ theo ánh sáng đèn chui vào bụng lưới. Khoảng 30 phút sau anh kéo lưới lên, trút ra chừng 1kg tôm đất cỡ ngón tay cái, ngón tay trỏ người lớn. Anh nói với chúng tôi: "Xong, ta vào tiệc, nếu thiếu thì làm mẻ nữa". Cứ thả nguyên con tôm còn nhảy tanh tách lên chiếc vỉ trên lò than hồng. Tôm chín chấm cùng món sốt trứng gà và muối tiêu chanh. Đơn giản mà ngon miệng lạ. Cuộc nhậu đang rôm rả thì thằng con trai lớn của anh bơi thuyền ra "tiếp tế" thêm "món mới". Cũng món tôm, mà là tôm bạc cỡ đầu đũa đã làm sạch đầu, đuôi, vắt chanh vào trộn đều, cứ thế mà cuốn với bánh tráng, rau sống, chấm nước tương đậu phụng, chẳng cần mù tạt mù tiếc gì cả mà cũng thật hấp dẫn khẩu vị.

Chủ bờ tôm nói với chúng tôi: "Dân nuôi tôm chúng tôi còn nhiều món "tuyệt chiêu" nữa. Lần sau các ông lên, tôi sẽ chiêu đãi món tôm đặc biệt, giờ chưa thể "bật mí" được, chứ còn cái kiểu tôm lăn bột, tôm hấp dừa như nhà hàng thì xoàng lắm".

Chúng tôi tin lời "quảng cáo" của anh bạn nuôi tôm.

 

(Báo Bình Định)

 
Bát canh cá tà ma PDF In E-mail
12/08/2004

Cá tà ma là một loại cá gành, nằm dưới rạng, ở sát gành, chứ không ở biển như các loài cá khác. Theo các ngư dân, tên cá nghe rất lạ như vậy bởi vì cá rất lanh lợi, rất khó đánh bắt, câu khó khăn lắm mới trúng được cá. Có lẽ vì thế mà từ rất lâu, người dân biển đã gọi tên cá là tà ma để chỉ chỉ ranh ma của cá?

Đánh bắt cá này phải có nghề chuyên môn, không phải người làm biển nào cũng đánh bắt được. Cá tà ma là loại cá có vảy, mình dẹp, xương giữa rất cứng. Cá to nhất thân cá khoảng bằng cái dĩa bàn lớn, dài khoảng 2 gang tay. Cá có hai loại, một loại thịt bở, một loại thịt dai, nhưng đều ngon cả.

Cá tà ma chỉ dùng để nấu canh. Bát canh cá tà ma thì ngon tuyệt. Ruột cá tà ma rất nhiều và ngon hơn cả ruột gà. Khi làm cá, lấy ruột riêng, dùng dao rạch dạ dày cá nạo sạch. Xắt nhỏ ruột cá xào với dầu thế là đã có món nhậu lai rai chờ nồi canh cá chín.

Tùy theo mùa mà có cách nấu canh khác nhau. Vào mùa đông xuân thì nấu canh cá tà ma với hẹ, mùa hè thu thì nấu với cải rổ. Cách nấu với lá hẹ như sau: Cá đánh vảy, rửa sạch, cắt khúc ướp với ớt, hành, muối cho thấm. Nấu nước sôi, cho cá đã ướp vào, đợi cá chín, nêm nếm vừa ăn, nhắc xuống cho lá hẹ xắt nhỏ vào. Vớt cá ra dĩa, múc canh ra bát, ăn nóng.

Bát canh cá tà ma cực kỳ ngon, bởi mùi thơm của cá và hẹ tỏa ra, nước canh trong ngần, điểm màu xanh của lá hẹ, màu đỏ của ớt chín giã nhỏ trông thật hấp dẫn. Thịt cá trắng phau, không tanh, lườn cá rất béo. Bởi cá dai nên phải dùng tay để xé cá ra, chấm với nước mắm ớt tỏi, ăn cùng với bánh tráng nướng, uống với vài ly rượu đế thì thật là tuyệt vời.

Với người dân biển Quy Nhơn, bạn bè thân thiết lâu ngày gặp nhau, đãi bát canh cá tà ma thì thật là không gì ngon bằng.

(Bao Binh Dinh)

 
Ghẹ sông Cầu PDF In E-mail
29/07/2004

Ghẹ vùng Sông Cầu (Phú Yên) to bằng bàn tay, bụ bẫm, thân mình xanh thẫm, càng và yếm lốm đốm trắng, béo mầm. Người ta có thể luộc, rang muối hoặc nướng vỉ, làm món lai rai rất thú. Khách muốn có bữa cơm ghẹ thì có ngay tô canh ghẹ, đĩa ghẹ kho rim nóng hổi.

Người bắt ghẹ chuyên nghiệp thường sử dụng đôi tay trần hay đặt gọng vó. Còn những người không chuyên nghiệp thì dùng các chĩa ba đâm xuyên qua thân ghẹ rồi gom lại nhậu liền tại chỗ. Bắt ghẹ tương đối dễ dàng. Chúng thường bơi trong các hang đá, kẽ ghềnh hay bò lên nằm phơi nắng trên các gộp đá. Người đi bắt ghẹ nhanh tay túm lấy một lúc cũng vài chục con.

Ghẹ đưa ra bán ở các chợ hay cung cấp cho các quán ăn, nhà hàng đã đặt mua sẵn. Chủ quán thường nhốt các chú ghẹ trong các rọ tre rồi thả chìm xuống nước, khi nào khách cần mới lôi lên làm món. Khách ngồi hóng gió mát, nhìn trời nước bao la chừng mười phút sẽ có món ghẹ rang muối hay ghẹ luộc dọn lên ngay. Còn khách muốn có bữa cơm ghẹ thì cũng sẵn sàng với những tô canh ghẹ, đĩa ghẹ kho rim nóng hổi còn bốc khói.

Nếu cần nhâm nhi lai rai thì đã có những chú ghẹ to tướng, mầu đỏ gạch, nằm gọn gàng trên đĩa trông thật hấp dẫn. Dùng hai tay bẻ lấy đôi càng rồi nhẹ nhàng đập vỡ nó ra, chấm vào đĩa muối cho vào miệng. Cảm giác đầu tiên là vị ngọt ngọt, mùi thơm thơm, béo béo và mịn màng ở đầu lưỡi, sau đó ngấm dần xuống tận cổ. Khách hớp chút bia để lấy đà, xơi tiếp bằng cách lột bỏ cái yếm trắng dưới bụng, bóc cái mai để lộ ra lớp thịt săn chắc trắng nõn nà và một lớp gạch màu vàng ươm. Dùng cái nĩa cạy hết lớp gạch chấm vào đĩa muối tiêu ăn trước, sau đó mới đến lớp thịt. Ăn ghẹ chớ ăn vội, cứ chậm rãi từng con một, hết con này đến con khác. Vừa ăn vừa uống bia. Khi nào cảm thấy bụng đã no, mới thôi!

Rời Sông Cầu thơ mộng trong cảm giác thoải mái, du khách không quên mang về những xâu ghẹ còn tươi rói, miệng còn thở phì phì, để làm quà cho gia đình hay bạn bè thân thuộc..

(VNExpress)

 
Mực muối Quy Nhơn PDF In E-mail
26/07/2004

Mực muối là loại mực ống còn nhỏ, đem muối khi còn tươi. Món này có thể kho rim với thịt, đem nướng hoặc chiên đều mang vị đặc biệt hấp dẫn.

Ở Quy Nhơn, người dân vùng biển được thừa hưởng những hải sản dồi dào của biển, với nhiều món ăn phong phú. Trong đó mực là một món ăn rất được ưa chuộng và có thể chế biến nhiều món khoái khẩu dẫn bằng cách hấp, xào, lẩu... Riêng mực muối là món ăn dân dã nhưng lại đậm đà và ý vị.

Những ngày nắng nóng, mâm cơm đạm bạc chỉ cần đĩa mực muối kho rim với thịt ba chỉ cũng tạo vị ngon miệng. Những con mực nho nhỏ để nguyên con mặn mà, thớ thịt săn chắc, được kho quyện thêm vị béo của thịt mỡ. Vào các tháng mưa bão, với khí hậu khắc nghiệt của miền trung, món mực muối kho rim càng hấp dẫn hơn. Đĩa rau luộc chấm nước mực, ăn với cơm gạo trắng thì cao lương mỹ vị cũng khó sánh bằng.

Cuối hè sang thu là mùa mực. Các chợ bán đủ cả mực tươi và mực muối. Lúc trời sa mưa, gió bấc thổi về thì mực muối bán càng nhiều. Những chiếc thúng chai đầy ắp mực muối với đủ loại lớn nhỏ, tiền nào của nấy, người đi mua sắm tha hồ chọn lựa.

Mực muối là loại mực ống còn nhỏ, đem muối khi còn tươi. Mực vừa được thuyền chở về bến bãi là đưa ngay ra chợ bán. Người mua đem về phân loại theo cỡ to, nhỏ khác nhau. Loại lớn chỉ dài khoảng gang tay, còn mực nhỏ thì đủ cỡ, có con chỉ dài khoảng bốn, năm đốt ngón tay. Tuy nhiên, mực ngon không chỉ nhìn vào kích thước mà phải xem mầu sắc nữa. Những con mực ngon có mầu sậm đỏ hoặc tim tím, khô ráo, không trơn ướt. Mực muối trước khi chế biến phải đem ngâm nước cho ra bớt chất mặn. Sau khi ngâm, kéo bỏ chiếc chai mỏng, gỡ bỏ túi mực, rửa sạch, để ráo nước. Mực cho vào thạp, lu ngâm đủ độ mặn của muối, vừa để no nắng. Mực muối để dành ăn quanh năm, nhưng tránh để ở nơi ẩm thấp.

Ngoài cách kho rim hay kho nước với thịt ba chỉ, người ta còn làm món nướng. Mực muối được đưa lên bếp lò than hồng để nguyên con. Nướng lên, trở đều tay cho khỏi cháy, mùi thơm tỏa ra sực nức, mực chín đem đập hơi dập, xé nhỏ ra để ăn với cơm. Tuy đơn sơ nhưng hương vị đặc biệt, khó tả hết cho được. Nếu làm món chiên thì cắt mực ra từng khúc cho vào chảo dầu đã phi sẵn hành (tỏi) đảo qua đảo lại chừng mươi phút. Cuối cùng, nêm chút gia vị, đường, ớt sẽ cho một món ăn khá lạ miệng với đủ hương vị cay cay, mặn, ngọt, thịt mực dai dai, càng ăn càng thấy khoái khẩu. Nếu thêm chút rau thơm nữa thì càng ngon tuyệt.

(Theo VnExpress)

 
Mực ống trộn ngó sen PDF In E-mail
21/07/2004
Món nộm dân dã này thật hấp dẫn với sắc ngà của ngó sen, hòa quyện với mầu hồng của thớ mực. Đây là một đặc sản của vùng Thị Nại (Quy Nhơn, Bình Định).

Mực ống trộn với ngó sen
Hai món đồng, biển giao duyên thắm tình

Món trộn này mới nghe qua có vẻ dân dã nhưng lại được coi vào hàng đặc sản ở ven đầm Thị Nại (TP Quy Nhơn).

Nói đến ngó sen, nhiều người đều thích thú bởi vì nó là món ăn ngon, quý hiếm, kết tinh từ một loại cây ở đầm lầy - cây sen. Cứ vào đầu mùa hè, mầm hoa sen từ gốc đâm chồi ra, gọi là ngó sen. Khi ngó sen có độ dài vài gang tay thì người ta ngắt lấy, ngâm vào nước muối để bảo quản rồi đem ra chợ bán. Ngó sen không nhiều nên giá thành khá cao, từ 20 - 30 nghìn đồng/kg. Ngó sen mua về đem rửa sạch, lột bỏ lớp vỏ lụa rồi đem chẻ khúc như trẻ rau muống.

Mực khô ở đây là loại mực ống, còn gọi là mực lá. Giá trên 100 nghìn đồng/kg. Mực vừa khô nên chất ngọt còn giữ nguyên. Nếu không có loại trên thì có thể dùng mực nang hay mực thẻ, nhưng loại này không ngon bằng. Mực đem kẹp vào vỉ sắt, nướng trên bếp than nhỏ lửa. Tốt nhất là dùng cồn hay rượu cao độ để nướng cho mực vừa chín tới. Dùng giấy sạch bao con mực, đặt trên thớt gỗ và dùng chày giã cho mềm, cho tơi rồi xé vụn ra.

Phi một chảo dầu với tỏi cho thơm, nhắc xuống, đổ ngó sen và mực khô vào chảo, dùng đũa trộn đều, nêm nước mắm ngon, bột ngọt, tiêu, đường và nước chanh vắt vừa đủ chua, sau cùng trộn vào các loại rau thơm đã cắt sợi và đậu phụng rang chín vàng, đâm nát. Nêm cho vừa ăn thì múc ra đĩa. Ăn món trộn trên phải kèm với bánh tráng mè nướng vàng.

Trông đĩa trộn thật bắt mắt, những đọt ngó sen trắng ngà, làm nền cho những thớ mực mầu hồng, những cọng rau thơm mầu xanh, điểm vào những hạt đậu phụng chín vàng. Tất cả tạo một cảm giác vừa ngon lành, vừa gợi cảm. Chất ngọt đậm đà của mực pha cái béo của đậu phụng, cái giòn của ngó sen tạo cho món ăn một nét đặc trưng. Với một nhóm bạn tâm giao, ngồi dưới bóng mát của vườn cây ven đầm Thị Nại, cứ tà tà, nhẩn nha mà thưởng thức và không quên một xị rượu Bầu Đá danh tiếng của đất Sơn Tây.
(Văn hóa nghệ thuật ăn uống)
 
Cháo cá em PDF In E-mail
21/07/2004

Các loại cá thuộc họ cá nhám không đẻ con bằng trứng như các loài cá khác mà lại đẻ ra cá con. Khi cá con còn nằm trong bọc trong bụng mẹ thì gọi là cá em. Cá em rất ngon, bổ mà lại rẻ tiền, nên được nhiều người ưa chuộng. Đặc biệt là món cháo cá em thì tuyệt vời.

Để nồi cháo cá em ngon, độc đáo thì phải chọn cá em to cỡ bằng bắp tay người lớn. Bởi cá nhỏ quá thì nhớt, to quá thì xương cứng, mất ngon. Dùng nước nóng âm ấm để rửa cá rồi cạo cho sạch da cá, cắt khúc ướp với đầy đủ các loại gia vị hành, tiêu, ớt, dầu, trong đó không thể thiếu củ nghệ giã nhỏ. Khử dầu cho tới, đổ cá đã ướp vào tao vừa chín, đợi khi cháo gạo nấu chín lúp búp thì đổ cá đã tao vào, đợi sôi lên rồi nhắc xuống là có nồi cháo cá em.

Dùng đũa và vá gắp từng khúc cá em ra đĩa, gắp thật khéo sao cho cá không nát. Cháo cá em ăn nóng mới ngon. Khi ăn, người ta ăn cá trước. Cá được ăn với báng tráng nướng loại mỏng, cùng với các loại rau thơm như rau húng, rau răm, chấm với nước mắm tiêu thật cay. Ăn cá xong rồi mới ăn cháo. Nồi cháo cá em ngon phải bảo đảm tiêu chuẩn: cháo nấu loãng, hạt gạo nở lúp búp, nhìn vào nồi cháo nổi hẳn lên một lớp váng dầu màu vàng, đó là màu vàng của nghệ và dầu khi ướp cá.

Cá em là loại cá quý, tuy không phải là loại bát trân như yến sào nhưng có thể coi là loại sơn hào, hải vị. Ngày xưa, ngư dân đi biển khi có được cá em thường dùng để biếu cho sui gia, thầy giáo, khách quý, đám tiệc. Ngày nay nhờ phương tiện đánh bắt thủy sản hiện đại, nên cá em cũng không khó kiếm như ngày xưa. Nhưng dù xưa hay nay, thời nào thì cháo cá em cũng giữ nguyên giá trị về mặt dinh dưỡng cao, rất bổ dưỡng cho mọi người.

(Báo Bình Định)

 
<< Đầu tiên < Trước 21 22 23 24 25 Kế > Cuối cùng >>

Kết quả 316 - 330 của 367

Viec lam, Tìm việc làm, Tuyển dụng

 
© Copyright 2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved. Contact us
® Ghi rõ nguồn "MienTrung.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.