Trang chính
Xã hội
Văn hóa
Du lịch
Lịch sử
Kinh tế
Khoa học
Y tế - Giáo dục
Tin học
Môi trường
Dịch vụ
Ẩm thực
Thể thao
Tản văn
Tin mới nhất

Trang chính arrow Ẩm thực
Advertisement
 
Ẩm thực
Nộm sứa PDF In E-mail
10/07/2004

Vào những ngày hè nóng bức, du khách có dịp về miền Trung sẽ được thưởng thức món nộm sứa. Đây là món ăn lạ miệng rất thích hợp trong mùa nắng nóng, vừa ngon, vừa mát, lại rẻ tiền.

Con sứa trông giống như thực vật nhưng lại là động vật thuộc loại xoang trường cùng họ với san hô. Thân sứa trong suốt như thủy tinh, mềm mại như chiếc lá, mang đủ mầu sắc, từ xanh dương, hồng cho đến tim tím... Sứa chứa 95% nước biển, nếu đem phơi nắng suốt 12 giờ liền trên bãi cát thì toàn thân sứa sẽ mỏng ra như tờ giấy.

Mùa hè là mùa sứa nổi. Từng thảm sứa di động trên mặt biển trông như vườn hoa sặc sỡ. Sứa không có mắt, không có vây, không có tai, không có đuôi và cũng không có xương... thế mà sứa chịu đựng được mọi sóng to gió lớn. Người đi biển gặp thảm sứa, lấy dây buộc lại và dùng thuyền máy kéo lôi vào bờ. Sứa được đưa lên bãi cát và ngư dân dùng dao sắc cắt thân sứa ra làm nhiều mảnh. Sau đó còn cắt ra từng miếng nhỏ bằng ngón chân cái, trông giống như cái tai gọi là sứa tai. Còn chân sứa cũng đem cắt nhỏ gọi là sứa chân. Sứa tai trong suốt mọng nước, ngả mầu xanh dương trong khi sứa chân trắng đục, giòn như gân, sụn. Chính vì sứa chân ngon hơn sứa tai nên giá bán cũng đắt hơn.

Sứa đem "rộng" vào những chiếc thúng chai (thúng đan bằng nan tre có trét dầu chai) có chứa nước biển. Người bán sứa thường gánh đôi thúng, bày bán ở các chợ quê, chợ tỉnh. Khi nào có người mua, người bán mới vớt sứa ra và đong bằng chiếc chén đất. Giá mỗi chén sứa tai từ 1.500 đồng đến 2.000 đồng, sứa chân từ 2.000 đồng đến 4.000 đồng.
Sứa đem về rửa thật sạch bằng nước lã cho trôi hết cát và rong rêu, sau đó mới vớt ra đựng vào chiếc rổ nan tre cho ráo nước.

Muốn làm món nộm bằng sứa tai, người nội trợ phải khéo tay, xếp sứa lên một chiếc bát úp lọt lòng chiếc thau nhựa có kích cỡ vài tấc tây là có thể đủ ăn cả nhà. Nước sứa tiết sa, sẽ rút xuống đáy thau. Bấy giờ người đầu bếp mới rải lên mặt sứa một lớp gia vị đủ như loại lạc rang giã nhỏ, chuối chát non thái mỏng, xoài xanh băm nhỏ, ớt chín, rau răm, rau húng... thế là có món nộm sứa ngon lành.

Với sứa chân, người sành ăn có thể làm thành món nộm công phu và tốn kém hơn. Đem sứa chân thái nhỏ, rửa bằng nước đun sôi để nguội, sau đó trộn chung với thịt gà luộc hay thịt heo thái mỏng, thêm vào ớt chín, xoài xanh băm nhỏ, trứng luộc, lạ rang giã nhỏ, rau thơm các loại... khiến cho hương vị càng thêm đậm đà, khoái khẩu.

Nộm sứa ăn với cơm hay bánh tráng gạo (bánh đa) nướng chín chấm với nước mắm gừng nhâm nhi với ly rượu hay bia thì tuyệt.

Hiện nay, món nộm sứa đang bước vào thực đơn các nhà hàng như một món ăn đặc sản miền biển.

(Sưu tầm)

 
Chả cá Phù Mỹ PDF In E-mail
10/07/2004

Quê tôi ở một vùng biển thuộc huyện Phù Mỹ (Bình Ðịnh). Cứ đến Tết, tôi lại cố thu xếp để được về quê. Dân biển ở đây ăn Tết rất vui và "xôm". "Xôm" là nhà nào cũng phải có được mấy ký thịt heo, bò thưng, mấy ràng bánh tráng, bánh tét, thẩu kiệu mặn, một can rượu Mỹ Thọ khoảng 5-6 lít rồi bánh mứt, hạt dưa... và bằng mọi giá, dẫu biển êm hay biển động, cá ít, cá nhiều... cũng phải có một nồi cá ngừ kho - món "đặc sản" vùng biển miền Trung - và dăm ba giề chả cá hấp tròn tròn với đường kính khoảng hơn một gang tay.

Cá ngừ kho làm đơn giản. Chọn cá tươi, làm sạch và xắt thành từng khúc. Giã hành với muối hột, tiêu ướp để chừng một giờ đồng hồ cho ngấm, đun một nồi nước sôi, thả cá vào cùng mấy trái ớt chín đỏ, khi ăn thì dầm nhuyễn ớt. Bữa cúng chiều 30, vào ba ngày mùng 1, mùng 2, mùng 3 trên mâm cơm mời ông bà, thì không thể thiếu được đĩa cá kho ngọt (kho kiểu đó người miền Trung kêu là kho ngọt). Bát cơm gạo trắng thơm lừng mùi lúa mới ăn cùng miếng cá ngừ kho đậm đà, vị bùi béo của cá, vị cay của tiêu, ớt, thoang thoảng hương thơm của hành...

Ngoài nồi cá ngừ kho ngọt, dù bận rộn đến đâu cũng người dân ở đây làm dăm ba giề chả cá để hấp. Chả cá có thể làm bằng cá thu, cá mối, cá chuồn, cá nhồng, làm sạch, nạo thịt cá, đem băm nhuyễn, nêm chút gia vị, rồi bỏ vào cối quết mạnh, chắc và đều tay. Thoa dầu lên đĩa làm khuôn để cho khỏi dính và bỏ vào nồi hấp. Cá vừa chín tới hương thơm tỏa ra thơm lựng khắp gian nhà. Ba bữa Tết người dân vùng biển có món chả cá, mời bạn bè thân thiết đến lai rai hay để làm món ăn dự phòng. Làm mồi uống rượu thì xắt hình con thoi, hình chữ nhật chiên giòn hoặc để nguyên khi vừa hấp...

Rượu Mỹ Thọ, mồi chả cá chấm ớt tương, nhâm nhi giữa không gian xuân tươi đẹp, vào lúc không phải tất bật với chuyện tôm cá, biển khơi, tàu bè... chung quanh là gia đình, bạn bè đầm ấm, vui vẻ, thật không còn có cái thú nào bằng.

(Sưu tầm)

 
Cá chạch tre PDF In E-mail
08/07/2004

Bàu Sấu ở An Nhơn (Bình Ðịnh) nổi tiếng nhất với loài cá chạch tre. Giống cá này mình thon, đầu nhọn, đuôi có chấm đen khi đem kho hay nướng đều có hương vị ngon và lạ.

Vào mùa lũ, từng đàn chạch tre thường bơi ngược dòng nước. Người ta đóng cọc, rồi gài cành cây làm cản nước để câu chạch tre. Sau đó, đào một hố sâu trên bờ để nhốt cá câu được. Ta có thể cùng một lúc dùng nhiều cần câu làm bằng tre để câu. Lũ cá chạch dựa vào vũng nước động do bị cản dòng rồi ngoi lên đớp mồi liên tục. Cá chạch rất ham ăn, thấy mồi là nuốt ngay. Người câu chỉ việc nhấc từng cần nhẹ nhàng để kéo cá lên bỏ vào hố đất đã đào sẵn, miệng cá chạch tre trơn nhẫy như lươn nên nó sẽ tự nhả mồi và rơi xuống hố. Sau buổi câu, người câu chỉ việc nhặt cá bỏ vào giỏ mang về. Đi câu vào những ngày đầu con nước có thể kiếm được năm, ba ký chạch tre chỉ sau một vài giờ.

Cá chạch tre có hương vị lạ, đặc biệt khi kho với sả, nghệ. Cho sả vào cối giã nhuyễn, củ nghệ tươi xắt nhỏ thành sợi. Cá câu được đem nhốt vài ngày trong chum, vại để chúng tự động trút hết chất thải cho sạch. Khi nấu, ướp cá với sả, nghệ và gia vị chừng một giờ rồi kho trên lửa nhỏ. Khi nồi cá kho đã keo nước là có thể nhắc xuống ăn với cơm nóng. Vị ngọt thơm của cá quyện với chút the nồng của nghệ, của sả sẽ làm cho món ăn dân dã này có thể sánh với bất kỳ thứ đặc sản nào trên đời. Nếu câu được nhiều, người ta chia một ít cá để đem ướp muối khoảng một tuần, khi muốn ăn chỉ việc đem nướng trên than hồng.

Người dân Bình Ðịnh rất khoái mắm cua chua kho với thịt cá chạch nướng được xé nhỏ, sau đó dùng nước kho cá để chấm với rau lang luộc. Nhưng đơn giản nhất vẫn là chạch nướng tươi xé nhỏ cuốn với lá mơ, chấm muối ớt, đây cũng là món mồi rất dân dã dùng để nhắm với rượu Bàu Ðá, loại danh tửu của đất Bình Ðịnh.

(Sưu tầm)

 
Phở sắn PDF In E-mail
07/07/2004
Quế Sơn, một huyện trung du của tỉnh Quảng Nam, có món ăn rất độc đáo, đó là phở làm từ bột của củ sắn.
 
Phở sắn được làm từ bột củ khoai mì (bột sắn). Khoai mì xắt lát mỏng phơi khô đem xay thành bột sau đó đổ nước lạnh vào khuấy đều lên để cho bột lắng xuống và chắt lớp nước trên mặt đi, làm như vậy cho đến khi nước đứng ở trên không còn đục. Bột sắn khi được lọc như vậy sẽ trắng và loại bỏ chất độc và đắng trong sắn, sau khi lọc xong cho vào nồi bắc lên bếp, khuấy đều tay,  đun nhỏ lửa để bột chín đều và khỏi bị sít dưới đáy nồi, khi tay khuấy hơi nặng tức là bột đã chín, sau đó cho ra thau để nguội, múc bột đổ lên khuôn dàn thật đều, phía trên dùng đòn chân tác dụng một lực lên chày, chày ép xuống khuôn, bên dưới đáy khuôn có đục các lỗ tròn nhỏ phở thoát ra từ các lỗ nhỏ ấy. Bên dưới cần có một người khéo tay dùng tấm vỉ tre đường kính 30 x 50 cm đưa thật đều tay để cho các sợi bánh trải đều trên vỉ theo hình mắt cáo đều nhau, sau đó đem phơi khô.

Tấm phở bẻ làm bốn ngâm vào nước sôi để nguội hoặc nước hơi ấm khoảng năm phút cho phở vừa mềm, vớt ra rổ để cho ráo nước, giã một ít tỏi đem khử dầu phụng (lạc), pha sẵn một chén mắm ớt tỏi thật ngon, rang đậu phụng đem giã dập và chuẩn bị một ít rau thơm (rau quế). Sau khi chuẩn bị gia vị xong, cho phở vào thau rưới dầu, mắm và bỏ đậu, rau... vào trộn đều, gắp ra tô, sẽ được một tô phở sắn thật tuyệt vời. Vị dai dai và bùi bùi của phở quyện với mùi thơm của tỏi dầu, đậu phụng rang, rau quế cho ta một hương vị ngon miệng và đậm đà khó quên, nếu có bánh tráng gạo nướng lên bẻ nhỏ bỏ vào thì càng tuyệt vời hơn, hoặc như ở một số nơi sau ngày người ta có thể cho thêm tôm và thịt nạc băm nhỏ vào càng ngon hơn.

Ngoài ra phở sắn còn có thể chế biến bằng cách bỏ phở đã ngâm vào tô, cho cá ngừ hoặc cá thu xắt lát mỏng đem ướp cho ngấm, nhúng qua nước sôi cho lát cá cứng lại, đem giã dập ra và cho vào nồi dầu đã khử tỏi, um lên cho dầu thấm vào cá, cho một chút bột nghệ vàng, cho nước nóng vào nồi, thêm gia vị cho vừa miệng, đun sôi nước chan vào tô đã có phở sẵn, bên trên cho một ít rau thơm và ớt đỏ xắt lát mỏng, bên dưới bỏ một ít rau chuối  thái mỏng ta sẽ được một tô phở thật đậm đà ngon miệng, khi ăn một lần bạn sẽ còn nhớ mãi không quên.
 
(Nhân dân)

 
Tré Quy Nhơn PDF In E-mail
03/07/2004

Tré là một món ăn rất ngon khá nổi tiếng của người miền Trung, trong đó, hương vị được pha trộn giữa vị ngọt của thịt và vị cay của riềng. Xếp hàng "vơ đét" phải kể đến món tré Quy Nhơn đã được giới sành ăn mệnh danh là "vua Tré".

Đây là món đặc sắc được chế biến từ thịt đầu heo, bò hay thịt heo nạc bằng cách xắt lát trải phẳng sau đó cuộn tròn, trộn với một số hương liệu: tiêu, ớt chín, củ riềng, tỏi, muối, mè, thính... Sau đó, gói hỗn hợp trên trong lá ổi, bọc quanh lá chuối cột chặt bằng dây lạt. Tré sau khi làm để vài ngày là ăn được, tuy nhiên để lâu dễ bị chua vì thế nên để trong tủ lạnh sẽ được bảo quản lâu hơn.

Khi Tết đến người dân thường dùng tré ăn chung với dưa món, củ kiệu, bánh tét. Đối với người miền Trung xa xứ, được tặng vài đòn tré vào ngày Tết thật không có gì ý nghĩa bằng. Trong mâm tiệc nhậu lai rai, tré được ăn chung rượu, bia rất "bắt". Ngày nay, món tré rất phổ biến với người dân Quy Nhơn, nên có khá nhiều quán bán đặc sản tré ở đây.

(Sưu tầm)

 
Món măng xứ Huế PDF In E-mail
01/07/2004

Vào những buổi trưa hè nóng nực, trong bữa cơm gia đình của người xứ Huế, chắc chắn không thể thiếu một bát canh chua. Các bà nội trợ Huế đảm đang bao giờ cũng biết chọn thực phẩm và nấu món ăn phù hợp theo mùa. Bát canh chua trong mùa hè nóng nực chính là dấu hiệu ý thức thuận với thiên nhiên, trời đất rõ ràng nhất.

Nếu người miền bắc nấu canh chua với mẻ, sấu, người miền nam dùng các vị lá chua làm canh thì người nội trợ xứ Huế lại có món măng muối chua làm phụ gia tuyệt vời cho một bát canh ngon miệng. Ngay trong những bếp lẩu cá bông lau, cá lóc hôi hổi nóng, người xứ Huế cũng chọn măng muối chua làm phụ gia cơ bản để tạo nên nét văn hóa ẩm thực riêng. Những lát măng trắng ngần muối chua sẽ phá tan vị tanh của cá, tạo ra hương vị thanh tao của bát canh. ở Huế, cho dù có rất nhiều món ăn về cá nổi tiếng độc đáo mà những vùng khác hiếm có như cá ác mó nấu thơm, cá dừa bọc lá cải nướng... nhưng tôi vẫn mê nhất món canh măng chua nấu cùng loại cá kình rào sẵn có ở vùng đầm nước lợ cầu Hai. Chỉ cần húp một bát nước canh béo ngậy, bao mệt mỏi, nhọc nhằn của mùa hè sẽ biến tan đi.

Người dân Phong Ðiền, Thừa Thiên - Huế thường rất tự hào về một món đặc sản của quê hương: món tương măng. Người ta chọn loại măng vòi mọc thành rừng ở vùng núi Phong Sơn, xử lý theo một quy trình giống hệt món măng luộc. Trộn chung măng vòi đã cắt nhỏ cùng với ớt quả chín đỏ, thêm muối gia vị vừa đủ cho vào hũ nhỏ chờ cho ngấm rồi mang ra ăn. Nhiều bà nội trợ thích cầu kỳ bày biện và kỹ lưỡng còn cho những hũ măng ấy bọc vào rơm đem chôn sâu trong đất ba tháng, rồi mới lấy ra ăn. Mùi thơm dậy của men chua, mầu đỏ quyến rũ của ớt cùng những điểm chấm măng vòi trắng ngần khiến bạn vừa thấy đã thèm được ăn. Tương măng vòi có thể ăn kèm với xôi, cơm, cho vào nồi canh chua hoặc lót dưới những lớp cá cơm kho khô, trộn với con nuốt làm bún... đều làm nên những món ăn lạ.

Cùng với những hũ tương măng nhỏ, người dân xứ Huế còn có món tôm chua ngon nổi tiếng. Món tôm chua này càng không thể thiếu những cọng măng vòi xắt nhỏ li ti, tạo nên nét quyến rũ kỳ lạ của những con tôm đất no rượu cong mình đỏ au.

Ngoài một vài món ăn độc đáo kể trên, người dân xứ Huế cũng như bao gia đình Việt Nam, thừa hưởng tập tục ăn rau dịa của tổ tiên Việt-Mường (theo Giáo sư Từ Chi) còn biết chế biến vô vàn món ăn khác nhau từ măng tre dân dã. Măng tre đã không chỉ có trong những huyền thoại mà vô cùng gần gũi với những bữa cơm giản dị đậm đà truyền thống, và gần gũi hơn bởi bàn tay nội trợ đảm đang của những người phụ nữ Huế..

(Sưu tầm)

 
Xu xoa Bình Định PDF In E-mail
01/07/2004

 Đây là món ăn thật rẻ tiền, vừa mát lại vừa bổ, được giới lao động và trẻ em ưa thích. Nó chế biến từ rau câu (một loại rong biển), có màu trắng đục hay nâu, được ngư dân vớt lên từ biển cả đem phơi khô, tiêu thụ dần.

Trước khi nấu chín, phải đem rau câu ngâm nước lã độ 24 giờ liền cho nở ra và nhả hết các chất bẩn. Lúc nấu, người ta còn bỏ thêm vào một ít lá dứa (có vị chua chát) có tác dụng làm cho xu xoa dễ đông cứng.

Rau câu nấu chín vớt ra, cho vào chiếc bao vải ép lấy nước. Độ vài giờ sau, chất nước ấy đông đặc lại có màu trắng đục hay màu xanh thẫm, đó là xu xoa, khi cắt ra từng khối nhỏ, trong suốt như gương. Xu xoa 'rộng' vào thau nước hay cho vào chiếc vại sành để gánh đi bán. Chỉ khi nào dùng, người bán mới cắt ra từng khối nhỏ hình chữ nhật hay hình vuông, cho vào cái chén đất. Người bán dùng con dao bén xắt nhỏ, tiếng kêu lách cách đều đều do sự va chạm giữa thành chén và lưỡi dao nghe thật vui tai. Sau đó, người bán kéo lấy cây que tre, đầu có gắn chiếc gáo bé tí tẹo làm bằng vỏ trái cau khô từ trong hũ mật thắng vàng óng ánh quánh đặc đưa lên cao rồi chan đều trên mặt chén xu xoa. Mùi mật thơm thơm lẫn mùi vị cay cay của gừng khiến khách không khỏi nao nao, thòm thèm...

Mùa hè là mùa của rau câu và xu xoa. Đang cơn nóng bức và khát nước, gặp cô hàng xinh xắn, trẻ đẹp mời mọc, thế nào các bạn cũng ngồi xuống, 'trụ' lại ăn mãi, ăn hoài...

(Sưu tầm)

 
Đi "cà phê leo trèo" ở Đắc Lắc PDF In E-mail
29/06/2004
 Đến Tây Nguyên, đến với Daklak, Pleiku và Kontum, nhiều người gặp nhau ở một điểm: đi "cà phê leo trèo"

Đến cà phê Thanh Hà, ở thác 7 nhánh Bản Đôn, thành phố Buôn Ma Thuột, tên quán nghe bình thường như ở phố chợ nhưng du khách phải trèo lên lưng voi lội qua một con suối cạn, rồi lần theo cầu dây văng bắc qua rừng khộp, để lên một vuông sàn nứa lộ thiên, được đan bằng rễ cây khộp già, chịu được chừng 30 khách. Nơi đây, du khách có thể "chơi" rượu cần hay nhâm nhi ly "cà phê Ban Mê" từ tay cô tiếp viên người dân tộc M'nông tên Prưi mới vào nghề. Tay cô tiếp viên cầm cái bình thủy nước sôi còn khó hơn là cầm cái ống nứa cơm lam tước ra cho khách dùng.

Cũng thế, đi cà phê Đam San ở thác Gia Long, khách lại cũng trèo núi đá băng cầu treo. Hay cà phê hồ LaK, trên đinh núi có dinh cơ săn bắn của cựu hoàng Bảo Đại, dưới bóng cây kơ-nia là ngát hương hoa sữa. Cà phê ở đây xay bằng tay, nguyên chất, uống vào tới đâu, cảm thấy tỉnh người tới đó. Thần tiên là ngồi nhâm nhi cà phê ngon để ngắm nhìn "bóng con thuyền độc mộc; trên giòng nước lũ, hoa đong đưa..." như Quang Dũng từng tả trong bài thơ Tây Tiến, đó là những gì cà phê nơi phố thị khó thể nào tìm thấy.

Tới Pleiku, Gia Lai thì ngay ở trung tâm phố thị, có quá nhiều quán cà phê vườn tái tạo cảnh thiên nhiên hoang dã. Là phố núi cao, nên đường phố có nhiều đồi dốc, lên đồi cũng có quán cà phê vườn, xuống dốc cũng gặp cà phê vườn. Chi riêng thương hiệu Uyên cũng có tới 10 quán, quán nào cũng có cây cảnh đẹp và đông khách. Hàng cau, hốc đá, trèo lên leo xuống nơi để ngồi uống cà phê có thể khác nhau, nhưng chất lượng cà phê ngon giống nhau và giá ở đâu cũng chi 2.500 đồng/ ly kèm theo ly trà đá miễn phí.

Ra khỏi nội thành, trên quốc lộ 14B đi Kontum và Dakto, lại có những quán cà phê được đầu tư lớn. Ngồi uống cà phê giữa chiều nắng hạn ở quán Hạ Trắng, bỗng nhiên, ở phía sau quán, nghe mưa xuống rì rào trên mái lá, nước chảy xuống hồ sen, có cá lội tưng tăng, hóa ra tất cả là nhân tạo. Theo giới thiệu của chị Thúy Lan, phụ trách kế hoạch tour của Công ty Du lịch Gia Lai, chúng tôi đi theo một con đường nhựa do tư nhân mới làm để vào một quán cà phê, có thể nói là lớn nhất thế giới, vì nó chiếm cả một vùng đồi núi và thung lũng rộng khoảng 10 hécta. Đó là quán Thiên Thanh, mà trong các tập gấp hướng dẫn du lịch có ghi địa chỉ là hẻm 22 Lê Lợi nối dài. Đi vào quán, nếu không có tiếp viên hướng dẫn thì khách có thể lạc. Ngồi lại dưới một nhà dù bằng lá, chung quanh có dây leo xanh lấm tấm hoa dại, uống ly cà phê thơm ngát, cảm thầy cà phê đã ngon còn ngon hơn.

Đến thị xã Kontum, khách có thể bình thản ngồi ở cà phê Dakbla, ngắm dòng sông Dakbla chảy ngược từ Đông sang Tây, trước khi đi thăm chiếc cầu dây văng Konklop, giống như cầu Mỹ Thuận thu nhỏ, dài 292 mét, rộng 4 mét được làm xong vào năm 1994. Chúng tôi lại được trèo lên quán cà phê Eva ở số 1 Phan Chu Trinh, của đôi vợ chồng nghệ sĩ Ngọc Ẩn. Chủ quán dùng thơ ca "trộn" vào gỗ đá. Trên những vách đá cheo leo là những câu thơ trích, nhiều nhất là của nhà thơ Thu Bồn. Những câu thơ thay cho lời tình tự dễ thương với những cặp tình nhân tìm nơi vắng vẻ: Ngày xưa, mẹ lấy cha. Làm sao biết có đôi ta giữa đời.

Một cô tiếp viên, tay đang bưng bê lỉnh kỉnh vẫn lên xuống thoăn thoắt, cho biết: "Tụi cháu xuất thân toàn là dân trèo đèo lội suối, đi bục đá này là êm chân lắm rồi, không sợ té đâu". Nghe đâu có 2.000 thanh niên nam nữ người dân tộc trước đây sống du canh du cư nay chuyển qua làm dịch vụ nhà hàng hay tiếp viên du lịch, đi bán "cà phê leo trèo".
 
(Sưu tầm)
 
Ẩm thực xứ Huế PDF In E-mail
29/06/2004

Tại Festival thơ Huế vừa qua, chúng tôi được dự một cuộc chiêu đãi “cơm muối” tại nhà vườn ý Thảo của chủ nhân Nguyễn Xuân Hoa. Nhà vườn của ông nằm trong hệ thống tour du lịch của Huế.

Ông Hoa chính là giám đốc sở Văn Hoá Thông Tin Thừa Thiên Huế, phó ban thường trực tổ chức Festival Huế và vợ ông là bà Cúc, thư ký toà soạn Tạp chí Sông Hương.

Cả trăm thực khách đã ồ lên khi trông thấy thực đơn mà người phục vụ đưa ra và ai cũng muốn giữ một tờ làm kỷ niệm và phục vụ... nghề nghiệp của mình (vì đều là nhà thơ, nhà báo). Bà Cúc lại phải in thêm phát cho mọi người. Thực đơn như sau:

1/ Muối tiêu.

2/ Muối trắng.

3/ Muối mè.

4/ Muối ớt tươi.

5/ Hành muối.

6/ Kiệu muối.

7/ Muối đậu.

8/ Muối sả.

9/ Muối tôm.

10/ Dưa muối.

11/ Cá rô um muối.

12/ Muối ớt bột.

Mười hai món muối khi ăn được diễn dịch như thế này: Tôm hấp dừa chấm muối tiêu. Cháo hoa ăn muối trắng. Sắn luộc chấm muối mè. Thịt nướng chấm muối ớt tươi ăn kèm hành và kiệu muối. Cơm nắm mo cau chấm muối đậu. Cơm gạo tám ăn với ruốc tôm...

Chao ơi là Huế. Thanh cảnh mà phức tạp, tự tin mà giữ gìn, kiệm mà sang, kỹ càng, chỉn chu, đằm sâu đến... nghi ngại. Thì Huế là thế. Quê tôi một làng cổ ở huyện Phong Điền, mỗi khi nhà có đám, làm cỗ đều phải trên chục món, các món đều được đơm vào những cái đĩa bé xiu, người phàm tay gắp 2 đũa là sạch đĩa. Hơn chục, thậm chí hai chục món, các món đều đơm 2 đĩa nên mâm cỗ xếp hình chóp, khi ăn người ta ăn từ trên xuống dưới, xong đĩa nào bỏ xuống, lộ ra món khác. Cách xếp cũng vô cùng cầu kỳ. Rau cải xanh, trái vả trắng đục, hành củ trắng, ớt đỏ, thịt ba chỉ luộc, tôm chua... xếp lẫn vào nhau trong một ý đồ tạo sắc rất hấp dẫn.

Huế tinh tế đến từng chi tiết trong món ăn, đĩa thức ăn. Tất nhiên, bây giờ đời sống công nghiệp, người ta ít tỉ mẩn ngồi tỉa từng cọng rau, giã từng con tôm làm ruốc. Mua ngoài chợ nhanh hơn. Ngay món cơm hến, đúng ra phải mua hến ở chính cồn Hến rồi về luộc, đãi, lọc... thì bây giờ người ta luộc sẵn, đãi sẵn bán đầy chợ. Đảm đang thì mua thứ này về làm, còn không thì ra tiệm mà ăn. Nhanh nhiều bổ rẻ... và điều ấy đang làm buồn lòng những người hoài Huế, những người coi ẩm thực và thú vui ẩm thực là văn hóa Huế, là một phần của ñôøi sống Huế...

(NLĐ)

 
Bánh tổ Hội An PDF In E-mail
28/06/2004

Hội An từ lâu nổi tiếng với món cao lầu, mì hoành thánh, cơm gà, bánh tráng, thịt lợn luộc với rau sống phổ... Đó là những món ngon lạ miệng thường ngày.

Còn ngày Tết, Hội An nổi tiếng với bánh tổ, được nhắc nhở, truyền tụng qua câu ca:


Nem chả Hòa Vang
Bánh tổ Hội An
Khoai lang Trà Kiệu
Thơm rượu Tam Kỳ


Bánh tổ chỉ thấy xuất hiện vào dịp Tết đến, xuân về, được trưng bày trên bàn thờ gia tiên một cách trang trọng. Có lẽ, loại bánh này làm ra cốt là để cúng ông bà nên mới gọi là bánh tổ chăng? Tuy nhiên, người Hội An ăn Tết không bao giờ để thiếu vắng bánh tổ, vì trước để dâng cúng tổ tiên sau đó là để ăn trong mấy ngày đầu năm.

Bánh tổ xuất hiện trên đất Hội An khá lâu, có lẽ do cùng thời với sự hình thành các khu phố cổ, được người Hoa du nhập từ thế kỷ 16 - 17 và tồn tại cho đến ngày nay. Bánh tổ cùng với món cao lầu là hai món ăn truyền thống, đặc trưng cho "văn hóa ẩm thực" phố cổ Hội An từ hàng trăm năm qua.

Cũng như bánh tét, bánh chưng, bánh tổ được nấu trước ngày Tết. Nguyên liệu gồm có nếp và đường. Nếp phải chọn loại nếp thật tốt, phơi thật khô rồi đem xay thành bột. Bột nếp và đường đem "sên" cho thật kỹ, lọc bỏ hết tạp chất rồi thêm vào chút nước gừng tươi để làm tăng hương vị. Sau đó cho bột vào chiếc khuôn đan bằng nan tre trông như rọ có đường kính chừng 10 - 15 cm, bên trong có lót sẵn lớp lá chuối khô. Bánh được gói lại và dùng tăm tre ghim kín các mép lá. Mỗi bánh cân nặng chừng 500 gam giá khoảng 10.000 đồng.

Bánh tổ đem hấp chín, vớt ra để nguội rồi cất vào nơi thoáng mát. Tùy theo bột và đường sên mà bánh có nhiều mầu khác nhau, từ mầu trắng đục cho đến mầu ngà hay nâu nhạt và giá cả có chênh lệch ít nhiều.

Ở Quảng Nam có nhiều nơi chuyên làm bánh tổ để cung ứng cho thị trường ngày Tết nhưng bánh ngon, có giá trị xưa nay vẫn là bánh làm ở Hội An. Chính vì vậy mà các hàng bánh ở phố Hội vào những ngày áp Tết luôn luôn thu hút người đi mua sắm.

Bánh tổ Hội An vừa dai vừa dẻo, hương vị đậm đà lạ miệng. Bánh có thể để được lâu mà không sợ bị ẩm mốc, ngả mùi.

Ngày Tết, những miếng bánh tổ thơm ngon được bày ra đĩa để ăn tráng miệng, nhâm nhi với chén trà nóng trên tay thì tuyệt.

(Sưu tầm)

 
<< Đầu tiên < Trước 21 22 23 24 25 Kế > Cuối cùng >>

Kết quả 331 - 345 của 367

Viec lam, Tìm việc làm, Tuyển dụng

 
© Copyright 2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved. Contact us
® Ghi rõ nguồn "MienTrung.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.