Trang chính
Xã hội
Văn hóa
Du lịch
Lịch sử
Kinh tế
Khoa học
Y tế - Giáo dục
Tin học
Môi trường
Dịch vụ
Ẩm thực
Thể thao
Tản văn
Tin mới nhất

Trang chính arrow Lịch sử
Advertisement
 
Lịch sử
Phát hiện khu mộ cổ thời chúa Nguyễn ở Quảng Trị PDF In E-mail
14/09/2004
Một ngôi mộ khá hoàn chỉnh.

Trong khi tiến hành khảo sát điền dã tại bờ bắc sông Ô Lâu, các cán bộ nghiên cứu thuộc Phân viện Văn hóa Thông tin miền Trung đã phát hiện ra một nhóm lăng mộ thời các Chúa Nguyễn ở làng Văn Quỹ, xã Hải Tân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Tuy là một nhóm lăng mộ khiêm tốn của làng xã nhưng đây là các chứng tích vật thể rất hiếm hoi, hàm chứa nhiều nét văn hóa độc đáo của thời kỳ hậu Lê tiền Nguyễn còn tồn tại đến ngày nay.

Xem tiếp...
 
Cổ vật Đông Sơn: Rực rỡ nền văn minh Việt cổ PDF In E-mail
25/08/2004
Kỷ niệm 80 năm phát hiện, nghiên cứu văn hóa Đông Sơn và 70 năm hình thành khái niệm văn hóa Đông Sơn, từ ngày 25/8, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phối hợp với 5 bảo tàng địa phương và các nhà sưu tập tư nhân tổ chức trưng bày chuyên đề: Cổ vật Đông Sơn - Rực rỡ một nền văn minh Việt cổ.

Sưu tập chuông đồng (Lào Cai).

 

 
Xem tiếp...
 
Có một chữ Trần trong tháp Mỹ Sơn PDF In E-mail
12/08/2004

Tin đoàn chuyên gia khảo cổ Ý khi khảo sát tháp G1, Mỹ Sơn, phát hiện ra một chữ Trần bằng Hán tự đã gây xôn xao dư luận. Suốt 106 năm qua, kể từ ngày các nhà nghiên cứu Pháp khám phá ra Mỹ Sơn, đã có hàng trăm công trình nghiên cứu về khu di tích này, cho rằng đây là đây là một khối văn hóa Chămpa thuần nhất, không có bất cứ một dấu vết văn hóa ngoại lai nào. Mặc cho bao cuộc chiến tranh, rồi hòa hoãn - thân thiện trong suốt chiều dài lịch sử gần ngàn năm giữa hai dân tộc Chăm - Việt, Mỹ Sơn vẫn như là "của riêng" của người Chăm.

Xem tiếp...
 
Chuyện ở quê tướng Nguyễn Chánh PDF In E-mail
12/08/2004
Ghi chép của Trần Đăng

Trong hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc đến tướng Nguyễn Chánh như sau: "Anh qua đời, quân đội mất đi một vị tướng tài năng, tôi mất đi một người bạn chí thiết". Đó không phải là lời "ai điếu" đơn thuần mà xuất phát từ một tấm lòng quí trọng thật sự của vị Tổng Tư lệnh đối với thuộc cấp của mình.

Nhà lưu niệm vẫn còn dở dang sau 4 năm xây dựng

Năm 1957, một cơn đau tim đột ngột đã khép lại cuộc đời của vị tướng thao lược này ở tuổi 43, nhưng những gì mà ông để lại cho quân đội cũng như giới văn nghệ sĩ trên đất Liên khu V thời kháng Pháp thì vẫn trinh nguyên như ngày nào. Ngày 5-8 tới đây, tướng Nguyễn Chánh tròn 90 tuổi.

Xem tiếp...
 
Phan Thiết xưa... PDF In E-mail
16/07/2004

Cuối thế kỷ 17, đạo quân của Chúa Nguyễn do chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh chỉ huy được lệnh tiến sâu vào vùng đất cực Nam. Năm 1693, vượt qua con sông Mai Nương của xứ Pan Ran (Phan Rang) băng theo vùng gió cát ven biển Đông, các toán quân binh lần lượt tiến vào cửa biển Paric (Phan Rí) rồi đến cửa Ba-Giai (Phố Hài). Cuộc hành quân đường bộ dài khoảng 150 kilômét ấy tạm dừng lại ở một dải đất trũng khá rộng nằm dọc theo biển; đây đó nhấp nhô những đòi đất sỏi chen với các đụn cát vàng nối dài.

 

Một dòng sông từ hướng Tây xanh mờ non núi, chảy về uốn khúc giữa lòng thung lũng rộng mở nối xuôi thẳng ra vùng sóng nước mênh mông. Hai bên bờ sông mọc đầy những cụm bần, mấm cạnh các khe lạch lớn nhỏ, rải rác đây đó là đầm ao chen giữa lau sậy um tùm. Được biết nơi đây có tên gọi lâu đời của người Chăm là Ha-mu LITHIT (xóm có tên là LITHIT). Mặc dù sớm có mặt vài nhóm cư dân bản địa cất chòi, dựng trại làm rẫy và đánh cá, toàn vùng vẫn chưa được khai phá mấy, cảnh vật còn rất hoang sơ. 

Ngoài mấy ngôi tháp cổ kính màu đỏ gạch nung trơ vơ trên một ngọn đồi về hướng Đông Bắc, các xóm nhà còn lại chẳng có gì đáng kể, đất đai đậm nét nghèo nàn. Trong khi đó, sự trù phú của biển bày ra trước mắt với cảnh sớm sớm mặt nước chao động mạnh bởi chớn sóng của các đàn cá mòi dày đặc nổi gần bờ, hay ngoài xa kia, từng bầy cá voi với thân hình bóng loáng đang chập chờn phun cao vòi nước...
Lúc đầu, chưa ai có ý định đặt ngay cho vùng đất này một tên gọi mới bằng tiếng Việt. Vậy mà không biết bao giờ, cái âm cuối của địa danh Chăm LITHIT lại được gắn liền với âm "PHAN" tách từ phiên âm của tên hai vùng Phan Rang, Phan Rí mà thành ra Phan Thiết. Dù chẳng mang ý nghĩa gì đặc biệt, cái tên mới Phan Thiết nghe cũng khá thuận miệng với mọi người

Xem tiếp...
 
Người khơi dậy hồn đất Quảng Bình PDF In E-mail
05/07/2004

 

Cụ Nguyễn Tú (thứ hai từ trái sang) cùng các nghệ nhân hò khoan, chèo cạn trong lễ hội xã Bảo Ninh

Bắt đầu hành trình đến với những trang viết về vùng đất quê nhà khi đã ngoài 60 tuổi, 21 năm cầm bút với hàng chục đầu sách đã và chưa in, người đầu tiên viết “xã chí” ở miền Bắc là một cụ già ốm yếu, nhỏ con, lại chỉ còn một lá phổi để thở...

Cụ Nguyễn Tú sinh năm 1920 tại xã Bảo Ninh, thị xã Đồng Hới, Quảng Bình trong một gia đình nho học. Ảnh hưởng tư tưởng chống Pháp của cha, cụ Tú sớm tham gia cách mạng từ tuổi 20.

Tháng 6-1945 chi bộ Đảng Cộng sản VN đầu tiên tại thị xã Đồng Hới được thành lập, cụ Nguyễn Tú là một trong sáu đảng viên của chi bộ đó.

Cách mạng Tháng Tám thành công, cụ trở thành chính trị viên tỉnh đội Quảng Bình. Năm 1964 cụ bị bệnh lao, phải cắt bỏ một lá phổi và được chuyển qua bộ phận nghiên cứu, viết lịch sử Đảng tỉnh Quảng Bình.

Trong những tháng ngày sưu tập tài liệu ở Viện Bảo tàng lịch sử, Thư viện quốc gia, Cục Lưu trữ trung ương Đảng tại Hà Nội, tìm hiểu những địa danh, nhân vật trên đất Quảng Bình đã khơi dậy trong lòng cụ những mơ ước được làm một điều gì đó thật có ích cho quê hương.

Năm 1981 sau khi hoàn tất việc sưu tập và chỉnh lý tài liệu lịch sử Đảng bộ Quảng Bình, cụ Nguyễn Tú có điều kiện đi sâu hơn các mặt của vùng đất đã có từ gần 2.000 năm trước. Trong tập tài liệu dày cộm về Quảng Bình từ thời Lâm Ấp cho đến thời hiện đại, cụ chọn một điểm để viết cho hết ngọn nguồn: Bảo Ninh.

Tuy là quê hương của mình nhưng bắt tay vào viết “xã chí” lại là chuyện chẳng đơn giản. Thế là phải mất hàng năm hỏi chuyện các bậc lão làng về những truyền thuyết, những chuyện cũ tích xưa của Bảo Ninh; gặp các nghệ nhân phường chèo cạn, hội đua thuyền, hò khoan để biết các cách chơi; gần gũi các bạn chài vào khơi ra lộng; các chị bán mắm, người làm bún, các bà nấu ăn giỏi để biết hương vị ngon của món ăn quê nhà làm bằng con tôm con cá vớt lên từ biển khơi…

Đối chiếu, tái hiện, tìm dấu vết cũ, có khi đến chục lần, để viết cho đúng nơi xuất xứ. Một sắc phong của làng có đôi nét chữ mờ phai do thời gian chiến tranh tàn phá buộc cụ Tú lặn lội vào cố đô Huế, đến thư viện cổ truy tìm hay hỏi han những gia đình quan lại triều Nguyễn có liên quan.

Nghe nói một sử liệu về quê nhà giờ chỉ còn có hai bản chữ Hán, chữ Pháp cụ cũng cất công tìm đến, để chính mắt mình được đọc hai văn bản ấy mới đặt bút. Sáu năm ròng rã thực hiện, dựa trên đề cương của Viện Sử học do giáo sư Nguyễn Đổng Chi khởi xướng từ năm 1964, cuốn Địa chí Bảo Ninh của tác giả Nguyễn Tú mới ra đời. Địa chí Bảo Ninh được đón nhận trân trọng, được nhận giải A Giải thưởng cố đô Huế lần thứ nhất. Và tác giả trở thành người đầu tiên viết xã chí ở miền Bắc.

Từ đó đến nay, 16 năm qua cụ Nguyễn Tú đã cho xuất bản chín tập sách địa chí, danh nhân, lịch sử, non nước Quảng Bình; năm tập danh nhân Bình Trị Thiên, và Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản tỉnh Quảng Bình soạn chung với các tác giả khác. Năm 1998 cụ được Hội Văn học dân gian VN tặng giải ba cho tập Quảng Bình non nước quê hương. Địa chí huyện Hương Thủy (in chung) cũng được tặng giải nhì năm đó. Địa chí Đồng Hới được tặng giải A Hội Văn nghệ dân gian VN năm 1999... cùng nhiều giải thưởng khác.

21 năm cầm bút, bắt đầu sự nghiệp chữ nghĩa khi đã ngoài 60 tuổi, với ngần ấy tác phẩm là cả một tình yêu sâu nặng quê hương, một nghị lực phi thường. Ở đất Quảng Bình ai cũng biết và kính trọng ông cụ nhỏ con ốm yếu, chưa đến tuổi 50 đã thở bằng một lá phổi; bao nhiêu năm sống với đồng lương hưu không quá 400.000 đồng lại phải lo thuốc men, bữa ăn hằng ngày cho người vợ mù.

Sống trong cảnh gieo neo như vậy, người ta không hiểu nổi ông cụ làm sao còn bớt được miếng ăn quá ít ỏi của mình để mua sách. Sách nghiên cứu, lịch sử, từ điển là những vật có giá trị trong ngôi nhà hai gian không quá 12m2 lợp lá bên kia sông Nhật Lệ. Khi người vợ mất, cụ giao nhà đất cho xã để xã cấp cho người thiếu chỗ ở.

Rồi đi đây đó để nhận diện thực địa, lấy tư liệu từ Hà Nội đến tận TP.HCM. Cụ không ở một nơi cố định, khi thì tá túc trong một phòng nhỏ của câu lạc bộ hưu trí hay một cơ quan nào đó; khi thì ngủ nhờ nhà bạn bè dăm ba hôm để viết rồi lại ra đi.

Để những mẩu chuyện trên trang sách được chính xác, cụ theo thuyền lên thượng nguồn sông Long Đại để tận mắt thấy, tận tai nghe những người chèo thuyền vượt qua 16 cái thác hiểm trở, hung dữ bằng kinh nghiệm của người xưa truyền lại qua một bài vè cổ.

Cụ lên núi Đại Phúc khảo sát nơi sinh ra Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh - người mở cõi phương Nam. Lên núi Chóp Chài Trung Thuần cụ vẽ bản đồ thế trận nghĩa quân Lê Trực phò vua Hàm Nghi.

75 tuổi, chân đã run cụ vẫn lên đèo Ngang vạch lau lách, cây rừng xác định dấu vết thành Lâm Âp gần 2.000 năm trước. Thực tế điền dã của cụ hầu như chẳng dân văn nghệ Quảng Bình nào sánh kịp.

Theo cụ, sai lệch địa danh, thiếu chuẩn xác quá khứ làm tổn thương danh dự, xúc phạm tâm linh, gây bất hòa giữa cộng đồng cư dân mà hậu quả không lường hết. Lương tâm và trách nhiệm không cho phép những sai lệch. Dẫu quĩ thời gian còn quá ngắn cuối đời người làm sách, cụ Nguyễn Tú vẫn trung thành tuyệt đối với nguyên tắc mình tự đặt ra.

Xuyên suốt các tác phẩm của cụ Nguyễn Tú là một lý giải khách quan: không có tình người thì không có làng xóm, không có phong tục, truyền thống, và như vậy con người không thể tồn tại, vươn lên trên mảnh đất nghèo khó khắc nghiệt nắng mưa.

Tuổi 80, không còn đi đâu xa bởi sức đã yếu lại còn mang bên hông chiếc túi bài tiết, cụ Nguyễn Tú hiện sống trong một ngôi nhà cấp 4 với sự hỗ trợ của Thị ủy Đồng Hới. Tuy thế, hằng ngày ba buổi cụ vẫn ngồi vào bàn viết không dưới tám tiếng. Hình như ông già gầy gò có đôi mắt sáng ấy không biết mệt.

Cụ phải chạy đua với thời gian, chỉnh lý lần cuối các tài liệu mà cụ đã dày công sưu tầm trong 15 năm qua để xuất bản cuốn Địa chí Quảng Bình trên 500 trang khổ lớn nói về lịch sử, địa lý, văn hóa, con người, các làng nghề truyền thống... trên mảnh đất giao thoa giữa hai nền văn hóa Việt - Champa từ thế kỷ thứ hai cho đến bây giờ.

(Tuổi trẻ)

 
Tháp Chăm Bình Định: Từ kiến trúc đến lịch sử PDF In E-mail
03/07/2004

Tháp là một dạng kiến trúc tôn giáo mang bản sắc rất riêng của dân tộc Champa. Theo các sử liệu thì trong quá trình trị vì đất nước, các triều đại Champa đã cho xây dựng khá nhiều đền đài; trải qua nhiều thời gian đấu tranh tồn tại, cộng với sự tàn phá của thiên nhiên, con người, cho đến nay trên vùng cư trú xưa của họ chỉ còn lại một số dạng kiến trúc đền đài là các tháp.

         Tháp Dương Long

So với một số địa phương khác trong dải đất miền Trung, Bình Định là một trong những nơi còn lại khá nhiều dấu tích của nền văn hóa Chămpa. Với 8 cụm di tích tháp trên tổng số 14 tháp quả là một con số khá lý tưởng cho những nhà nghiên cứu khi tìm hiểu vùng Vijaya xưa và Bình Định sau này.

Về tháp Chăm, trong Ấn Độ giáo người ta gọi là Sikhara, một dạng kiến trúc tiêu biểu cho đạo Bà La Môn giáo.

Từ Sikhara có nghĩa là đỉnh nhọn, đỉnh núi nhọn, biểu thị cho núi Mêru trong Bà La Môn giáo. Núi Mê Ru là núi thần thoại có nhiều đỉnh cao thấp khác nhau. Vị thần tối cao ngự trên đỉnh cao nhất. Các vị thần khác tùy theo bậc cao thấp khác nhau mà ngự trị ở những đỉnh núi thấp hơn trên cùng một dãy Mêru. Núi Mê ru được biểu hiện thành kiến trúc Sikhara, người Chăm gọi là Kalan, có nghĩa là đền thờ. Đúng ra Kalan Chăm chứ không phải là tháp Chăm. Nhưng do người ta quen gọi tháp Chăm, đồng thời từ tháp đã trở thành một thuật ngữ kiến trúc chỉ loại hình cao tầng đế nhỏ, cho nên người ta vẫn dùng từ tháp để chỉ cho loại hình kiến trúc này.

Sau khi dời đô về Bình Định vào đầu thế kỷ 11, phong cách kiến trúc tôn giáo của người Chăm có sự biến đổi, giới nghiên cứu gọi là phong cách Bình Định. Trong kiến trúc thể hiện tính hoành tráng, nhưng trong trang trí lại khá đơn giản, không cầu kỳ như giai đoạn trước. Tất cả thành phần kiến trúc đi vào mảng khối là chính, vòm cửa thu vào và vút cao thành hình mũi giáo, các tháp nhỏ trên các tầng như cuộn lại thành khối đậm khỏe, trên mặt tường được tạo các trụ ốp với những đường gờ nổi chạy dọc thân tường tháp, các góc đều được tạo những phiến đá điểm góc cách điệu. Tất cả đều có tác dụng gây ấn tượng hoành tráng từ xa nhìn vào.

Khi định niên đại cho các tháp Chăm thuộc phong cách Bình Định, P. Stec đã đưa ra một giả định như sau: Phong cách bắt đầu từ tháp Bánh Ít hay còn gọi là tháp Bạc (nửa đầu thế kỷ 12), tháp Dương Long (đầu thế kỷ 13), tháp Hưng Thạnh (nửa đầu thế kỷ 12), nở rộ ở các tháp Thủ Thiện, Cánh Tiên (hay tháp Đồng), Phú Lốc (hay tháp Vàng) thuộc thế kỷ 13 và bắt đầu suy thoái ở tháp Po Klung Garai - Ninh Thuận (cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14). Sau này Boisselier, trên cơ sở nghiên cứu các tác phẩm điêu khắc, đã cho rằng phong cách Bình Định hay tháp Mẫm bắt đầu từ cuối thế kỷ 11 và kéo dài tới thế kỷ 13 với thứ tự sau: sau tháp Bánh Ít là tháp Thủ Thiện cùng Cánh Tiên, Phú Lốc, tiếp đó là Dương Long, Nhạn Tháp (Phú Yên) và kết thúc là Po Klung Garai. Gần đây sau những phát hiện mới về điêu khắc trang trí kiến trúc, giới nghiên cứu cho rằng tháp Bánh Ít có niên đại đầu thế kỷ 11, còn tháp Phú Lốc, Thủ Thiện và Dương Long có niên đại thế kỷ 12.

Thực tế cho thấy rằng các tháp Chăm đều được xây dựng theo một tín ngưỡng thống nhất thờ thần Siva, một trong tam vị nhất thể của đạo Bà La Môn. Siva tượng trưng cho sự hủy diệt, hai vị thần kia là Visnu tượng trưng cho sự bảo tồn và Brahma tượng trưng cho sự sinh thành, cả ba nằm trong vòng luân chuyển không ngừng. Người Chăm thờ thần Siva là chính, người Khmer thờ thần Visnu là chính. Tín ngưỡng này của người Chăm được kết hợp với tục thờ tổ tiên tạo thành bản sắc riêng trong đời sống tinh thần của họ.

Kỹ thuật kiến trúc và điêu khắc Chăm cho đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn đối với nhà nghiên cứu. Làm thế nào để ghép tất cả những viên gạch nâu sẫm thành những tháp, tượng, những đài… chính xác và tinh vi đến như vậy? Cái gì đã tạo thành sự kết dính của những viên gạch ấy, khiến nó có thể đứng vững hơn một nghìn năm nay và sẽ còn đứng vững lâu hơn nữa, nếu không bị chiến tranh và sự xâm thực vô thức của con người. Đã có những cuộc hội thảo chuyên sâu về vấn đề này và đã có những câu giải đáp đúng hay chưa đúng cho giả thuyết đưa ra. Nhưng cái kinh ngạc được gieo vào lòng chúng ta thì vẫn còn mãi.

Tồn tại trong 5 thế kỷ, trên vùng đất Bình Định xưa người Chăm đã xây biết bao những kiến trúc tôn giáo hoành tráng. Những gì còn sót lại hôm nay chỉ là một phần nhỏ trong những di sản mà người Chăm làm ra.

Tháp Chăm, những viên ngọc quý lung linh tỏa sáng trên vùng đất Bình Định đang trở thành di sản trong kiến trúc cổ Việt Nam, văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á.

TS. Đinh Bá Hòa

(Báo Bình Định)

 
Khánh Hòa: 15 năm tái lập tỉnh PDF In E-mail
30/06/2004

Đoàn xe hoa chào mừng.

Ngày 1-7-1989, tỉnh Khánh Hòa đã được tái lập từ tỉnh Phú Khánh (cũ). Trong quá trình 15 năm tái lập đó, tỉnh Khánh Hòa đã có những bước tiến vượt bậc trong mọi lãnh vực. Chương trình kỷ niệm 15 năm Khánh Hòa xây dựng và phát triển được tổ chức trong một tuần lễ, từ ngày 28-6 đến 4-7. Đây cũng là một dịp để người dân Khánh Hòa nhìn lại thành tích đã đạt được trong 15 năm qua.

 Đêm 28-6, tại Nhà Thiếu Nhi tỉnh Khánh Hòa đã diễn ra lễ khai mạc Khu triển lãm “Khánh Hòa 15 năm xây dựng và phát triển”. Khu triển lãm gồm 31 đơn vị, trong đó có 11 đơn vị ngoài quốc doanh tham gia, giới thiệu và trưng bày những thành tựu của mình. Trong thời gian kỷ niệm, các chương trình ca nhạc, sinh hoạt văn hóa liên tục diễn ra.

Trong các ngày chào mừng sự kiện 15 năm Khánh Hòa tái lập tỉnh, 15 chiếc xe hoa thuộc các huyện, ban ngành tượng trưng cho “mười lăm mùa lộng gió” được trang trí minh họa giới thiệu thế mạnh của mình sẽ diễu hành qua các đường phố chính. Ngay tại bãi biển Nha Trang là “Lễ hội ảnh đường phố” lần đầu tiên được tổ chức với 100 bức ảnh nghệ thuật của 40 tác giả trong tỉnh lung linh dưới ánh đèn màu và không gian cỏ cây xanh. Trong một tuần lễ, người dân thành phố biển Nha Trang sẽ được sống trong những ngày hội.

15 thiếu nữ với 15 chùm bong bóng tượng trưng cho Khánh Hòa 15 năm tái lập.

Nhìn lại 15 năm xây dựng và phát triển, có thể nhìn thấy sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Khánh Hòa: năm 1989 tổng thu nhập 126 tỉ đồng thì đến năm 2003 đã là 3.430 tỉ đồng. GDP đầu người năm 1989 là 310 USD thì đến năm 2004 là 545 USD. Khánh Hòa đã không ngừng phát triển về mọi lãnh vực. Trong 15 năm, tỉnh đã phát triển mạnh các dự án đầu tư nước ngoài như nhà máy đóng tàu Hyundai Vinashin…

Đặc biệt là thành phố Nha Trang đã trở thành điểm thu hút khách du lịch trong cả nước và quốc tế. Việc đưa sân bay Cam Ranh vào hoạt động nhằm tạo điều kiện đòn bẩy để phát triển du lịch và kinh tế trong tương lai

(SGGP) 

 
Lịch sử Khánh Hòa PDF In E-mail
29/06/2004

Tên gọi tỉnh Khánh Hòa được xác lập vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mệnh thứ 13; trải qua triều Nguyễn, thời thuộc Pháp, tỉnh lỵ đóng tại thành Diên Khánh, sau đó là dưới chính quyền ngụy Sài Gòn, tỉnh lỵ đóng tại Nha Trang. 

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 29/10/1975, hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa được hợp nhất thành một tỉnh mới là tỉnh Phú Khánh.

   Ngày 30/3/1977, thị xã Nha Trang được nâng cấp lên thành Thành phố Nha  Trang. 

   Ngày 28/12/1982, Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 4 đã quyết định sát nhập huyện đảo Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh. 

Xem tiếp...
 
Người du kích già ấy đã ra đi PDF In E-mail
29/05/2004
Nhà văn Thanh Thảo viết: "Trong đời mình, ông Trần Kiên đã giữ nhiều chức vụ, đã đảm đương nhiều trọng trách. Nhưng vì sao tôi chỉ muốn gọi ông là một người du kích, một lão du kích?"
Xem tiếp...
 
<< Đầu tiên < Trước 1 2 3 4 5 Kế > Cuối cùng >>

Kết quả 61 - 70 của 70
 
© Copyright 2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved. Contact us
® Ghi rõ nguồn "MienTrung.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.