 |
Vợ chồng thầy giáo Hà Công Văn chăm sóc vườn rau, ao cá quanh trường để nuôi những học sinh nghèo ăn học. |
Cách đây gần 30 năm, thầy giáo Hà Công Văn mới ra trường đã tình nguyện lên dạy chữ cho người Vân Kiều, Pa Cô ở Quảng Trị. Với công lao đó, thầy được nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng lao động" vào năm 2002. Mới đây, thầy lại nằm trong danh sách những Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới lần thứ hai được tôn vinh, buổi lễ diễn ra tại Hà Nội tối 30-8. |
Ngày đi làm rẫy, đêm đi dạy
Người dân sống giữa đại ngàn Trường Sơn vẫn còn nhớ hình ảnh ngày anh Hà Công Văn mới ra trường. Năm ấy, anh Văn tròn hai mươi tuổi, nước da trắng như con gái. Sau khi tốt nghiệp trường trung học Sư phạm Quảng Bình, anh tình nguyện đến dạy học ở xã Tà Long, rẻo cao của tỉnh Quảng Trị. Ngày đó, Tà Long đang là một nơi hết sức lạc hậu, chưa có người Kinh sinh sống, chỉ có người Vân Kiều, Pa Cô, bà con hầu hết đều mù chữ. Cầm quyết định trong tay, sau hơn ba ngày đi bộ, anh Hà Công Văn mới đến được xã Tà Long. Dân bản rất đỗi ngạc nhiên trước vị khách này. Anh Văn giải thích mãi, cuối cùng bà con mới hiểu đó là người của Bác Hồ, có nhiệm vụ lên dạy cho dân làng biết đọc biết viết.
Khi mới đến Tà Long, anh Văn gặp rất nhiều khó khăn. Anh kể: "Muỗi rừng, sốt rét, đói nghèo đã đẩy lùi hai đồng nghiệp của mình về đồng bằng". Lúc đó, thầy Văn là người Kinh duy nhất ở xứ sở này. Muốn hòa nhập được với bà con, anh đã cùng ăn, cùng ở với dân bản, học tiếng Vân Kiều, Pa Cô để thuyết phục bà con nghe theo mình. Ban ngày, anh bày họ cách trồng lúa nước, trồng rau, thâm canh hoa màu...; đêm về thắp đuốc, lội suối đến từng nhà vận động bà con cho con em mình đi học, nhưng may mắn lắm cũng chỉ được một vài em đến lớp. Không có nơi học, anh cùng bà con chặt tre nứa làm trường. Giữa đại ngàn Trường Sơn sau bao nhiêu năm chiến tranh, lần ấy có được một lớp 42 học sinh ca hát rộn vang núi rừng.
Mười lăm năm sau, anh lại được điều vào công tác ở một nơi xa hơn, đó là xã Húc Nghì. Đường vào xã Húc Nghì nhiều đèo dốc hiểm trở. Nhiều học sinh của thầy Văn phải đi bộ qua những ngọn núi cao mới đến được lớp học. Thương các em nhỏ, anh đã sáng tạo ra mô hình trường nội trú vùng cao bằng cách vận động bà con kiếm gỗ rừng làm trường học. Có trường, thầy vào tận các bản xa xôi tìm những em có hoàn cảnh khó khăn đưa ra nuôi ăn học. Như đêm tối gặp đèn, nhiều người đã gùi gạo, cõng con đến trường giao hẳn cho thầy. Mỗi ngày học một buổi, buổi còn lại thầy trò ra rẫy tự sản xuất lương thực. Những em lớn cùng thầy chăn nuôi, trỉa lúa; các em nhỏ trồng rau, xuống suối bắt cá... Bằng đồng lương ít ỏi của mình, thầy Văn dành dụm về đồng bằng mua sách vở, bút mực lên trang bị cho các em. Bao nhiêu tình thương, anh đã dành hết cho những đứa học trò nghèo. Chỉ vài bát gạo, quả chuối, quả đu đủ, vài con cá dưới suối được câu về anh cũng chế biến thành bữa ăn ngon cho các em.
Thầy Văn đang căn dặn học trò nội trú ở trường Húc Nghì.
| Năm năm ở Húc Nghì, thầy Văn đã tự sản xuất, nuôi dạy 47 học sinh theo học hết cấp một. Lúc ấy ở miền núi Quảng Trị chưa có trường trung học cơ sở, học sinh của thầy Văn học xong tiểu học phải ở nhà, muốn học lên nữa cũng không có lớp. Sau nhiều lần suy nghĩ, thầy quyết định mở lớp "nhô" đầu tiên cho toàn bộ khu vực (học sinh học xong lớp 5 được tiếp tục học lên lớp 6 ngay tại trường tiểu học). Một số giáo viên tự nguyện đứng ra dạy học. Lớp 6 "nhô" đầu tiên của trường chỉ có 20 học sinh. Từ lớp học đầu tiên manh nha đó, đến bây giờ đã có hàng trăm em theo học các lớp 7, 8 và 9, ăn ở nội trú quanh năm tại trường. Nhờ sự kiên trì vận động của anh, ngoài việc dạy học các cấp, anh đã giúp xóa mù chữ cho bà con hàng chục xã vùng cao Quảng Trị biết đọc, biết viết cái chữ Bác Hồ. Nhiều học sinh của thầy Văn giờ đã trở thành cán bộ cốt cán của địa phương.
Đọc thư nhà giữa rừng Trường Sơn
Đang kể chuyện, bỗng dưng thầy Văn chùng giọng xuống: "Ai chẳng có gia đình để nhớ để thương, nhưng vì đã lỡ quá yêu thương các học trò rồi nên không đành bỏ các em về với đồng bằng". Vài năm thầy mới về nhà một chuyến; chưa kịp thăm hết bà con, thầy lại ra đi vì để các em nhỏ ở một mình giữa rừng, thầy cảm thấy không yên tâm.
Cũng vì quá xa xôi cách trở, có dạo đầu năm 1993 anh Văn nhận cùng lúc hai lá thư của vợ ở quê nhà. Đọc xong thư, anh không tin nổi vào mắt mình, thư báo tin con trai anh bị ốm và đã qua đời. Anh gục đầu xuống sàn nhà, học sinh cầm tay gọi thầy, anh mới tỉnh lại. Cả xã Húc Nghì đưa anh ra đường đón xe về quê, nhưng phải mất thêm ba ngày mới có một chuyến xe đi qua. Ngày anh về đến nhà cũng là lúc gia đình đã lo xong lễ bảy ngày cho đứa con trai xấu số của anh. Thương con, ngồi nói chuyện mà nhiều lần anh tự trách mình do quá ít về nhà nên con trai cũng không quen nổi mặt cha.
Gần ba mươi năm sống giữa rừng nuôi dạy học trò, nhiều lúc người ta nghi ngờ lòng tốt của anh bởi vì trước đó chưa có ai dám hy sinh cả tuổi thanh xuân, gia đình của mình. Bỏ qua tất cả, thầy Văn chỉ quan tâm: "Còn rất nhiều học trò nghèo khổ muốn được học cái chữ của Bác Hồ, mình phải dạy học để nhiều con em dân tộc Vân Kiều, Pa Cô mang họ Bác vượt qua được đói nghèo, tăm tối". Bây giờ thầy đang là Hiệu trưởng Trường tiểu học vùng cao xã Húc Nghì, huyện Đác Rông. Ngôi trường cho các em học đã được Nhà nước xây dựng khang trang hơn.
Bây giờ là tháng chín, những ngày hè nặng nhọc giúp gia đình băng rừng tìm măng giang của học sinh miền núi đã kết thúc, một năm học mới bắt đầu. Anh hùng lao động Hà Công Văn lại lặn lội đến từng bản xa gọi các em học sinh về tựu trường. Tạm biệt anh Hà Công Văn giữa đại ngàn Trường Sơn, tôi lên xe và chỉ mất hai giờ sau đã về đến phố thị Đông Hà. Cũng đoạn đường ấy, gần ba mươi năm trước, anh Hà Công Văn phải đi bộ mất ba ngày đường mới đến nơi!
(Nhandan) |