 |
|
Việc đào kênh rạch trong rừng U Minh làm mất cân bằng sinh thái trong vùng. |
Đa phần các dự án kinh tế - xã hội của VN thường chỉ coi môi trường là yếu tố phụ, cho đến khi cảnh quan bị suy thoái nặng nề mới "chữa bệnh", sửa sai. Song, việc này đôi khi quá muộn hoặc tốn kém. Giải pháp tốt nhất là "phòng bệnh" từ đầu, tức là lồng quy hoạch môi trường vào quy hoạch kinh tế - xã hội.
Cuốn Quy hoạch môi trường và phát triển bền vững, của Phó giáo sư Nguyễn Thế Thôn, là công trình đầu tiên của Việt Nam đề cập một cách có hệ thống các vấn đề lý thuyết, cũng như ứng dụng cụ thể, trong việc quy hoạch môi trường.
Theo đó, quy hoạch môi trường là xác định chức năng môi trường cho các phạm vi lãnh thổ khác nhau, hài hòa với sự phát triển kinh tế, nhằm làm cho môi trường không bị suy thoái, ô nhiễm và ngày càng cải thiện hơn theo đời sống kinh tế - xã hội. Chẳng hạn ở quy mô lớn, quy hoạch sẽ xác định vùng nào là rừng phòng hộ, rừng lâm nghiệp, vùng nào không thể phát triển công nghiệp, không thể đắp đập, ngăn sông, khai thác lâm sản, vùng nào phát triển du lịch sinh thái là hợp lý... Ở quy mô nhỏ, như trong một đô thị, cần có không gian cho cây xanh, cho hồ điều hòa sinh thái, cho các nhà máy xử lý ô nhiễm, địa điểm nào không thể lấp hồ, khoan nước ngầm, xây nhà máy...
Việc không tính đến yếu tố môi trường trong nhiều quy hoạch kinh tế - xã hội đã để lại những hậu quả nặng nề, đến mức không khắc phục được, hoặc có thì cũng rất tốn kém. Cuốn sách đưa ra nhiều dẫn chứng, đơn cử như việc ngăn các lạch, phụ lưu ở cửa sông Hồng tại huyện Xuân Thủy (Nam Định) để quai đê, lấn biển làm nơi nuôi tôm, trồng cói đã dẫn đến việc xói lở ở cửa sông Lò, huyện Hải Hậu, đến nay vẫn chưa khắc phục được. Ở rừng U Minh, việc đào hệ thống các kênh rạch để đi lại, ngăn lửa đã làm cho nước rút khỏi rừng nhanh chóng, làm khô rừng U Minh Thượng, làm mất cân bằng hệ thống rừng và kéo theo những trận cháy dữ dội trong mấy năm gần đây.
Hay như việc các nhà khoa học đã khuyến cáo về cách xây dựng nhà cửa cho nhân dân tại những nơi có thể xảy ra động đất như thị xã Điện Biên, nhưng không ai quan tâm, và thế là trận động đất ngày 19/2/2001 xảy ra tại Điện Biên dù mới ở cấp 7, nhưng đã gây thiệt hại lên đến 2.000 tỷ đồng. Còn tại Tuần Châu (Hạ Long), việc đắp đường ra đảo Tuần Châu đã ngăn dòng chảy này làm cho nước biển ở vịnh Bãi Cháy - Tuần Châu càng trở nên tù đọng, tác động rất lớn đến môi trường vùng biển ven bờ.
Một ví dụ quy hoạch nữa là việc khai thác nước ngầm tại Hà Nội. Nước ngầm Hà Nội được "tiếp tế" bằng nước thấm xuống từ sông Hồng và nước từ con sông nhỏ là Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét... Nước sông Hồng ngấm xuống là nước sạch, còn nước của các con sông nhỏ đều bị ô nhiễm nặng. Đáng lưu ý là nước các sông nhỏ chảy xuống phía nam thành phố. Từ đó cũng thấy được rằng nước ngầm ở phía nam Hà Nội có nguy cơ đã bị nhiễm bẩn hoặc ô nhiễm nặng. Khu vực nước ngầm ở phía sông Hồng còn là nước sạch. Vì vậy, cần phải hoạch định khu vực nước ngầm này để tăng cường khai thác và gìn giữ, đồng thời có biện pháp xử lý nước sông Tô Lịch, Lừ, Sét... để không quá ô nhiễm, và để nước ngầm phía nam thành phố được sạch hơn.
PGS Thôn cũng đưa ra một giải pháp quy hoạch môi trường mang tính vĩ mô cho việc trồng rừng ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp này dựa trên một thực tế là, việc trồng rừng không thể theo kịp tình trạng phá rừng. Và nếu cứ để người miền núi, người dân tộc tự túc lương thực thì các cánh rừng - những lá phổi, những tấm lá chắn phòng chống thiên tai, những địa chỉ du lịch sinh thái, nguồn điện năng to lớn của quốc gia - sẽ mất đi nhanh chóng. Vì thế, Nhà nước nên coi những người trồng, giữ rừng có vai trò quan trọng như người trồng lúa ở miền xuôi, người sản xuất thủy điện cho cả nước, người ngăn chặn thiên tai lũ lụt, có công trong việc kinh doanh du lịch..., và trả công cho họ xứng đáng, bằng cách đưa lương thực từ miền xuôi lên vùng núi để cung cấp cho họ, giúp họ yên tâm công tác. Có như thế, việc phủ xanh đất trống đồi trọc mới trở thành hiện thực.
Cuốn sách Quy hoạch môi trường và phát triển bền vững cũng là tài liệu đầu tiên đưa ra kiểu bản đồ môi trường sinh thái - loại bản đồ đa chức năng, trong đó tập hợp đầy đủ thông tin về đặc điểm cảnh quan (địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn, sinh vật....) và hiện trạng môi trường (như ô nhiễm, suy thoái, tai biến, sự cố môi trường...) của cùng một khu vực. Bản đồ này rất có ích cho những nhà quy hoạch và quản lý, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau như phát triển nông lâm nghiệp, ngư nghiệp, chăn nuôi, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch...
Cuốn sách đã được dùng làm giáo trình cho sinh viên các trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Hà Nội), Đại học Khoa học Huế, Đại học Lâm nghiệp, và là tài liệu có ích cho các nhà quản lý, hoạch định môi trường và kinh tế nước ta.
(Theo VNExpress) |