|
 |
|
Hết công việc làng, xã, Blúp Dứ lại cõng gùi đi trồng rừng, làm rẫy như bao người dân bình thường khác - Ảnh: Hoài Nhân | Vượt hơn 200km đường rừng ngược lên miền biên ải (huyện Nam Giang, Quảng Nam), với ba lần hẹn, cuối cùng tôi cũng gặp được Blúp Dứ. Gặp ông lần đầu không ai nghĩ rằng chính ông là nhà giáo ưu tú đầu tiên và duy nhất của bà con dân tộc thiểu số ở Quảng Nam.
Nếu không gặp trở ngại, có lẽ ông đã được phong anh hùng lao động từ lâu lắm rồi...
Ba lần tang chế
Blúp Dứ không nhớ nổi ngày tháng năm sinh của mình. Trong sâu
thẳm ký ức mờ xa, ông kể: “Đúng bốn tuổi mình mất mẹ, một năm sau cha cũng qua
đời, chỉ còn lại một mình, sống nhờ bà con làng bản...”. Ông chỉ còn nhớ người
mẹ nuôi Zơ Râm Thị Nhôm đã cùng với bà con dân làng đùm bọc cưu mang.
“Hồi đó bà con ai cũng nghèo, mẹ nuôi nghèo lắm, mình cũng phải
lên rừng đào củ, xuống suối mò cua bắt ốc cùng mẹ để sống...” - Blúp Dứ nhớ lại.
Lớn lên một chút Blúp Dứ tham gia cách mạng và được các chú, các bác cho học chữ
Bác Hồ. “Mình được học cái chữ lúc đã gùi được 50kg hàng, vừa học vừa đi tải đạn
ở Pà Lăng (nay là xã Zuôi, Nam Giang), học chừng bảy năm, được cấp trên điều
động về dạy học và làm trưởng ban giáo dục của xã Công Năng...”.
Blúp Dứ cời thêm bếp lửa cho đủ ấm trong một đêm lạnh cóng miền
rừng và chuyện buồn của mấy chục năm trước chợt hiện về qua giọng kể trong nước
mắt: “Năm 1971, đang học lớp quản lý giáo dục, mình nhận được tin người vợ trẻ
chết đuối trên sông A Mó khi đi mò cua bắt ốc. Mình về đến làng thì mọi chuyện
đã xong xuôi, không kịp nhìn mặt vợ lần cuối...”. Nén nỗi buồn riêng, ông quay
trở lại trường tiếp tục lớp tập huấn.
“Hồi đó trong đầu mình luôn nghĩ tại sao bà con mình khổ. Càng
nghĩ càng thấy lời của cán bộ nói đúng, phải cố gắng học để đem cái chữ về cho
bà con, để bớt cái nghèo...” - Blúp Dứ tâm sự. Sau năm 1975, tổ chức cho ông
cưới lại vợ và phân công trực tiếp dạy học và quản lý giáo dục tại xã La Dêê,
cách làng ông đúng một ngày đi bộ.
Tưởng hạnh phúc mỉm cười sau bao gian truân nhọc nhằn nhưng
chuyện buồn đau lại ập đến với ông thêm một lần nữa. Đó là vào năm 1981, đang
dạy học thì ông nhận được tin đứa con trai thứ hai vừa tròn 7 tuổi, theo mẹ vào
rừng bị trúng thò chết (thò là loại bẫy bằng cây nứa của bà con dân tộc).
Bất chấp gió mưa, ông băng rừng vượt ngầm A Mó về đến làng thì
đứa con đã được bà con chôn cất. Theo phong tục chia của của người Tà Riềng, ông
chẳng có tài sản gì để chia cho con.
Thứ tài sản duy nhất mà người cha có thể chia cho con mang đi chỉ
là cuốn vở được ông cất trên mái tranh từ lâu chờ ngày con được đến trường. Rồi
hơn một năm sau, đứa con thứ ba của ông cũng qua đời vì bệnh sốt rét ác tính và
tài sản cho con cũng chỉ là cuốn vở được ông dành dụm mua chờ ngày con đến
trường...
 |
| Những căn nhà được Blúp Dứ vận động bà con xã La Dêê dựng tạm để có chỗ ở
cho HS đến học nội trú - Ảnh: Hoài Nhân | Trái tim người
thầy
Hỏi chuyện nhọc nhằn những ngày gieo chữ nơi miền biên ải, mắt
ông chợt sáng lên rồi nước mắt tự nhiên ứa ra trên hai khóe mắt: “Giữa năm
1985-1986, toàn bộ sáu xã vùng biên giới của huyện Nam Giang bị hạn nặng, bà con
đói ăn vàng cả mắt. Số học sinh nội trú của Trường La Dêê không có lấy hạt gạo,
mình vận động học sinh tự làm rẫy, trồng rau để tìm lấy cái ăn mà học.
Hồi đó mình và học trò ngày lên rẫy, tối về đốt lửa để học, nhưng
chẳng có một em nào bỏ học cả...” - Blúp Dứ nhớ lại. Tận tụy với từng con chữ
nơi miền biên ải trong biết bao nhiêu khốn khó, thiếu thốn, thế mà từ cái chữ
đầu tiên ông học được khi đi theo cách mạng, rồi được phân công trở về ngay trên
chính quê hương mình để ươm mầm gieo chữ là cả một hành trình gian khổ mà ông
gọi là hạnh phúc của cả đời mình.
Trong miên man câu chuyện bên bếp lửa nhà sàn, Blúp kể lại cho
tôi nghe câu chuyện cảm động về tình yêu thương của một người thầy dành cho học
trò. Ông nhớ lại đó là một buổi chiều đầu tháng 6-1986, ông cùng bảy học trò lớp
lớn nhất của trường ra ngọn núi sau trường đốt rẫy trồng sắn.
Gặp mùa khô, gió đổi hướng bất ngờ, ngọn lửa lan nhanh bao vây cả
thầy và trò. Trong mong manh giữa lằn ranh cái chết, không kịp suy nghĩ ông chặt
vội nhành cây tươi cấp tập dập lửa, mở đường để đưa từng em ra khỏi nơi nguy
hiểm. Cứu được bảy đứa học trò cũng là lúc ông đổ vật xuống bởi kiệt sức vì
những vết bỏng nặng.
Lần đó ông điều trị tại nhà mất hơn hai tháng bằng lá cây rừng
của bà con và lời động viên an ủi của học trò. Chìa tay, vạch áo chỉ cho tôi xem
những vết sẹo chi chít trên người, đến nay vẫn còn chỗ lồi chỗ lõm, ông cười,
bảo: “Nó là kỷ niệm không thể nào quên trong những năm dạy học của mình...”.
Năm 1986, cả trường lại bỏ học do đói ăn, chỉ còn lại mấy chục
em. Ông khăn gói theo chân học trò về làng vận động cha mẹ cho các em trở lại
lớp. Trong một lần xuống làng, khi vượt qua ngầm La Dêê giữa mùa mưa lũ, ông
phát hiện hai học trò của mình bị nước cuốn trôi.
Ông lao theo dòng nước, vật lộn với cơn lũ dữ, cứu được cả hai em
thoát chết. Cũng trong mùa lũ năm ấy, ông cùng học sinh đi gùi sách vở từ huyện
về, khi qua khe Vinh, xã ChàVal, ông lại phát hiện hai học sinh đang bị lũ cuốn
trôi, ông lao theo dòng nước và cũng cứu được cả hai em. Cả hai lần cứu học trò
ấy, ông đều đứng trước lằn ranh của cái chết.
Nhiều học trò của ông bây giờ đã thành danh. Có người làm cán bộ
lãnh đạo của huyện, có người trở về làng làm trưởng thôn, chủ tịch xã, lại có
người nối nghiệp ông tiếp tục lên miền biên ải gieo chữ cho bọn trẻ...
Cuối cùng, những hi sinh của ông cũng được ghi nhận, ngày
19-5-1989, ông được Nhà nước tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú và trước đó vào năm
1987, ông được tặng thưởng huy chương “Vì sự nghiệp giáo dục” và “Chiến sĩ thi
đua”...
Năm 1986, người dân sáu xã vùng biên giới đều nhất trí đề nghị
Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lao động cho ông. Hồ sơ đã gửi về huyện
và chuẩn bị gửi ra Hà Nội, nhưng kiểm tra còn thiếu một vài thủ tục.
Thời đó từ huyện muốn lên La Dêê phải mất bốn ngày đường đi bộ,
thế là hồ sơ của ông không được bổ sung kịp thời. Nếu không có lẽ bây giờ ông đã
là anh hùng lao động đầu tiên của bà con dân tộc thiểu số ở Quảng Nam.
Sau khi về hưu năm 1997, ông được bà con tín nhiệm bầu làm lãnh
đạo của xã và được phân công giữ chức vụ trưởng ban kiểm tra của đảng ủy xã, rồi
chủ tịch hội khuyến học. Ngoài thời gian làm cán bộ xã, ông lại tiếp tục hành
trình đi từng làng vận động học sinh ra lớp, rồi lại lên rừng trồng cây làm kinh
tế.
Hàng chục bằng khen, giấy khen của các cấp các ngành từ tỉnh đến
huyện khen tặng, ông cất giữ vừa đầy đúng một gùi. Ông chưa được phong tặng danh
hiệu anh hùng, nhưng đối với người dân nơi đây ông đã thật sự là một anh
hùng.
(Theo Tuổi Trẻ) |