Trang chính
Xã hội
Văn hóa
Du lịch
Lịch sử
Kinh tế
Khoa học
Y tế - Giáo dục
Tin học
Môi trường
Dịch vụ
Ẩm thực
Thể thao
Tản văn
Tin mới nhất

Trang chính arrow Môi trường arrow Hiểm họa sinh thái tiềm ẩn từ nuôi tôm trên cát
Advertisement
 
Hiểm họa sinh thái tiềm ẩn từ nuôi tôm trên cát PDF In E-mail
08/06/2004
Tại hội thảo "Nuôi tôm trên cát và các vấn đề môi trường" tổ chức ngày 4-6 tại Quảng Ngãi, lần đầu tiên các nhà khoa học đưa ra những chứng cứ thuyết phục về nguy cơ suy thoái môi trường một số vùng ven biển miền trung do nuôi tôm trên cát, cho thấy thiệt hại về môi trường mà nuôi tôm trên cát. Thiệt hại gây ra lớn hơn rất nhiều so với người ta tưởng, thậm chí, lớn hơn cả lợi nhuận do nuôi tôm mang lại nếu không sớm có các biện pháp điều chỉnh.

Nuôi tôm trên cát ở Bình Định.

Còn nhớ những năm cuối của thế kỷ 20, Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản và một số hộ dân ở tỉnh Minh Thuận đã thành công trong việc thử nghiệm nuôi tôm trên cát dùng nilon làm chất phủ chống thấm. Chỉ sau chưa đầy hai năm, đến giữa năm 2002, nuôi tôm trên cát loang ra khắp miền trung.
Thống kê của Bộ Thuỷ sản cho biết, tại Ninh Thuận có 200ha, Quảng Ngãi có 60ha, Thừa Thiên- Huế 16ha, Quảng Bình 1 ha và Quảng Trị 6ha. Năng suất bình quân mỗi vụ trung bình đạt 1,72 tấn/ha tại Bình Định, 3 tấn/ha tại Quảng Trị và Thừa Thiên- Huế, thậm chí 6 tấn/ha tại Ninh Thuận.

Chính các nhà khoa học nghĩ ra nuôi tôm trên cát thừa nhận họ không lường hết phong trào trở nên "nóng" đến thế và có nguy cơ vượt tầm kiểm soát.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thọ, Trung tâm nghiên cứu Thủy sản III, sự khác biệt lớn nhất với nuôi tôm thông thường là ở chỗ nuôi tôm trên cát cần rất nhiều nước, cả nước biển lẫn nước ngọt. Bởi thế, dân Ninh Thuận, nơi khởi nguồn nuôi tôm trên cát, nói: "Nuôi tôm trên cát thực chất là nuôi nước".

Vụ Khoa học công nghệ, Bộ Thuỷ sản tính toán, nhu cầu nước ngọt cho một ha nuôi tôm trên cát một vụ là 16.000-17.000m3. Nếu thay nước ba lần trong một vụ, lượng nước ngọt cần cho mỗi ha lên đến 50.000m3. Nên nhớ nước này chủ yếu là nước ngầm. Một số nơi có các hồ chứa nước ngọt có thể sử dụng nuôi tôm nhưng tiền phải trả cao. Trong khi đó, nước ngầm coi như miễn phí do chưa được ai quản lý. Chính vì thế, người ta đổ sang khoan nước ngầm.

Nuôi tôm trên cát ở Ninh Thuận.

Khảo sát mới nhất cho thấy tại các vùng nuôi tôm trên cát hiện nay, chất lượng nước ngọt tốt song trữ lượng lại rất hạn chế. Nguồn tích trữ chủ yếu là nước mưa thấm qua cát và được giữ lại. Các nhà khoa học ước tính, nếu đưa vào nuôi tập trung quy mô 300 ha thôi và nuôi mỗi năm hai vụ, nhu cầu nước ngọt khoảng 15 triệu m3/năm.
Trong dự án 2.000 ha với 800 ha nuôi tôm trên cát, phần còn lại dành cho dịch vụ trại giống và nhà máy chế biến ở hai huyện Thạch Hà và Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), nhu cầu nước ngọt sẽ là 40 triệu m3/năm. Lượng nước ấy tương đương với toàn bộ lượng nước ngọt cấp cho cả thủ đô Hà Nội trong ba tháng với công suất 450.000 m3/ngày. Với dự án lớn nhất Việt Nam tại hai huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh (Quảng Bình) với tổng diện tích 2.800 ha trong đó 2.000 ha nuôi tôm trên cát, lượng nước ngọt cần là 100 triệu m3/năm, tương đương với lượng nước cho Hà Nội trong vòng 7,5 tháng.

Hà Tĩnh và Quảng Bình khan nước thế nào, cả nước chắc biết. Các tỉnh miền trung khác chắc chắn không khá hơn gì. Không nghi ngờ gì nữa, nuôi tôm trên cát đang lặng lẽ nuốt chửng hàng tấn nước, tài nguyên sống còn cho cuộc sống của người miền trung.

Khai thác quá mức nước ngọt ở các vùng cát  còn khiến địa tầng một số nơi sụt lún. Nước ngầm cạn kiệt gây mất cân bằng áp lực, tạo điều kiện cho nước mặn xâm nhập từ biển vào, gây mặn hóa nước ngọt. Tại Ninh Thuận, địa phương tiên phong về nuôi tôm trên cát, các nhà khoa học ghi nhận được hiện tượng rừng cây phi lao ven biển chết do thiếu nước ngọt. Có nơi rừng phòng hộ bị suy kiệt, gió cát vùi lấp cả ao nuôi tôm.

Liên quan đến chất thải, với mật độ 40 con/m3 tại các hệ thống đầm nuôi tôm trên cát quy mô lớn lượng chất thải lỏng và rắn cần xử lý hàng năm vượt quá sức tưởng tượng của những người trong cuộc. Tính toán sơ bộ của các nhà khoa học ở Bộ Thủy sản cho thấy, mỗi ha nuôi tôm trên cát thải ra gần tám tấn chất thải rắn như vỏ tôm khi tôm lột vỏ, thức ăn dư thừa, cùng hàng nghìn m3 nước thải. Trên một diện tích 800 ha của cơ sở nuôi tôm Hà Tĩnh, vùng biển lân cận phải tiếp nhận chừng 6.400 tấn chất thải rắn trong một vụ nuôi. Tại liên hợp ở Quảng Bình, lượng chất thải rắn trong một vụ đổ ra biển lên đến 16.000 tấn.

Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Văn Trương, Viện trưởng Viện Kinh tế sinh thái, cảnh báo, "sự xuống cấp về môi trường đất cát rất nhanh chóng mà phục hồi lại rất khó. Gió, mưa, nắng, bão không những cản trở nỗ lực nhỏ bé của con người lập lại cân bằng sinh thái ở vùng ô nhiễm mà sẽ còn gây thảm họa khôn lường trên vùng địa lý rộng hơn do vành đai bảo vệ bị phá hủy ngay từ bờ biển. Do đó, phải hết sức thận trọng khi tác động vào vùng đất cát trong lúc chúng đang ở trạng thái ổn định".
 
(Nhân dân)
 


Các tin khác:



Viec lam, Tìm việc làm, Tuyển dụng

 
© Copyright 2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved. Contact us
® Ghi rõ nguồn "MienTrung.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.