|
Hàng chục nghìn dân Nha Trang sinh sống nhờ nghề nuôi hải sản (tôm hùm, cá mú, hồng...) tại vịnh Nha Trang đang hết sức hoang mang, lo lắng trước lệnh di dời toàn bộ lồng bè ra khỏi vịnh.
Việc di dời này là theo thông báo số 685/UB ngày 30-12-2004 của UBND TP Nha Trang.
Lý do đưa ra cho lệnh di dời là việc nuôi hải sản trong vịnh là tự phát, không được sự cho phép của cấp có thẩm quyền, không đúng qui hoạch, không đăng ký kinh doanh, gây mất mỹ quan trên vịnh, làm ô nhiễm nước biển, sắp tới là festival trên biển ở Nha Trang.
Phục vụ kế hoạch giải tỏa vịnh, đầu tháng 1-2005 tỉnh tổ chức chuyến khảo sát khu vực ven biển các huyện Ninh Hòa, Vạn Ninh. Theo kế hoạch di dời, chậm nhất là 31-1-2005 các hộ có hộ khẩu thường trú tại các đảo trong vịnh phải di dời các lồng bè khỏi Vũng Me về Đầm Bấy, các hộ thuộc các xã, phường trong đất liền TP Nha Trang phải di dời lồng bè đến các huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa (từ 30-90km), nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng chế!
Thế nhưng, hai tháng trôi qua kể từ ngày ra thông báo, ngoại trừ khoảng một phần ba số hộ ở Vũng Me (chủ yếu của các hộ trong đất hiện nuôi qui mô lớn) đã di dời về Đầm Bấy và Vũng Ngáng (trong vịnh), phần lớn các hộ ở Vũng Me và các khu vực khác trong vịnh vẫn án binh bất động. Đông đảo các hộ ký tên kiến nghị tỉnh xem xét lại chủ trương di dời, mức hỗ trợ... Lại một hạn chót nữa được ấn định: 16-3 là hạn cuôi đăng ký di dời, sau đó là cưỡng chế. Qua tìm hiểu, được biết sở dĩ hầu hết các hộ dân chưa thông bởi các lý do đưa ra không mấy thuyết phục, cách thức hình thành và triển khai chủ trương di dời chưa sát với thực tiễn, không coi trọng mục tiêu bảo đảm và tạo điều kiện cho việc làm ăn sinh sống của dân lao động nghèo...
Thứ nhất, về thủ tục, qui hoạch. Lồng bè có kích thước lớn, không phải như chiếc kim, người dân làm công khai ngay trong vịnh, nếu không hợp pháp sao chẳng thấy cơ quan nào ngăn cản? Thậm chí lãnh đạo tỉnh còn ủng hộ bằng cách động viên ngân hàng cho vay ưu đãi từ nguồn vốn xóa đói giảm nghèo. Nghề hình thành ở vịnh Nha Trang đầu thập niên 1990, đến nay vẫn chưa có cơ quan nào cấp phép. Vậy người dân phải xin phép ở đâu, khi nào? (Tuy vậy, UBND phường Vĩnh Nguyên cũng tổ chức cấp số thứ tự lồng bè và thu phí 250.000đ/bè). Qui hoạch nuôi trồng thủy sản ven biển của tỉnh mãi đến đầu năm 2001 mới được lập và đến 2004 vẫn chưa hoàn tất qui hoạch chi tiết. Sao lại trách người nuôi không đúng qui hoạch? Theo qui định hiện hành, nghề nuôi trồng thủy sản qui mô hộ gia đình được Nhà nước khuyến khích, không phải đăng ký kinh doanh, không phải đóng thuế. Sao lại nói không đăng ký kinh doanh?
Thứ hai, về vấn đề ô nhiễm nước biển. Tại báo cáo số 403/BC-DA ngày 6-10-2004 của Ban quản lý dự án khu bảo tồn biển Hòn Mun, các chỉ số quan sát và phân tích cho thấy nguồn nước ở khu vực vịnh Nha Trang chưa thật sự bị ô nhiễm. Ở những khu vực có nuôi trồng thủy sản, hàm lượng chất lơ lửng ở mức 61,60 (+-) 23,12 mg/l (theo TCVN-2000 thì giá trị giới hạn là 50 mg/l đối với chất lượng nuôi trồng thủy sản ven bờ và các bãi tắm).
Tuy nhiên, báo cáo nhận định: nguyên nhân có thể do cả việc nuôi trồng và từ các công trình xây dựng ven biển trôi xuống. Ở các khu vực nuôi, tỉ lệ chất hữu cơ đáy, hàm lượng NO2, NO3, NH3, P2O5 khá cao nhưng nhìn chung hàm lượng vi khuẩn phân tích tại 20 trạm nghiên cứu trong khu vực vịnh vẫn ở mức chưa cao.
Hơn nữa, theo các chủ hộ, chất lượng nước biển trong vịnh là vấn đề sống còn của tôm cá họ đang nuôi nên không ai sợ rác bằng họ. Họ tự tổ chức và thực hiện rất nghiêm túc việc đóng góp tiền chi phí thu gom rác (chủ yếu là vỏ giáp xác- thức ăn cho tôm cá nuôi) giao cho Công ty Vệ sinh môi trường xử lý. Vịnh Nha Trang có kích thước mỗi chiều cả chục kilômet. Tổng diện tích chiếm mặt nước của các lồng bè mới chỉ khoảng 150.000m2 (hàng trăm triệu mét vuông).
Trong vịnh có nhiều khu vực thuận lợi cho việc nuôi trồng (ít sóng gió, đáy bùn, có hải lưu, xa các tuyến tàu thuyền du lịch qua lại...). Để phòng ngừa nguy cơ ô nhiễm tại các điểm nuôi, hoàn toàn có thể giải quyết vấn đề bằng khảo sát, lập qui hoạch chi tiết, qui định số lượng lồng bè theo diện tích mặt nước từng khu vực. Không cần thiết phải giải tỏa trắng toàn vịnh.
Thứ ba, về các khu vực qui định dời tới các huyện. Với cự ly nhiều chục, thậm chí cả trăm kilômet, tổn thất do hư hại lồng bè, vật nuôi là rất lớn. Đơn cử, duy nhất hộ ông Ngô Đình Vũ (166 Bạch Đằng, Nha Trang) tiên phong kéo 28 lồng vào Cam Ranh, dự kiến 16 giờ, phải mất 31 giờ, với tổng chi phí và tổn thất lên đến trên 50 triệu đồng (mức hỗ trợ chỉ là 5,174 triệu).
Hơn nữa, khu vực chủ yếu qui định dời tới là vịnh Vân Phong thuộc huyện Vạn Ninh, nơi đã được qui hoạch thành vùng du lịch trọng điểm, cảng trung chuyển dầu mỏ và container tầm khu vực. Di dời ra Vân Phong khác nào đánh bùn sang ao? Không ít người nuôi ở Vũng Me hiện nay vốn là dân cư ngụ tại Bãi Trũ. Mấy năm trước họ được động viên rời bỏ nơi cư ngụ để nhường chỗ cho khu du lịch Hòn Ngọc Việt, sang Vũng Me lập nghiệp. Nay lại bị buộc đi khỏi Vũng Me để ra Vân Phong, lấy gì đảm bảo họ sẽ được làm ăn ổn định và lâu dài ở đó?
Phần lớn các hộ nuôi đều phải hùn hạp, vay mượn, thế chấp bằng nhiều hình thức. Theo tính toán, chi phí, lợi nhuận khi sản xuất tại chỗ thì sau không dưới 5-7 năm mới thu hồi vốn, sinh lãi. Nếu buộc phải di dời quá xa, các hộ qui mô nhỏ phải bỏ nghề mà không biết tiếp tục mưu sinh bằng gì, các hộ lớn gặp khó khăn vì chi phí tăng quá cao. Nguy cơ thua lỗ, phá sản, dẹp nghề là thấy trước. Hậu quả thất nghiệp, nợ nần phát sinh khôn lường. Đối với nghề bẫy bắt tôm hùm giống (nguồn cung ứng chủ yếu của khu vực) ở phường Vĩnh Hòa và xã Vĩnh Lương, di dời đồng nghĩa với mất nghề. Còn đâu con giống cho nghề nuôi?...
Tại cuộc họp báo do UBND tỉnh tổ chức ngày 23-2 vừa qua, đông đảo phóng viên các báo cũng bày tỏ chưa đồng thuận với việc di dời này.
Nghề nuôi hải sản trong lồng bè ở Nha Trang hình thành từ đầu thập niên 1990 đã nhanh chóng phát triển bởi hiệu quả. Theo thống kê, hiện có hơn 600 hộ nuôi trong khu vực vịnh Nha Trang với khoảng 11.000 ô lồng. Hàng chục ngàn công ăn việc làm được tạo ra cho lao động phổ thông, giảm cơ bản nạn đốt than phá rừng, khai thác hải sản bằng các biện pháp hủy diệt. Nhiều hộ gia đình nhờ đó đã thoát cảnh đói nghèo, khá lên vững chắc. Nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các ngân hàng cho vay đưa vào hoạt động này ước tính đã lên đến trên 300 tỉ đồng. Nghề hoàn toàn có thể phát triển và có triển vọng tốt.
Theo giới chuyên môn, nếu quan tâm đúng mức nghề nuôi trồng, Nha Trang hoàn toàn có thể có được qui hoạch hợp lý trong khu vực vịnh mà không ảnh hưởng đến cảnh quan (bằng qui định những khu vực nuôi trong vịnh, chỉnh trang ngăn nắp, bằng qui cách thiết kế nhà lồng bè...), môi trường (mật độ lồng bè, bố trí tại khu vực có dòng nước chảy, nuôi kết hợp nhuyễn thể đáy, trồng rong sụn...). Thậm chí, nếu có thiết kế đẹp, các lồng bè còn có thể trở thành những điểm thu hút khách du lịch tham quan làng nghề độc đáo của dân bản địa, thưởng thức đặc sản tươi sống tại chỗ hết sức thú vị, góp phần khắc phục điểm yếu của du lịch địa phương hiện nay: thừa phòng ngủ, thiếu điểm tham quan, giải trí, mua sắm.
(TTOL) |