|
Trong số các anh chị em văn nghệ sĩ tỉnh nhà đi sáng tác tại Thành phố Vũng Tàu Côn Ðảo, nhà thơ Nhất Lâm đã gửi về cho NetCoDo tùy bút về Côn Ðảo- một di tích bậc nhất nước ta về lòng yêu nước và sự hy sinh mà xương đã thành núi, máu đã thành biển của lớp này lớp khác để có một tổ quốc Việt Nam độc lập thống nhất hôm nay.
Khi đang bị thực dân Pháp bắt cầm tù ở nhà lao Hỏa Lò (Hà Nội) từ năm 1941, nhạc sĩ Ðỗ Nhuận rất xúc động bởi ngày mai thôi, những chiến sĩ cọng sản bạn tù đồng chí của ông bị đày ra nhà tù Côn Ðảo giữa biển khơi. Ðêm ấy nhạc sĩ trằn trọc không ngủ, trong cảnh tối tăm của phòng giam nhưng vẫn lóe sáng những nốt nhạc thiết tha. Và ông lấy mẻ sành gạch lên tường trại giam. - Ðồng chí là nhạc sĩ, hãy viết một bài hát nói lên những người tù đày ra Côn Ðảo của chúng tôi. Câu nói của đồng chí bạn tù đã làm ông xúc động và thêm phấn chấn mà cảm hứng dòng nhạc. Và... "Kìa xa xa nơi Côn Ðảo ờ... ờ. Sóng nước muôn trùng, hỡi đàn cò trắng bay về đâu...? Bốn phương... về nơi nao... Hỡi chim ta nhắn cùng...". Và cứ thế, dòng nhạc và ca từ tuôn trào như một dòng chảy. Bài ca "Kìa xa xa nơi Côn Ðảo ờ... ờ", được các đồng chí - người tù, từ Hỏa Lò thuộc lòng đem theo ra Côn Ðảo. Và họ đã hát trong cảnh giữa đảo trời biển mênh mang ngồi nhìn về quê hương mà nhớ cha mẹ người thân. Nói đến các hệ thống trại giam nhà tù Việt Nam do thực dân Pháp, đế quốc Mỹ dựng nên như Lao Bảo, Sơn La, Hỏa Lò, Côn Ðảo... thì Côn Ðảo vẫn là gây ấn tượng hơn cả. Bởi ngoài sự tàn bạo của một chế độ tù đày dã man bậc nhất, Côn Ðảo xa xôi giữa trời biển. Mọi biến động ở đất liền khó tác động đến Côn Ðảo, nên bọn chúa ngục, cai tù... tha hồ đày ải đánh đập giết hại tù nhân mà không hề bị lên án hay trừng trị... Bọn chúa ngục được thấy an toàn nên trút hết mọi dã man tàn ác lên người tù. Theo số liệu của bảo tàng di tích lịch sử cách mạng (DTLSCM) ở Côn Ðảo hiện nay và trưng bày hiện vật thì từ năm 1862 khi thực dân Pháp xây dựng nhà tù Côn Ðảo đến năm 1975, Côn Ðảo thoát khỏi kìm kẹp của Mỹ và chế độ Thiệu ở miền Nam là 113 năm. Trong thời gian 113 năm, bọn chúng đã tàn sát giết hại 20 ngàn chiến sĩ ta. Nhưng ở nghĩa trang Hàng Dương mới có 1904 ngôi mộ. Số còn lại bị chúng thủ tiêu bằng nhiều hình thức như ném xác xuống biển, thủ tiêu ở các rừng trên đảo nhỏ (côn Ðảo có đến 16 đảo lớn nhỏ) tách rời nhau, muốn đến từng đảo phải có thuyền, ca nô. Nhưng đến nay mới có 700 ngôi mộ trong 1904 ngôi ở nghĩa trang Hàng Dương có bia ghi tên tuổi... Số còn lại là Vô danh. Có những địa điểm mà tù nhân hy sinh, đến bây giờ vẫn rùng rợn cho ai nghe tên và nhất là được đến đó. Tiêu biểu là cầu tàu Ma Thiên Lãnh, chỉ có mấy mét... mà có đến 300 tù nhân bỏ mạng. Chết bị đánh, đá đè, chết vì ngã xuống biển và sóng cuốn theo, chết vì sự tàn bạo của bọ mã tà cai ngục, chúa đảo. Cầu tàu 914. Cái tên 914 nghĩa làm làm xong cầu tàu này có 914 tù nhân bỏ mạng. Từ người chết đầu tiên đến người thứ 914, một người chết, bạn tù nhắc nhau con số đó. Người tù chính trị đầu tiên là vị khoa bảng yêu nước - cụ Thúc Bào Lã Xuân Oai, cụ là quan Tuần phủ tỉnh Lạng Sơn, cụ tổ chức dân quân Lạng Sơn đánh Pháp. Năm 1889 thì bị Pháp bắt được đày ra đảo, cuối năm đó cụ hy sinh ở đảo vừa 52 tuổi. Ðó là các vị đại khoa bảng Phan Chu Trinh, Ngô Ðức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành, Ðặng Nguyên Cẩn... những nhà nho ưu tú bậc nhất nước ta. Kế theo sau là các cụ Phạm Văn Ngôn, Lê Ninh, Trần Hoành, Nguyễn Phước Bửu Ðình... rồi tiếp đến là các đồng chí Nguyễn Chí Diễu, Nguyễn Khoa Văn... Các ông Trần Hoành, Bửu Ðình, Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn là những người con yêu quý của Thừa Thiên Huế mà những gì còn để lại bảo tàng Côn Ðảo làm chúng tôi kính mộ. Cụ Trần Hoành là đồng chí của cụ Phan Bội Châu đã từng sang hoạt động ở Trung Quốc, bị Pháp bắt đày ra đảo, cụ đóng bè vượt đảo thành công trở về tiếp tục hoạt động rồi bị bắt đày ra đảo lần thứ hai. Cụ lại vượt đảo lần thứ hai cũng thành công về hoạt động tại Huế và sau khi Cách mạng Tháng tám thành công cụ mới qua đời. Khi nhắm mắt cụ đã nói với con cháu "Cha vui rồi, xuống gặp cụ Phan báo cho cụ mừng là nước nhà đã độc lập"... Nguyễn Phước Bửu Ðình là hậu duệ vua Nguyễn Phúc Ðảm - Minh Mạng. Ông chống Pháp và bị đày ra Côn Ðảo từ năm 1930 (trước đó thì đày Lao Bảo), ông vượt đảo lần thứ nhất không thành. Tháng 10 năm 1931 ông vượt đảo lần hai và mất tích. Hiện có hai giả thiết cho rằng Chúa đảo đã biết cho tàu đuổi theo và thủ tiêu giữa biển, hoặc bị sóng đánh tan bè mà hy sinh. Trước khi rời đảo Bửu Ðình đã gửi lại Chúa đảo bài thơ tứ tuyệt: "Mấy lời nhắn nhủ chú BuVê Ðó ở đây đi thẳng một bề Chim đã sổ lồng tung thẳng cánh Trời cao biển rộng nước non quê" BuVê (BouVier) là Chúa đảo tàn bạo, và căn cứ bài thơ này mà có giả thiết Bửu Ðình đã bị BuVê sai tàu đuổi theo mà thủ tiêu khi bắt được. Trong những tháng ngày dài dằng dặc, các vị khoa bảng chí sĩ vốn là những nhà thơ tiếng tăm. Trong cảnh lao tù cơ cực càng rèn đúc ý chí sắt gang và đã sáng tác những áng thi ca có giá trị hun đúc tinh thần yêu nước lạc quan. Và đó là tài sản vô giá để lại đời sau. Hai ông Trần Hoành và Bửu Ðình, một nhà nho thế hệ trước, một vị tân học lại dòng tộc hoàng phái, nhưng tấm lòng yêu nước và sự gan dạ thì thật giống nhau. Tiêu biểu cho những công dân Thừa Thiên Huế trọn đời vì nước. Cái chí hai lần vượt đảo một thành công một thất bại, đó là sự thường tình có chút may hay vận hạn. Nhưng ai đã đi tàu vô ra Côn Ðảo với độ dài đường biển trên hai trăm cây số giữa mênh mông biển trời thì quả tim và chí lớn của họ, chúng ta chỉ biết cất mũ cúi đầu mà rơi nước mắt. Trong lúc đi thắp hương từng ngôi mộ ở nghĩa trang hàng dương, tôi đã phát hiện một ngôi mộ có tấm bia ghi tên tuổi: Trần Văn Tiên (hay Tiến), sinh năm 1914 làng Minh Hương, Quảng Ðiền, hy sinh ngày 2/1/1938 (bia mới sau này). Ông Tiến cùng tuổi với đại tướng Nguyễn Chí Thanh, cùng hoạt động và lúc này Nguyễn Chí Thanh đang bị truy nã và năm 1940 cũng bị Pháp bắt được đày lên nhà tù Buôn Mê Thuột. Thay mặt đoàn văn nghệ sĩ tỉnh nhà đi sáng tác tại Thành phố Vũng Tàu Côn Ðảo, tôi, Ngô Minh, Ðặng Mậu Triết lần lượt dâng hương và mặc niệm trước mộ chí liệt sĩ. Chúng tôi đi thêm mấy dãy mộ để có thể tìm được tấm bia nào có tên tuổi liệt sĩ tỉnh nhà. Bởi theo tài liệu để lại bảo tàng Côn Ðảo trong năm 1972 Mỹ - Thiệu đã đày ra đảo 1226 đồng bào, chiến sĩ, cán bộ tỉnh Thừa Thiên Huế. Chúng ghép cho người dân bị đày là thân Cọng. Dã man hơn, trong số 1226 tù nhân ấy có 53 tù nhân chưa hết bú. Với độ tuổi từ 1 tháng đến 8 tháng tuổi, đi vào nhà tù cùng mẹ. Các nhà thơ Võ Quê, nhà báo Hoàng Thị Thọ cùng nhiều học sinh sinh viên một thuở xuống đường đấu tranh chống Mỹ bị đày đợt này. Và có ai trong số cả ngàn tù đó, có cháu nào trong số 53 cháu đó đã không trở về được Huế khi Côn Ðảo tự do? Vì thời gian ngắn ngủi nên đành thắp một bó hương thật to và 3 chúng tôi (Nhất Lâm, Ngô Minh, Ðặng Mậu Triết) dâng hương tại đài tượng nhớ Hàng Dương và thầm hứa sẽ trở lại Côn Ðảo lần hai để tìm hiểu những gì cần thiết cho tác phẩm của mình. Riêng họa sĩ Ðặng Mậu Triết có hàng trăm phác thảo, ký họa ở Côn Ðảo và anh sẽ ra lại Côn Ðảo làm một cuộc triển lãm cho mình. Ðó là sự đền đáp của người nghệ sĩ với dân tộc mình. Ðồng hành ra và về cùng chúng tôi là 270 cán bộ vốn là những người đã bị tù đày ở Côn Ðảo, họ bày tỏ nguyện vọng là tôn tạo cho Côn Ðảo để gìn giữ một di tích bậc nhất nước ta về lòng yêu nước và sự hy sinh mà xương đã thành núi, máu đã thành biển của lớp này lớp khác để có một tổ quốc Việt Nam độc lập thống nhất hôm nay. Các chiến sĩ cũng bày tỏ nguyện vọng là cán bộ các nơi hãy đến Côn Ðảo dù chỉ một lần. Tổ chức lớp trẻ đến đây. Có đến đây thì những tham lam tội lỗi trong chúng ta đang nảy nòi là tham ô, hối lộ, làm nghèo đất nước, quay lưng lại với nhân dân với những gì truyền thống tốt đẹp, có lẽ được đẩy lùi. Bởi khi nhận ra mình, khi thấy sự hy sinh vô bờ bến của các chiến sĩ Côn Ðảo, mình sẽ tốt hơn lên. Thừa Thiên Huế cũng nên làm như vậy chăng...! Trên chuyến tàu từ Côn Ðảo về Vũng Tàu, tôi đã gặp anh Ðang ở phường Xuân Phú, công tác ngành Lâm nghiệp, bảo vệ rừng trên đảo, và ở chợ Côn Ðảo tôi đã gặp mấy cô gái Huế tuổi từ 27 - 30. Các cô buôn bán ở chợ, dọn bán hàng lơ ghim, rau tươi. Và các cô đã nói rằng; bây giờ đi lại thuận tiện, nên sống và lập nghiệp ở Côn Ðảo. (Netcodo) |