Ocirc;ng
Biền Ngân, Bí thư xã Quảng Lưu dẫn tôi đi trên con đường 22B, hai bên
đường bạt ngàn dẻ, ở đâu cũng ngút ngàn xanh thẳm. Thấy tôi ngạc nhiên,
ông Ngân nói: “Đó là công sức của biết bao mồ hôi. Nói không ai tin, 16
năm trước, ở đây toàn là đồi núi trọc. Những năm thời bao cấp khó khăn,
người dân xã Quảng Lưu và 5 xã cận kề ào ào vô tàn sát trọc rừng.
Người
vô bắt thú, kẻ đốt than, người bổ củi, kẻ đốn gỗ, không ngày mô im
tiếng búa đẵn cây. Ngày mô cũng vài ngàn người lên rừng dẻ này để kiếm
ăn. Lúc đó nhìn rừng mà tui xót lắm, nước mắt ròng ròng nhưng chưa nghĩ
ra cách bảo vệ. Loay hoay mãi đến năm 1989, tui cùng mấy anh em trong
ban cán sự xã quyết định cấm dân vô rừng.
Lệnh
ban ra, dân phản đối với lý do cả xã hơn 6.000 nhân khẩu mà tựa lưng vô
541ha ruộng thì làm sao sống, trong lúc đó 2.086 ha rừng dẻ còn lại sẽ
là nguồn sống chủ yếu của họ. Lý của dân thời cơm thua gạo kém làm lãnh
đạo mấy lần suýt xiêu lòng, nhưng xã quyết không để dân vô rừng nữa.
Tui
rắn, dân dọa không bầu vô lãnh đạo xã nhưng tui vẫn rắn triệt để. Đến
chừ thì anh thấy đấy, không những dẻ đã tái sinh 100% mà người dân xã
Quảng Lưu cũng rất quyết liệt bảo vệ rừng không cho kẻ xấu xã khác vô
phá. Chừ tui hay nói vui trong những cuộc họp dân: có muốn bỏ 541ha
ruộng để lên phá 2.086 ha rừng không là dân phản đối rần rần…”.
Biền
Ngân nói vậy rồi bỏ lửng câu chuyện. Tôi vặn vẹo mãi mới biết mất rừng
là ruộng của xã và hơn 10 xã khác trong vùng cũng mất mùa do không có
nước. Giữ được rừng là giữ được nước cho ruộng nên không ai dại phá
“nồi cơm của mình”.
Đội
bảo vệ rừng xã Quảng Lưu gồm 12 người chia làm hai tổ do Nguyễn Văn Hợp
làm đội trưởng. Ngày nào đội cũng chia nhau hai cánh tuần tra rừng,
nhiều khi ở lại trong rừng đến sáng hôm sau mới về và lắm lúc bữa trưa
của đội chỉ mấy củ sắn nướng vội. 12 người ấy gia đình rất khó khăn
nhưng giàu lòng yêu rừng nên không quản ngại khó khăn canh giữ.
Khi
tôi hỏi về chế độ giữ rừng, ông Nguyễn Văn Thanh nói: “Chẳng nhiều chi
mô, lúc đầu tình nguyện làm không công, sau đó xã cho một người một
tháng năm chục cân thóc, sau nữa nhà nước cho một người 120.000
đồng/tháng, đến chừ thì cắt không có đồng mô. Xã mới ký với anh em một
tháng 200.000 đồng/người nhưng chưa kiếm ra nguồn để trả”.
“Để
rừng tái sinh đã khó, giữ được rừng càng khó hơn, gian nan hơn - Nguyễn
Văn Thanh nói-anh em tui nhiều khi ngủ rừng ngủ bụi để đuổi lâm tặc, đã
đánh nhau, đổ máu để giữ được rừng như hôm ni cũng không uổng công. Hồi
trước vùng ni trọc lốc, chừ rậm rạp thì mang, nai, hoẵng, lợn rừng,
chim chóc về nhiều, bọn tui vui lắm, quyết bảo vệ cho bằng được khu
rừng ni”. Theo chân đội bảo vệ luồn sâu vào khu rừng tái sinh này, mới
thấm được cái gian nan giữ rừng. Trời nắng cũng như trời mưa, không lúc
nào vắng bóng những người giữ rừng cấp xã.
Ông
Biền Ngân hỉ hả kể: “Dẻ tái sinh đầy đủ thì cho hạt, hạt dẻ có giá trị
thương phẩm cao nên nhiều người thoát nghèo, thậm chí làm nhà xây, mua
xe máy nhờ hạt dẻ ở khu rừng này”. Để chứng minh, ông Ngân dẫn tôi đến
những gia đình thoát nghèo từ việc thu hoạch hạt dẻ như nhà Phan Văn
Thông, Lê Văn Tự, Trương Văn Quang, Trần Vinh,…
Đặc
biệt là Phan Văn Nam đã làm được nhà, mua xe máy nhờ hạt dẻ. Trước đây
nhà Nam nghèo lắm, khoai sắn suốt ngày, cưới vợ về Nam quyết định xin
xã coi sóc đặc biệt 24ha rừng dẻ tái sinh. Từ năm 2000 dẻ cho quả, Nam
thu hoạch một mùa hàng tấn, bán với giá 1kg được 6.500 đồng, Nam thu
vào hơn 5 triệu đồng, một con số nằm mơ với người nghèo miền cát Quảng
Bình.
Ông
Ngân còn cho tôi bất ngờ khác: “Tháng 9, 10 hàng năm dẻ cho quả, xã mở
cửa rừng cho hàng ngàn dân không những của xã Quảng Lưu mà cả dân 5 xã
giáp ranh vô nhặt hạt đi bán. Ước tính một ngày vào mùa dẻ có hơn 1.500
người vô rừng. Hai tháng mùa hạt dẻ người dân thu hơn 1,5 tỷ đồng. Tiền
đó xã không thu một cắc”.
Tôi hỏi
vặn ông Ngân thì nhận câu trả lời chắc nịch: “Giữ rừng cho dân, thu
tiền đi nhặt hạt chướng lắm, anh em trong đội cũng không đồng tình, hơn
nữa đang tuyên truyền dân không phá rừng thì phải có cái thiết thực họ
mới nghe. Thiết thực nhất là để dân vô nhặt hạt dẻ bán để họ thấy cái
lợi được hưởng khi không phá rừng”.
Trường
Vinh, người Quảng Lưu, trước đây là lâm tặc nói với tôi: “Nói trắng ra,
trước đây người dân xã này, rồi những xã khác trong vùng, đều làm lâm
tặc. Ai cũng sống tạm bợ, sáng núi, tối chợ, hoàn toàn mù mịt về tương
lai. Ông cha nói rồi, ăn của rừng rưng rưng nước mắt. Làm mấy cũng
không đủ để bỏ lỗ miệng. Giờ ngược lại, cùng với mấy bác trên xã bảo vệ
những cánh rừng mà ngày xưa tui đã chặt phá, cảm giác sướng lắm, không
kể được.
Sướng hơn là
tới mùa hạt, cứ vô rừng là có tiền mà không hại đến rừng. Chừ dân tui
“hoàn lương”, xã cảm động không thu tiền vô rừng tìm hạt dẻ thì phải
phấn đấu xứng đáng với mong mỏi của xã. Nhưng cũng khó, dân Quảng Lưu
không phá rừng thì 5 xã giáp ranh lại ào vô phá, bên họ rừng dẻ bị
triệt hết nên lao vô khu rừng này phá. Nhà nước phải mần răng chứ như
rứa thì bất công lắm, mà nhặt hạt dẻ thì có phải chắc dân Quảng Lưu
mô”.
Nhà nước không phải mất 50.000 đồng/ha/năm (theo đơn giá
khoán rừng cho dân) nhưng rừng vẫn được bảo vệ rất tốt. Mô hình này rất
xứng đáng được tuyên dương.