|
Người Bình Định xưa rất sành ăn. Ăn ngon chưa đủ mà ăn phải đúng
cách, ăn đủ chất. Một món ăn, dù ngon đến mấy ăn mãi cũng chán. Vì vậy,
ngoài thức ăn chính cho tiệc tùng, người Bình Định xưa còn chế biến các
món phụ với mục đích ăn ngon, ăn mãi mà không chán. Đó là các món: Rượu
nếp khai vị, tôm chua tiếp vị và khổ qua giải vị.
Người nội trợ khéo phải chế biến và dọn những món ăn này đúng lúc.
Vào tiệc, những cốc rượu nếp, những viên rượu trắng tinh, được dọn
trước tiên. Mở lượt giấy phủ trên miệng ly, hương nếp nồng tỏa ra,
khiến nước bọt đã tiết rồi. Đưa viên rượu vào miệng, rượu vừa nồng vừa
the the, thơm lừng lựng. Men rượu bắt đầu kích thích từ khứu giác đến
vị giác vào đến bao tử. Ta nghe như máu dồn nhè nhẹ lên mặt, khiến ta
có cảm giác thèm ăn.
Mặc dù rượu nếp rất nhẹ, chỉ chừng 6 đến 10 độ là cùng, nhưng cũng đủ
giúp các bà các cô vui vẻ, bạo dạn, đôi má thêm hồng càng tăng vẻ đẹp.
Họ cười nói nhiều hơn kể cả những chị em ít nói nhất. Vào tiệc, các món
ăn như ngon hơn, đậm đà hơn.
Làm rượu nếp không cầu kỳ lắm. Nếp mới không cần giã trắng, lựa tẻ xong
vo kỹ, nấu thành cơm nếp - hơi nhão một tý. Nếu nếp chưa được mềm đều,
phải hâm sôi trở lại. Trong lúc chờ nếp nguội, người nội trợ đem lá
chuối loại bánh tẻ dầy dầy, rửa sạch để ráo nước lót vào nhau. Nếp vo
viên, tròn bằng ngón chân, xếp trên lá thành một lớp. Mua men rượu giã
nhỏ, bỏ lên mặt ray, ray nhẹ đều khắp mặt nếp. Cứ 1 kg nếp thì dùng
chừng 5 gam men, đậy thêm lớp lá chuối, cuối cùng phất lên một khuôn
vải thô đã ướp nước sôi và vắt ráo. Đó là cách đại trà. Cẩn thận hơn
người ta đem những viên nếp xếp vào ly, lọ rồi rây men, phất mặt lọ
bằng giấy.
Tất cả đậy thật kín, đem vào nơi có nhiệt độ cao chừng 20-32 độ là tốt.
Sau 3 đến 5 ngày là có thể dùng được. Mùa lạnh cần thời gian dài hơn.
Trong lúc thực khách đang dùng những cao lương, mỹ vị xem chừng đã
thỏa, người chạy bàn lại mang lên món tôm chua. Tôm chua là món tiếp
vị, giúp thực khách ăn ngon với món nhiều dầu mỡ, lại dễ tiêu hóa.
Thịt đùi mà thiếu tôm chua
Như cơm thiếu mắm, như vua không thần.
Người ăn sẽ cảm thấy nhạt nhẽo - khi ăn thịt mà thiếu vị chua cay. Vị
chua của tôm không chua như chanh, dấm mà ngon ngót, sâu đậm ở cuống
họng.
Làm tôm chua đơn giản thôi. Tôm đất màu hơi vàng, thân tôm trong veo.
Phải lựa tôm thật tươi, còn búng giãy trên rổ. Lấy kéo cắt bớt đầu, râu
và đuôi tôm. Lọ thủy tinh đã sẵn rượu. Đem tôm đổ vào rượu (rượu nồng
độ khá cao, cỡ 40 đến 42 độ, thường là Bầu Đá vừa ngon lại thanh). Tôm
búng giãy tung tóe nên khi bỏ tôm vào rượu nhớ đậy bằng vải thưa. Gia
vị cho tôm gồm muối rang, ớt nguyên trái hay thái mỏng và chủ yếu là
riềng củ thái thành sợi nhỏ. Nếu gặp mùa măng tre, thêm ít vòi măng
thái nhỏ. Tôm giãy giụa một lúc, màu tôm chuyển từ vàng sang hồng hồng.
Vớt tôm trong rượu ra đổ vào lọ mới - cứ một lớp tôm, một lớp gia vị
nói trên. Đậy kín chừng vài ngày. Sau đó cho một ít nước cháo nếp thật
loãng có pha vào một ít đường cát vào. Chừng một ngày là dùng được!
Tôm chua để tiếp vị khiến những ai khảnh ăn cũng có thể ăn thêm, ăn
nữa.
Bữa ăn tuy chưa xong nhưng xem chừng đã lơ đũa. Người nội trợ đưa bát
khổ qua dồi vào và múc chia mỗi người một mẩu với vài muỗng nước. Miếng
khổ qua vào miệng tuy hơi đăng đắng nhưng khi đã qua họng thì tất cả sự
chán ăn dường như tiêu tan. Người ta gọi khổ qua là vậy. Chỉ một tí
đắng thôi là hết đắng ngay. Đúng là khổ qua chớ không phải là khổ lâu!
Lúc này thực khách sẽ cảm thấy mình chưa ăn gì và bữa ăn lại tiếp tục
cho đến khi tan tiệc.
Món khổ qua chỉ là một món canh nhẹ vì không dầu mỡ. Lựa những trái khổ
qua vừa già, xanh lục nhạt, gai tròn, cắt khúc độ 2 đến 3 cm, moi bỏ
ruột. Thịt nạc quết nhuyễn trộn với bún song thần, nấm mèo hoặc cước cá
(vây cá mập, chỉ lấy phần gân) trộn đều, dồi vào vỏ khổ qua. Nấu lên,
là món canh đã sẵn sàng.
Ba món ăn trên không cầu kỳ cho lắm nhưng làm bữa ăn thêm thú vị. Những
bữa tiệc, giỗ ở Bình Định xưa và nay ở nhiều vùng quê, chừng như không
thể thiếu các món trên. Phong vị quê hương ngọt ngào và phong phú thế
đó, khiến ta không bao giờ quên được.
(Baobinhdinh) |