|
Nhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt
phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề
có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô
thị.
| |
Những thảm cỏ được trồng trong các công viên và....
|
Thật vậy,
không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người
lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên
những ngọn đồi cao; nhưng ở đây, hình tượng của cây anh đào và cây
thông đã khiến cho người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại. Có lần vào
cuối đông, tôi ngồi trong trại viết của Hội Nhà văn ở Quảng Bá và nhìn
ra con đê sông Hồng xanh ngun ngút những cỏ kéo dài xuống những cánh
đồng vùng Yên Phụ mịt mùng trong màu mưa bụi xám, tôi chợt nhớ đến một
câu thơ của Nguyễn Trãi nói về nỗi tâm đắc với cỏ ở Hà Nội: "Hoa thường
hay héo cỏ thương tươi". Tôi nghiệm ra rằng cái thế thích chí nhất của
cỏ chính là những triền đê. Ở đó, cỏ nghiễm nhiên thay thế vai trò của
mọi loài hoa trên trái đất. Có lẽ ngày xưa trong một chức quan rỗi
việc, Nguyễn Trãi đã có nhiều lần buông lỏng cương ngựa đi dọc triền đê
này để ngắm vẻ đẹp của cỏ. Nhưng đã có mấy ai được ngắm thoả thích mày
xanh tươi của cỏ dọc thân đê giớng như tôi trong buổi sáng mùa xuân ấy.
Vả lại Hà Nội vẫn là những mái phố dài trải ra dưới những cây cao (như
cây sấu) với những khách bộ hành đi trên vỉa hè. Nghĩa là còn lại Huế
là một cố đô mang linh hồn của cỏ.
Mùa xuân
có thể định nghĩa là mùa xuân mà toàn bộ cây nở thành hoa. Những ngọn
đồi phía tây nam Huế bừng lên trong hương hoa cỏ, khiến người ta không
thể ngồi yên cúi mặt lên trang sách. Hương cỏ tràn vào thành phố, như
gần như xa, khiến tôi nghĩ rằng ở đâu đấy trên những sườn đồi, cánh cửa
của vườn Địa Đàng đang mở ra, hoặc những nàng tiên đang múa hát dưới
gốc cây đào nở hoa, với mùi hương bát ngát như thể mùi tóc bay trong
những chiều gió. Cỏ mọc ven những con đường trong thành phố, trên đó
lưa thưa những chòm cây dại, như cây hoa ngũ sắc cười sặc sỡ dọc đường
thơ ấu của tôi. Bay theo những bước chân lang thang của tôi là những
con bướm, những cánh chuồn nghe ngày nắng lên tung tăng trong không
gian, ghé cây này, vờn cây kia, trong một thành phố lúc nào cũng cổ
xưa, văng vẳng điệu nhạc của cung đình đã hoang phế. Đã nhiều năm, tôi
chợt nhận ra rằng lũ chuồn chuồn, bươm bướm của tôi đã rời thành phố
này mà đi đâu biệt tăm, chắc là chúng đã đi tìm một không gian yên tĩnh
hơn, ít bị tiếng động làm choáng đầu hơn. Một hôm nhân có việc đi ra
ngoại ô vào ban đêm, tôi gặp những đàn đom đóm mịt mù như một đám bụi
sao bay trôi qua những khu vườn tối thẳm. Tôi lại nhớ ra rằng đã từ
lâu, ở Huế người ta không còn thấy bóng con đom đóm, không còn thấy
bóng những bầy trẻ con đang đuổi theo vầng bụi lửa đom đóm để cố bắt
lấy "hạt ngọc nhà trời". Và chính ra những cánh bướm, cánh chuồn chuồn
thân mến của tôi đã rời bỏ những bụi cây hoang dại ven đường mà đi về
nơi khu vườn địa đàng của chúng, trên những đồi cỏ kia, để lại tôi đứng
một mình làm thằng bé lang thang cơ nhỡ thế này. Ôi! Tôi muốn làm Liệt
Tử cưỡi gió mà đi khắp nơi trên thành phố kinh xưa của tôi, thành phố
nằm phơi mình giữa non xanh nước biếc, toả rộng linh hồn vô ưu thênh
thênh trong hương cỏ.
Mùa xuân
về, mặt đất công viên sáng bừng lên bởi ngàn vạn bông cỏ tím, mỗi bông
cỏ lại ngậm trong lòng một hạt sương mai khiến vào buổi sáng sớm, cỏ ở
ven sông Hương lấp lánh như những hạt ngọc. Những cô sinh nữ từng rủ
nhau ra đấy ngồi chơi trên vạt cỏ; lâu ngày tâm hồn họ trở nên dè chừng
với những cuộc vui trong đời, và dưới mắt họ, những trò quyến rũ đối
với thế nhân tự nhiên nhuốm chút màu ảm đạm của cái mà bà Huyện Thanh
Quan khi xưa gọi là "hý trường".
Mùa xuân,
tự nhiên tôi muốn gác hết mọi việc bận rộn để lên rong chơi chơi trên
những đồi cỏ gần vùng mộ Vua. Ở đó tôi có thể nằm ngửa mặt trên cỏ,
ngước mắt nhìn chùm hoa lê nở trắng muốt trên cao. Tôi đã tìm đến định
sống ở nhiều đô thị Bắc Nam; ở đó có thể tìm thấy mọi cái cần cho cuộc
sống của tôi, chỉ thiếu một cái mà tôi không chịu nổi, là thiên nhiên.
| |
...trước cột cờ khu Văn Lâu |
Mùa hạ,
trong những khu vườn Huế, khí đất xông lên hùng mạnh, cỏ mọc xanh lạ
thường. Trái cây sắp chín nằm chờ trên cành, và khắp đây đó trong vùng
Kim Long, khói đốt cỏ toả ra mịt mùng xanh mờ một vùng ven sông. Trên
một bình phong cổ khuất trong cây lá của một khu sân vắng vẻ còn dấu
chạm lỗ chỗ của một câu đối nói đến những bầy chim nhạn thường về đậu
kêu om sòm trên bãi sông Hương trước mặt nhà. Tôi lớn lên không hề thấy
bóng chim nhạn ven sông này. Chắc cũng giống như lũ côn trùng kia,
chúng đã di trú về một vùng đất nào yên tĩnh hơn. Nhưng liệu có nơi nào
gọi là "yên tĩnh hơn" trên hành tinh này. Hình như càng ngày nó càng
trở nên ồn ào hơn xưa; và đó cũng là lỗi của chúng ta đã tước đoạt
"quyền yên tĩnh" của thế hệ trẻ ngày mai. Mùa thu trời trở gió heo may
lành lạnh làm người ta tự nhiên thấy nhớ nhung một quê hương nào không
biết. Vào mùa này, các văn nhân thường mở hội leo núi, mang theo túi
thơ, bầu rượu lên các đỉnh núi cao mừng tiết "Trùng Cửu". Núi đó có thể
là núi Ngự Bình, núi Kim Phụng hoặc những rừng thông vùng đồi Thiên An,
và văn nhân có thể là Bà Huyện Thanh Quan, Tuy Lý Vương, Hàn Mặc Tử.
Những văn nhân ngồi uống rượu trên đầu núi, nghe tiếng chuông chùa
thánh thót trên thành phố dầm mình trong sương khói, đi thăm núi trở
về, băng qua sườn đồi, vó ngựa còn thơm nồng hương cỏ, gọi lũ bướm bay
theo. Thơ Tuy Lý Vương nói: "Minh triêu sất mã sơn đầu qúa- Ngoạ thính
tùng thanh ức ngã sầu" (1)
Một thứ
hạnh phúc kéo dài trong nhiều năm tháng thật khó có ở đời; hạnh phúc
chỉ tồn tại trong từng khoảnh khắc. Đó là khoảnh khắc mà ta nằm buông
mình trên cỏ, ngửa mặt nhìn từng áng mây chẳng biết bay về đâu. Vâng,
chính đó là những áng mây chẳng biết bay về đâu. Vâng, chính đó là
những áng mây mà người đời Đường đã từng thấy: "Bạch vân vô tận thi" (2)
Phía đông
nam thành phố, bên kia nhánh sông cùng Vân Dương, là một vùng đất bằng
trầm mình trong những khu vườn tre trúc xanh biếc, tên là Vĩ Dạ. Vĩ Dạ
là một khu ngoại ô của những vị hưu quan, những người làm vườn và những
văn nghệ sĩ, được xem như cái nôi của tư tưởng Lão Trang phóng dật của
thành phố Huế.
| |
Thảm cỏ ở hai bờ sông Hương
|
Tuy gọi là
kinh kỳ thơ mộng, nhưng trung tâm Huế thật sự là đất của triều đình vua
Nguyễn. Của những dòng dõi danh gia thế phiệt nối đời làm quan, tư
tưởng chính thống của Huế là tư tưởng Thiền với những ngôi chùa cổ kính
chiếm lĩnh những đỉnh núi cao. Bốn vùng ngoại ô Huế bao gồm vùng Gia
Hội, dành cho thương nhân; khu Kim Long có các phủ đệ của những vị
ngoại thích; khu Nguyệt Biều dành cho những vị đường quan. Vậy chỉ còn
Vĩ Dạ là nơi các văn nhân của mọi thời, những người theo tư tưởng tự do
thích ở. Vĩ Dạ là vùng đất bên bờ phía đông sông Hương, là nơi người ta
lập vườn theo phong cách dân dã trồng hoa cúc, thường mang lên trung
tâm Huế bán để ướp trà, để chơi tết. Nói tóm lại đó là loài hoa có dính
líu ít nhiều đến lối sống Lão Trang. Dọc bờ sông, lau lách mọc um tùm,
thấp thoáng những mái lầu nhỏ người ta dùng để ngồi uống rượu và xướng
hoạ thơ văn, với những dòng chữ ngòng ngoèo trên vách kiểu chữ Phạn, do
loài ốc khi bò để lại sau mỗi cơn lụt, như trong thơ Tuy Lý Vương đã
từng nói về vùng đất ở của mình. Vĩ Dạ phát xuất từ chữ "Vi Dã", mà Ưng
Bình Thúc Giạ quen gọi là Nội Lách. Người bình dân lập vườn theo phong
cách dân gian, những hưu quan chán cảnh cân đai, những nghệ sĩ thích
đời sống phóng khoáng đều tìm về Vĩ Dạ tụ tập thành một khối dân cư
thích tự do mang màu sắc cá nhân. Không nghi ngờ gì nữa chính nơi đây
mà người ta có thể tìm thấy chút hương vị tiêu dao của kinh thành Huế
từ gốc cỏ bay lên, trong những khu vườn xanh biếc. Vĩ Dạ tồn tại ngàn
năm như một nhà ẩn dật giữa chốn kinh kỳ thời nào cũng đầy những phường
danh lợi. Và như một buồng phổi hít thở đầy không khí tự do của một cơ
thể có phần ưa những cách sống thảnh thơi, thú nhàn du trồng cây câu cá.
Chú thích:
1. Sáng mai ruổi ngựa lên đầu núi-nghe thông reo chợt nhớ ta buồn.
2. Bích Hồ dịch: "Phau phau mây trắng ngàn năm vẫn còn".
Hòang Phủ Ngọc Tường
(NetCodo) |