|
Ở Huế, những người yêu nhau không ai dám đi xích lô.
Mỗi người Huế là một vọng gác, làm thế có mà chết. Trừ khi gan cùng
mình. Anh bạn tôi dạng "học trò trong Quảng ra thi" yêu phải nàng tiểu
thư con nhà khuê các, bị gia đình ngăn cấm, xã hội thầm thì. Đợi đến
đêm mưa, anh chị lén thuê xích lô, che diềm kín mít như phòng tân hôn,
rồi cho xe diễu khắp phố phường trước mặt bá quan thiên hạ cho bõ ghét
sự đời.
Riết ráo
rồi cũng lấy được nhau. Gần 40 năm sau, bí mật này tôi mới được anh kể
lại. Hôm ấy, tôi đến ăn cơm nhà anh chị ở Sài Gòn. Anh chị bây giờ đã
có cháu nội cháu ngoại. Tôi nhìn chị nhan sắc hao hụt đi nhiều. Tôi nhớ
hồi ấy chị đẹp và hiền, rất hiền. Không biết sức mạnh nào khiến chị làm
nổi cái việc động trời đó. Ôi mấy cô gái Huế, đoan trang là thế mà ngùn
ngụt bão giông.
 | |
Dưới mưa- Phạm Minh Giảng |
Ngày
trước, hoạ hoặn lắm mấy cô cậu mới thuê xích lô thay nhau đạp. Tưởng
đùa chơi ai dè kỷ niệm nhớ đời. Ngay nay, cảnh ấy là chuyện thường
ngày: Ông Tây ngồi vắt vẻo trên xích lô cắm cúi đạp, khoái tỷ vì bỗng
nhiên được làm chú xích lô bất đắc dĩ, trong lúc chú xích lô chính hiệu
con nai vàng mãi chủm chỉm cười cái sự đời vừa được phục vụ vừa được
trả tiền. Ngược ngạo vậy mà sướng. Hoá ra mọi sự đổi thay đều hấp dẫn.
Hèn chi nhân loại đảo điên. Thi thoảng có ông khách lạ thuê xích lô đạp
lòng vòng, ngơ ngơ ngác ngác chừng như muốn tìm kiếm người quen. Hẳn
lâu rồi anh mới trở về. Mọi vật đổi thay đến thế ư? Tôi thầm mong sao
cho anh gặp lại cố nhân.
Không như
nhiều nơi người ta thuê xích lô đạp trong ngày, ở Huế xích lô là tài
sản riêng, là công cụ kiếm sống của gia đình, cũng như con trâu cái cày
đối với người nông dân. Chiếc xích lô là một thành viên của gia đình,
cũng có lai lịch, có tâm tư, và những cơn đau ê ẩm. Nhiều gia đình nhờ
con cái làm ăn phát đạt, trở nên giàu có, nhà cao cửa rộng, xé pháo
xênh xang, nhưng không nỡ đem bán chiếc xích lô đã cùng cam cộng khổ
thủa nào. Người ta dành cho nó một vị trí đặc biệt trong nhà như để
nhắc nhở mọi người một thời cơ cực mà thấy vị ngọt bát cơm đầy.
Dân xích
lô Huế cần cù, tằn tiện và có trách nhiệm với gia đình. Thời tôi còn
dạy học, xuân thu nhị kỳ hai lần họp phụ huynh, bao giờ cánh xích lô
cũng đi sớm nhất và đầy đủ nhất. Họ tỉ mỉ hỏi han việc học hành của con
cái. Ý hẳn họ khát khao con cái họ không một đời long đong lận đận như
mình. Họ ước mơ cực chi thì cực con cái họ phải học hành, đỗ đạt, thành
bác sỹ kỹ sư. Có nhìn bác xích lô còng lưng đạp dưới trời đêm mưa lạnh
mới hiểu ước mơ ấy nung nấu tâm can họ đến chừng nào.
Dân xích
lô Huế nói ít mà trải đời, ngó vậy mỗi người là một cuốn tự điển sống.
Nhiều du khách sành điệu thuê luôn họ một ngày, đạp loanh quanh đó đây.
Buổi trưa ghé nhà hàng đặc sản cùng ăn. Khéo xử một chút có thể "đọc"
được sơ sơ phần bề nổi lịch sử Huế với đủ những số phận, buồn vui.
Dân xích
lô Huế không chỉ là những người lao động tay chân bình thường mà cả
nhiều vị ăn học đàng hoàng, nói tiếng Tây như gió, trưa du xe vào bóng
cây râm mát nằm đọc Thiền Luận- Suzuki. Những người yêu thơ ở Huế, có
lẽ cả những người yêu thơ trong nước, chắc mấy ai không biết nhà thơ
"Phương xích lô". Tôi vẫn tự hỏi, không biết để làm thi sĩ Phương phải
đạp xích lô hay vì đạp xích lô mà Phương làm thi sĩ. Mỗi người có một
cái nghiệp mà sống là cuộc hành trình cho đến mút mùa định mệnh mới
thôi. Phương mang cây thập giá đời nhẹ tênh, không than không khóc.
Sống bềnh bồng như gió như mây. "Vắng khách đôi khi về chở gió.
Không tiền không bạc vẫn cười vang. Dừng lại bên cầu nghe nước chảy.
Chợt thấy mình giọt nước Hương Giang" (Giọt nước Hương Giang).
Hình như kiếp trước nhiều lần tôi đi xích lô không trả tiền nên kiếp
này Phương đến đòi nợ dài dài. Đầu ngõ nhà tôi có quán rượu "Nhìn trời
quạnh hiu" của vợ chồng Hồ Vĩnh. Đây là trú xứ mỗi chiều của Phương.
Lâu lâu Phương tạt ngang, "Anh Dũng ơi, em thiếu tiền uống rượu, anh
cho em một ngàn". Lần sau cùng, tôi gặp Phương ở Bưu điện, trước tết
Nhâm Ngọ. Phương xởi lởi "anh Dũng ơi, em làm thơ mà không có viết".
Tôi mua cho Phương cây viết và xấp giấy. Phương bảo "Để em làm bài thơ
tặng anh". Đó là bài "Chúc xuân", tôi giữ nó như chút kỷ niệm cuối cùng
về "Phương xích lô". Phương mất một ngày hè năm 2002 bên dòng sông
Thạch Hãn. Hôm Phương mất, tôi ở Tokyo. Thế là tôi không có duyên đưa
Phương một đoạn đường "trở về quê cũ"- "Rong chơi bao độ mỏi mòn.
Trở về quê cũ tôi còn chút tôi. Chút hoa nở cuối mùa vui. Chút trăng
vừa khuyết cuối đồi hoang vu. Chút thông xanh giữa sương mù. Chút tiêu
dao giữa ao tù nhân gian. Chút lửa trên đống tro tàn. Chút trong veo
lọc qua ngàn cuộc say"(Tôi còn chút tôi). Tôi thầm nghĩ, đã trả
xong nợ đời, chắc gì Phương không xin trở lại trần gian này tiếp tục
uống rượu làm thơ và đạp xích lô?
Trong xu
thế toàn cầu hoá, Huế không còn là của riêng ai. Huế là di sản văn hoá
thế giới, là điểm đến của mọi người. Cuộc sống đã thay đổi. Khách hàng
xích lô của họ bây giờ không còn là mấy cô cậu ngày hai buổi đến trường
và quý bà quý cô hội hè chợ búa, mà còn cả bè bạn khắp nơi, cả những
ông tây bà đầm từ năm châu bốn bể. Không biết họ có biết muốn tồn tại
họ phải đổi thay...
Với đà
phát triển hiện nay, nhiều cái cũ sẽ phải mất đi, nhưng với chiếc xích
lô của Huế, hãy coi chừng, đó là thứ đồ cổ có giá. Cũng như chiếc xe
ngựa trên đường phố thành Viên, Paris hay Roma. Nó gợi lại một thời
vang bóng đã qua. Nó là món đồ cổ giữa thành phố cổ nên chi khách du
lịch rất ham. Nên chăng, cùng với các tour truyền thống hiện nay, Huế
cần tổ chức thêm tour xích lô tham quan thành phố? Cái tưởng khó nhưng
không phải khó làm, đó là "nâng cấp" đội ngũ những người đạp xích lô:
cốt cách Huế, biết ngoại ngữ, lịch sử, tao nhã, và tấm lòng rộng mở đón
khách phương xa.
Đến Huế,
tất nhiên phải đi thăm lăng tẩm đến đài, danh lam thắng cảnh. Nhưng sẽ
tiếc nhiều nếu không được nghe ca Huế trên sông Hương và không được đi
xích lô "vi hành" qua mấy ngõ hoa thoảng đâu đây mùi hương trầm từ
những khu vườn ngát xanh mang đầy dấu ấn tâm linh của một thành phố
chùa chiền.
(Netcodo)
|