Con càng quê tôi trông giống loài cua ở miền Bắc
nhưng chân và càng của nó to, dài hơn. Càng làm tổ bên bờ biển và chỉ
bò ra khỏi tổ và những tuần trăng sáng.

Quê
nội tôi ở Quảng Ngãi, một vùng quê nghèo bình dị. Gia đình tôi thoát ly
xa quê nên rất ít lần tôi được về thăm nhà nội. Nhưng trong ký ức tuổi
thơ một lần về thăm quê, tôi không thể quên tiếng sóng rì rào của biển
vượt qua ngọn đồi, vọng vào tận nhà nội. Trên bãi biển, những đứa trẻ
tóc dài cháy nắng, chân trần chạy trên cát bắt những vỏ ốc, vỏ sò…Và
càng không thể quên hương vị của món càng nướng trong những đêm trăng
thanh.
Con càng quê tôi trông giống loài cua ở miền Bắc nhưng chân và càng của
nó to, dài hơn. Càng làm tổ bên bờ biển và chỉ bò ra khỏi tổ và những
tuần trăng sáng. Đó cũng là những “đêm hội” càng nướng. Lũ trẻ chúng
tôi ríu rít bắt càng, ríu rít quây quanh ngọn lửa bập bùng trên bãi
biển, thèm thuồng nhìn những con càng bị xiên ngang bằng những xiên
tre, đang đổi màu trên ngọn lửa. Khi màu càng bắt đầu chuyển vàng ươm
thì cùng dậy mùi thơm ngậy béo. Vì tôi ở xa về thăm quê nên được ưu
tiên thưởng thức con càng nướng đầu tiên vừa chín. Ăn càng nướng phải
chậm rãi, tách lấy phần thịt, chấm với một chút gia vị và nhai kỹ mới
thấm hết được cái hương vị bùi bùi, ngậy ngậy của nó. Trong ánh lửa,
màu gạch càng vàng rực. Ngay từ lần đầu tiên ấy, món càng nướng đã
khiến toi “mê mẩn” và suốt thời gian ở quê đêm nào tôi cũng đòi ra biển
để mong bắt được những con càng vàng óng dù đêm đó trăng có không thanh.
Quê tôi, vùng biển nghèo và lam lũ. Nhưng cái vất vả, lam lũ của một
ngày ra khơi đánh cá dường như tan biến trong những đêm trăng, khi các
bác, các anh ngồi quây quần quanh ngọn lửa bập bùng, vừa chuyện trò,
vừa nhâm nhi càng nướng với rượu. Giờ đây, có lẽ quê nội đã đổi khác
nhiều so với vùng quê trong ký ức tuổi thơ tôi những chắc chắn rằng
trong tôi món càng nướng vẫn còn đậm đà vị quê hương. Hương vị đó vẫn
theo tôi trong nỗi nhớ khôn cùng ước lại được về thăm quê, được tha
thẩn bắt càng trên bãi cát trắng vào những đêm trăng thanh.