Trang chính
Xã hội
Văn hóa
Du lịch
Lịch sử
Kinh tế
Khoa học
Y tế - Giáo dục
Tin học
Môi trường
Dịch vụ
Ẩm thực
Thể thao
Tản văn
Tin mới nhất

Trang chính arrow Văn hóa arrow Điện Lam Kinh - nơi giao thoa văn hóa Việt - Mường
Advertisement
 
Điện Lam Kinh - nơi giao thoa văn hóa Việt - Mường PDF In E-mail
21/11/2005

Năm 1456, trong dịp hành lễ ở Lam Kinh, vua Lê Nhân Tông và các triều thần đã đặt tên cho các điện Lam Kinh: “Chính điện gọi là điện Quang Đức, điện Sùng Hiếu; hậu điện gọi là điện Diên Thánh” và “sai quân phủ Thanh Hóa làm tẩm cung thờ Thái Hoàng Thái phi ở sau điện Lăng Lam Sơn”.

Lãng mộ Lê Lợi

Sau vụ hỏa hoạn vào đầu thời Mạc, mãi đến đời Lê Trung Hưng, Lam Kinh mới được dựng lại. Tuy nhiên, trải qua gần 2 thế kỷ, Lam Kinh cũng dần hoang phế. Trên nền điện cũ hiện còn 138 viên đá (cỡ 84 x 84cm) dùng để kê chân cột, một cây đa thị cổ thụ có niên đại khoảng 300 năm tỏa bóng sum suê, một giếng cổ và hai con rồng đá trước thềm điện...

Mặc dù chỉ còn là phế tích nhưng Lam Kinh hôm nay vẫn tạo cho du khách cảm nhận nơi đây từng tồn tại một công trình kiến trúc hoành tráng độc đáo, những tác phẩm điêu khắc đá tinh xảo với các cung điện như: thành nội, thành ngoại, sân rồng... Đặc biệt là khu mộ cùng những tấm bia ghi lại công trạng của các đời vua và hoàng hậu triều Lê, trong đó bia Vĩnh Lăng (Lê Lợi) được dựng năm 1433 nổi bật với chiều cao 2,97m, rộng 1,94m, dày 0,27m. Đây cũng là tấm bia to nhất nước ta. Chất liệu bia và rùa làm bằng loại đá xanh đen mịn. Dáng rùa khá đồng nhất, điển hình cho giai đoạn nghệ thuật thời Lê Sơ: đầu rùa to mập, ngẩng cao, mõm hơi ngắn, có hai răng, mắt lồi to, chân ngắn, có năm móng và hai đường viền nổi quanh mai. Đến nay bia và mộ của vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Trung Tông và Lê Trang Tông đã bị mất, chỉ còn lại 5 ngôi của Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông và hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao. Kết cấu lăng mộ ở Lam Kinh nhìn chung giống nhau, gồm 3 phần chính: mộ, đường thần đạo chạy chính giữa khu mộ và hai bên thần đạo có tượng quan hầu cùng các con vật bằng đá đứng chầu. Các nhóm tượng này là những tác phẩm chạm khắc tinh xảo mang ý nghĩa linh thiêng, canh gác lăng mộ và hầu hạ linh hồn người đã chết.

Khu điện miếu Lam Kinh được xây theo đồ án hình chữ nhật, dài 314m, rộng 254m trên một sườn đồi thoai thoải. Cạnh phía sau điện cong uốn ra ngoài, bốn bề của điện còn rõ nét vết thành bao bọc. Dấu vết nhiều đoạn thành còn rõ, dày khoảng 1m, cao khoảng 1,2m, chân thành kè đá hộc, phía trong xây gạch vồ. Nghinh môn nằm chính trục về phía nam của khu điện miếu. Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy Nghinh môn thời Lê Sơ có vị trí hơi thụt vào phía trong sân rồng, đến thời Lê Trung Hưng được xây lùi ra phía ngoài để sân được nới rộng. Qua Nghinh môn tới sân rồng, một chiều 55m, một chiều 60m.

Hai bên sân rồng còn nền của nhà tả vu, hữu vu, là nơi để các quan chuẩn bị cho việc hành lễ. Chính điện cao hơn sân rồng 2,2m. Một cửa lớn dẫn từ sân lên điện, dài 3,6m, rộng 4,5m chia 3 lối, ngăn cách bởi 4 lan can bậc, chạm hình rồng và hoa cúc trên các khối đá nguyên (dày 0,4m, dài 4,5m). Chính điện được bao quanh bằng hệ thống thoát nước nổi xây bằng gạch vồ. Sau chính điện, đường trục dẫn thẳng vào lớp kiến trúc thứ ba gần với lăng Lê Lợi, gọi là hậu tẩm. Khu nhà này không kiến trúc theo chiều rộng mà phát triển theo chiều dài tới 135m theo hướng đông - tây với 9 nền nhà, mỗi nền dài 15m, rộng 12,5m, gồm 3 gian. Toàn bộ công trình tạo dựng theo hình cánh cung như ôm lấy chính điện.

Bia Vĩnh Lãng
Dựa vào sự miêu tả của người xưa và qua dấu tích còn lại, các nhà khảo cổ học xác định nền điện nằm trên một sườn đồi. Lớp thứ nhất gồm cổng ngoài, cổng trong và sân điện. Sân điện dài 60m, rộng 55m (3.300m²). Lớp thứ hai là chính điện, gồm 2 tòa nhà ngang, mỗi tòa 9 gian; một tòa nằm dọc, 5 gian. Ba tòa này nằm trên một nền đất dài 48m, rộng 37m (1.776m²). Qua nền nhà chữ “công” là lớp nền kiến trúc thứ ba, gồm 9 gian nhà dài 66m nằm theo hình cánh cung, trước thềm mỗi gian đều có rồng đá (nay chỉ còn lại một con). Trải gần 600 năm dãi dầu mưa nắng, đến nay một vài đầu rồng đá vẫn còn, nét chạm trau chuốt tinh xảo mang đậm dấu ấn nghệ thuật thế kỷ XV. Đối chiếu với chính sử, các nhà khoa học biết chắc chắn đây là Thái miếu triều Lê. Mỗi gian thờ một vị vua và hoàng hậu.

Năm 1964, khu di tích Lam Kinh đã được Nhà nước xếp hạng bảo tồn. Năm 1995, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án bảo tồn tôn tạo. Trong 10 năm qua, các nhà khoa học đã tiến hành tại đây 7 đợt khai quật trên diện tích 3.000m², thu hơn 2.000 hiện vật. Tại nền chính điện, người ta tìm thấy đinh sắt, khóa và ống giã trầu bằng đồng; bát ăn cơm men lam bên ngoài vẽ rồng; chậu gốm hoa nâu thế kỷ XIV - XV, đặc biệt có bát sứ khi đựng nước thành bát nổi hình rồng và các chữ  vương, chữ  quan. Vật liệu xây dựng rất phong phú: đất nung, gạch vồ có chốt, ngói ống các cỡ, gạch trang trí hình lá đề, đặc biệt là viên gạch lát nền cỡ 84 x 45 x 13 cm, nặng 78kg. Gần đây, các nhà khoa học còn tìm được cối đá cỡ lớn tại làng Yên Lâm, huyện Yên Định của nghĩa quân Lam Sơn dùng để chế thuốc súng, trống đồng trên đỉnh núi Dầu, loại trống dùng riêng cho các tù trưởng người Mường...

Nếu Lam Sơn là biểu tượng thần kỳ của mười năm chống giặc Minh thì Lam Kinh là nơi ghi ơn những người có công gìn giữ nền độc lập của nước ta thời ấy. Riêng ở góc độ văn hóa, đến Lam Kinh du khách sẽ hiểu sâu sắc hơn sự giao thoa của văn hóa Việt - Mường còn lại đến ngày nay qua cách thức mộ táng, bia ký, gia phả và tập tục nơi đây.

(TITC) 

 
 


Các tin khác:



Viec lam, Tìm việc làm, Tuyển dụng

 
© Copyright 2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved. Contact us
® Ghi rõ nguồn "MienTrung.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.