|
Năm 1456, trong dịp hành lễ ở Lam Kinh, vua Lê Nhân
Tông và các triều thần đã đặt tên cho các điện Lam Kinh: “Chính điện
gọi là điện Quang Đức, điện Sùng Hiếu; hậu điện gọi là điện Diên Thánh”
và “sai quân phủ Thanh Hóa làm tẩm cung thờ Thái Hoàng Thái phi ở sau
điện Lăng Lam Sơn”.
 | |
Lãng mộ Lê Lợi |
Sau vụ hỏa hoạn vào đầu thời Mạc, mãi đến đời Lê Trung Hưng, Lam Kinh
mới được dựng lại. Tuy nhiên, trải qua gần 2 thế kỷ, Lam Kinh cũng dần
hoang phế. Trên nền điện cũ hiện còn 138 viên đá (cỡ 84 x 84cm) dùng để
kê chân cột, một cây đa thị cổ thụ có niên đại khoảng 300 năm tỏa bóng
sum suê, một giếng cổ và hai con rồng đá trước thềm điện...
Mặc
dù chỉ còn là phế tích nhưng Lam Kinh hôm nay vẫn tạo cho du khách cảm
nhận nơi đây từng tồn tại một công trình kiến trúc hoành tráng độc đáo,
những tác phẩm điêu khắc đá tinh xảo với các cung điện như: thành nội,
thành ngoại, sân rồng... Đặc biệt là khu mộ cùng những tấm bia ghi lại
công trạng của các đời vua và hoàng hậu triều Lê, trong đó bia Vĩnh
Lăng (Lê Lợi) được dựng năm 1433 nổi bật với chiều cao 2,97m, rộng
1,94m, dày 0,27m. Đây cũng là tấm bia to nhất nước ta. Chất liệu bia và
rùa làm bằng loại đá xanh đen mịn. Dáng rùa khá đồng nhất, điển hình
cho giai đoạn nghệ thuật thời Lê Sơ: đầu rùa to mập, ngẩng cao, mõm hơi
ngắn, có hai răng, mắt lồi to, chân ngắn, có năm móng và hai đường viền
nổi quanh mai. Đến nay bia và mộ của vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê
Trung Tông và Lê Trang Tông đã bị mất, chỉ còn lại 5 ngôi của Lê Thái
Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông và hoàng hậu Ngô Thị Ngọc
Dao. Kết cấu lăng mộ ở Lam Kinh nhìn chung giống nhau, gồm 3 phần
chính: mộ, đường thần đạo chạy chính giữa khu mộ và hai bên thần đạo có
tượng quan hầu cùng các con vật bằng đá đứng chầu. Các nhóm tượng này
là những tác phẩm chạm khắc tinh xảo mang ý nghĩa linh thiêng, canh gác
lăng mộ và hầu hạ linh hồn người đã chết.
Khu
điện miếu Lam Kinh được xây theo đồ án hình chữ nhật, dài 314m, rộng
254m trên một sườn đồi thoai thoải. Cạnh phía sau điện cong uốn ra
ngoài, bốn bề của điện còn rõ nét vết thành bao bọc. Dấu vết nhiều đoạn
thành còn rõ, dày khoảng 1m, cao khoảng 1,2m, chân thành kè đá hộc,
phía trong xây gạch vồ. Nghinh môn nằm chính trục về phía nam của khu
điện miếu. Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy Nghinh môn thời Lê Sơ có
vị trí hơi thụt vào phía trong sân rồng, đến thời Lê Trung Hưng được
xây lùi ra phía ngoài để sân được nới rộng. Qua Nghinh môn tới sân
rồng, một chiều 55m, một chiều 60m.
Hai
bên sân rồng còn nền của nhà tả vu, hữu vu, là nơi để các quan chuẩn bị
cho việc hành lễ. Chính điện cao hơn sân rồng 2,2m. Một cửa lớn dẫn từ
sân lên điện, dài 3,6m, rộng 4,5m chia 3 lối, ngăn cách bởi 4 lan can
bậc, chạm hình rồng và hoa cúc trên các khối đá nguyên (dày 0,4m, dài
4,5m). Chính điện được bao quanh bằng hệ thống thoát nước nổi xây bằng
gạch vồ. Sau chính điện, đường trục dẫn thẳng vào lớp kiến trúc thứ ba
gần với lăng Lê Lợi, gọi là hậu tẩm. Khu nhà này không kiến trúc theo
chiều rộng mà phát triển theo chiều dài tới 135m theo hướng đông - tây
với 9 nền nhà, mỗi nền dài 15m, rộng 12,5m, gồm 3 gian. Toàn bộ công
trình tạo dựng theo hình cánh cung như ôm lấy chính điện.
 | | Bia Vĩnh Lãng |
Dựa vào sự miêu tả của người xưa và qua dấu tích còn lại, các nhà khảo
cổ học xác định nền điện nằm trên một sườn đồi. Lớp thứ nhất gồm cổng
ngoài, cổng trong và sân điện. Sân điện dài 60m, rộng 55m (3.300m²).
Lớp thứ hai là chính điện, gồm 2 tòa nhà ngang, mỗi tòa 9 gian; một tòa
nằm dọc, 5 gian. Ba tòa này nằm trên một nền đất dài 48m, rộng 37m
(1.776m²). Qua nền nhà chữ “công” là lớp nền kiến trúc thứ ba, gồm 9
gian nhà dài 66m nằm theo hình cánh cung, trước thềm mỗi gian đều có
rồng đá (nay chỉ còn lại một con). Trải gần 600 năm dãi dầu mưa nắng,
đến nay một vài đầu rồng đá vẫn còn, nét chạm trau chuốt tinh xảo mang
đậm dấu ấn nghệ thuật thế kỷ XV. Đối chiếu với chính sử, các nhà khoa
học biết chắc chắn đây là Thái miếu triều Lê. Mỗi gian thờ một vị vua
và hoàng hậu.
Năm
1964, khu di tích Lam Kinh đã được Nhà nước xếp hạng bảo tồn. Năm 1995,
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án bảo tồn tôn tạo. Trong 10 năm
qua, các nhà khoa học đã tiến hành tại đây 7 đợt khai quật trên diện
tích 3.000m², thu hơn 2.000 hiện vật. Tại nền chính điện, người ta tìm
thấy đinh sắt, khóa và ống giã trầu bằng đồng; bát ăn cơm men lam bên
ngoài vẽ rồng; chậu gốm hoa nâu thế kỷ XIV - XV, đặc biệt có bát sứ khi
đựng nước thành bát nổi hình rồng và các chữ vương, chữ quan. Vật
liệu xây dựng rất phong phú: đất nung, gạch vồ có chốt, ngói ống các
cỡ, gạch trang trí hình lá đề, đặc biệt là viên gạch lát nền cỡ 84 x 45
x 13 cm, nặng 78kg. Gần đây, các nhà khoa học còn tìm được cối đá cỡ
lớn tại làng Yên Lâm, huyện Yên Định của nghĩa quân Lam Sơn dùng để chế
thuốc súng, trống đồng trên đỉnh núi Dầu, loại trống dùng riêng cho các
tù trưởng người Mường...
Nếu
Lam Sơn là biểu tượng thần kỳ của mười năm chống giặc Minh thì Lam Kinh
là nơi ghi ơn những người có công gìn giữ nền độc lập của nước ta thời
ấy. Riêng ở góc độ văn hóa, đến Lam Kinh du khách sẽ hiểu sâu sắc hơn
sự giao thoa của văn hóa Việt - Mường còn lại đến ngày nay qua cách
thức mộ táng, bia ký, gia phả và tập tục nơi đây.
(TITC) |