|
"Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi"
Câu ca dao từ lâu đã trở nên quen thuộc của người
dân Bình Định. Quen thuộc không phải ở nội dung tâm sự của người con
gái muốn về làm dâu xứ "nẫu" mà quen thuộc bởi chiếc bánh ít lá gai-
một đặc trưng của xứ dừa Bình Định.
Vâng!
Không chỉ đặc trưng từ hương vị ngọt bùi thơm dẻo kết tinh từ lao động
và sáng tạo của người nông dân; không chỉ đặc trưng từ hình dáng tựa
những ngôi tháp Chàm cổ kính rêu phong, từ sắc màu đen lục của lá gai
và nếp dẻo, mà còn đặc trưng bởi cái tên gọi mang đầy chất huyền thoại.
Đã có nhiều cách lý giải cho tên gọi "bánh ít".
Theo
sự tích xưa, thì sau khi chàng Lang Liêu - con trai của vua Hùng thứ
sáu - đã thắng cuộc trong hội thi làm các món ăn để cúng Trời Đất, tổ
tiên trong ngày Tết đầu năm mới với hai thứ bánh ngon lành và đầy ý
nghĩa là bánh chưng và bánh dày, một nàng con gái út của vua thường
được mọi người gọi trìu mến là nàng Út ít, vốn rất giỏi giang, khéo léo
trong công việc bếp núc, đã nhân dịp đó trổ tài, sáng tạo thêm ra những
món bánh mới. Nàng Út muốn có một thứ bánh mới vừa mang hương vị bánh
dày, vừa mang hương vị bánh chưng của anh mình. Nàng liền lấy chiếc
bánh dày bọc lấy nhân của chiếc bánh chưng. Thứ bánh mới này quả đã đạt
được yêu cầu tuy hai mà một của nàng Út.
Có
thứ bánh mới, nàng Út lại suy nghĩ rồi quyết định phỏng theo hình dáng
của bánh dày và bánh chưng để làm thành hai dáng bánh khác nhau, một
thứ dáng tròn không gói lá, giống hệt như bánh dày, một thứ dùng lá gói
kín thành dáng vuông giống hệt như bánh chưng để đạt được ý nghĩa "tuy
hai mà một". Nhưng cả hai thứ bánh đó đều làm nho nhỏ xinh xinh để tỏ ý
khiêm nhường với thứ bậc út ít của mình trước các anh chị.
Sau
hội thi, ngoài bánh dày, bánh chưng được coi như những thứ bánh thiêng
liêng ra, những cặp bánh mang ý nghĩa "tuy một mà hai, tuy hai mà một"
của nàng Út cũng được mọi người khen ngợi không ngớt. Sau này, những
thứ bánh ấy được lưu truyền trong dân gian, mọi người làm theo và cứ
gọi bánh này là bánh Út Ít để phân biệt với bánh chàng Lang Liêu, tức
là bánh dày và bánh chưng.
Trải
qua nhiều thời đại, bánh nàng Út Ít đã được cải tiến trở thành nhiều
hình vẻ hơn và tên bánh được gọi vắn tắt là bánh "út ít", rồi thành
bánh "ít" như ngày nay.
Cũng
có người giải thích rằng, loại bánh này nhiều hình nhiều vẻ. Thứ gói
lá, thứ để trần, nặn cao, nặn dẹt, thứ trắng, xanh, đen, thứ nhân dừa,
nhân đậu... nên khi làm bánh, dù là để ăn hay để bán, người ta cũng
thường làm mỗi thứ một ít cho có thứ nọ, thứ kia, đủ vẻ, đủ hình, do đó
mà thành bánh ít.
Có câu ca dao:
Bánh thật nhiều, sao kêu bánh ít
Trầu có đầy sao gọi trầu không?
cũng bắt nguồn từ sự tích như vậy.
Đó
là cách lý giải của người Việt xưa, còn người Bình Định thì lại lý giải
bằng cách liên hệ giữa hình dáng bánh ít với tháp Chàm ở Bình Định. Hầu
hết các tháp Chàm ở Bình Định đều đứng trên đồi cao, tạo một đỉnh nhọn
ở giữa như chiếc bánh ít. Và thực tế, tại Bình Định cũng có hẳn một
ngôi tháp mang tên Bánh Ít đi vào ca dao:
Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di
Vật vô tri cũng thế huống chi tui với bà.
Cách
lý giải thứ hai là dựa vào tục lễ hồi dâu của các cặp vợ chồng mới
cưới. Ở Bình Định, mỗi khi về hồi dâu sau ba ngày cưới, cô gái nào cũng
chuẩn bị một quả đựng bánh ít do tự tay mình làm, mang về cúng gia tiên
và biếu cha mẹ ruột, làm quà để tỏ lòng hiếu thảo. Món quà tuy "ít",
nhưng là "của ít lòng nhiều", ở đó nó còn có cả những giọt mồ hôi, sự
nhẫn nại kiên trì , đôi bàn tay khéo léo, và đặc biệt là tấm lòng hiếu
để của cô gái xa cha mẹ về làm dâu xứ người. Dù chỉ trong ba ngày cưới,
bận rộn với bao nhiêu niềm hạnh phúc, lo toan, song người con gái vẫn
không quên cha mẹ mình, vẫn dành thì giờ để làm những chiếc bánh "ít"
thơm thảo chờ ngày hồi dâu mang về làm quà cho cha mẹ. Nghĩa cử ấy thật
không có gì bằng !
Có
lẽ chính vì thế mà nghề làm bánh ít ngày nay vẫn được lưu truyền khá
nhiều ở nông thôn Bình Định. Nó không chỉ đơn thuần mang lại những
khoản thu nhập nho nhỏ cho người dân mà còn có ý nghĩa to lớn trong
việc gìn giữ giá trị truyền thống, giá trị giáo dục lòng yêu thương,
tôn kính cha mẹ và rèn luyện tính kiên trì khéo léo cho con cái.
Thực
vậy, để làm được chiếc bánh ít, người ta phải trải qua nhiều công đoạn,
dụng khá nhiều công sức, sự dẻo dai, bền bỉ và khéo léo. Đầu tiên là
phải chọn nếp để xay (nếp dùng làm bánh ít phải là nếp mới, thơm, độ
dẻo vừa) rồi vo kỹ, ngâm với nước vài giờ, sau đó mới xay nhuyễn. Nếu
xay bằng cối xay thủ công thì phải đăng cho ráo nước để được một khối
bột dẻo.
Để
có màu xanh đen và hương vị thơm chát cho bánh, người ta hái lá gai non
(cây lá gai thường mọc sẵn ở các hàng rào quanh nhà), rửa sạch rồi luộc
chín, vắt khô, sau đó trộn với bột dẻo rồi giã. Đây là công đoạn dụng
khá nhiều sức. Vì nếu giã chưa nhuyễn, bánh ăn lợn cợn, tạo cảm giác
không ngon.
Tiếp
đến là công đoạn làm nhân - "nhưng" bánh. "Nhưng" bánh ít lá gai bao
gồm đậu xanh, đường, dừa, có chút quế và bột va-ni cho thơm. Đậu xanh
đem xay bửa đôi rồi ngâm và đãi cho sạch vỏ trước khi luộc chín. Cùi
dừa được bào ra thành sợi, bỏ vào chảo gang xào chung với đường một lúc
cho đến độ chín tới mới trộn tiếp đậu xanh. Xào "nhưng" trên bếp lửa
liu riu cho đến khi nào đường chín tới, "nhưng" có màu vàng sẫm, dẻo
quánh, mùi thơm bốc lên ngào ngạt là vừa.
Làm
bánh ít không khó, nhưng đòi hỏi phải khéo léo. Sau khi đã xào "nhưng"
xong, ngắt một miếng bột nếp, tẻ thành bánh mỏng hình tròn trên lòng
bàn tay, rồi vốc một nhúm "nhưng" bỏ vào giữa, túm bốn bên lại cho khít
mối, sau đó vo tròn trong lòng bàn tay. Lúc này bột nếp đã bọc toàn bộ
"nhưng" bánh thành một khối tròn. Để cho bánh khỏi dính, người ta chấm
một chút dầu phụng, xoa đều trên tấm lá chuối xanh, sau đó bọc bánh lại
theo hình tháp rồi mang đi hấp. Có nơi, người ta hấp bánh trần, bánh
chín mới gói để giữ màu xanh của lá chuối. Khi ăn chỉ cần bóc nhẹ lớp
lá chuối xanh là hiện ra lớp da bánh ít màu đen bóng, đầy vẻ quyến rũ,
huyền bí.
Ngoài
bánh ít lá gai, có một số nơi làm bánh ít thường bằng bột nếp, màu
trắng, có "nhưng" đậu xanh, "nhưng" dừa đường hoặc "nhưng" tôm, thịt;
có loại gói lá chuối, có loại để trần; cũng có loại làm bằng bột khoai
mì, bột củ dong... và đều làm chín bằng phương pháp hấp như trên.
Ngày
nay, dù có nhiều loại bánh hiện đại, rẻ, ngon và hấp dẫn hơn nhiều,
song người Bình Định vẫn không bỏ nghề làm bánh ít lá gai. Nếu không
làm để bán được thì cũng làm để cúng giỗ và làm quà cho lễ hồi dâu. Họ
truyền nghề này cho thế hệ con cái, nhất là con gái, như một thứ bảo
bối gia truyền.
Ở
hầu hết các làng quê Bình Định, đám giỗ nào cũng có bánh ít lá gai (còn
trong lễ Tết thì không có bánh ít mà thay bằng bánh tét). Bánh cúng
xong được dọn lên mâm cỗ làm món quà tráng miệng và gói từng gói nhỏ
làm quà biếu cho người ở nhà. Đây cũng là nét khác biệt trong văn hóa
ẩm thực và văn hóa ứng xử của người Bình Định.
(Baobinhdinh) |