 |
| Lễ trao đổi thư phê chuẩn Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ ngày 30/6. |
Hôm qua, hai nước chính thức trao đổi thư phê chuẩn Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ để Hiệp định bắt đầu có hiệu lực. Nhân sự kiện này, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên đã trao đổi với báo giới về quá trình đàm phán, nội dung chính và ý nghĩa của Hiệp định.
- Xin Bộ trưởng cho biết một số nét về vị trí, đặc điểm và tầm quan trọng của Vịnh Bắc Bộ.
- Vịnh Bắc Bộ là một trong những vịnh lớn của thế giới, có diện tích khoảng 126.250 km2 (36.000 hải lý vuông), chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km (176 hải lý), nơi hẹp nhất ở cửa Vịnh rộng khoảng 207,4 km (112 hải lý).
Bờ Vịnh Bắc Bộ thuộc 10 tỉnh, thành phố của Việt Nam với tổng
chiều dài 763 km và bờ biển thuộc 2 tỉnh Quảng Tây, Hải Nam của Trung Quốc với
tổng chiều dài 695 km. Vịnh có hai cửa: eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi
Châu và đảo Hải Nam với bề rộng 35,2 km (19 hải lý) và cửa chính của vịnh từ đảo
Cồn Cỏ (Việt Nam) tới đảo Hải Nam (Trung Quốc) rộng 207,4 km (112 hải lý).
Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo, đá ven bờ, đặc biệt
có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam
Trung Quốc khoảng 130 km. Phía Trung Quốc có một số ít đảo nhỏ ở phía Đông Bắc
vịnh như đảo Vị Châu, Tà Dương.
Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và
Trung Quốc cả về kinh tế lẫn quốc phòng, an ninh. Đây là nơi chứa đựng nhiều tài
nguyên thiên nhiên, đặc biệt là hải sản và dầu khí. Trong vịnh có nhiều ngư
trường lớn, cung cấp nguồn hải sản quan trọng cho đời sống nhân dân hai nước.
Các dự báo cho thấy đáy biển và lòng đất dưới đáy của vịnh có tiềm năng về dầu
mỏ và khí đốt. Vịnh là cửa ngõ giao lưu từ lâu đời của Việt Nam ra thế giới, có
tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, thương mại quốc tế
cũng như quốc phòng an ninh của nước ta. Đối với khu vực phía Nam Trung Quốc,
vịnh cũng có vị trí quan trọng. Vì vậy, cả hai nước đều rất coi trọng việc quản
lý, sử dụng và khai thác vịnh.
- Vì sao Việt Nam - Trung Quốc lại
phải tiến hành đàm phán và ký Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ?
- Từ
trước tới nay, Việt Nam và Trung Quốc chưa tiến hành phân định vịnh Bắc Bộ. Điều
này xuất phát từ thực tế khách quan là từ những năm 50 của thế kỷ XX trở về
trước, luật biển quốc tế chưa phát triển, các quốc gia ven biển thời kỳ đó chỉ
có chủ quyền đối với lãnh hải rộng 3 hải lý và toàn bộ vùng biển nằm ngoài phạm
vi lãnh hải được coi là biển quốc tế, không thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia
nào. Trong bối cảnh đó, Công ước Pháp - Thanh năm 1887 chỉ tập trung giải quyết
vấn đề hoạch định biên giới trên đất liền giữa hai nước và chủ quyền của mỗi
nước đối với các đảo ở khu vực cửa sông Bắc Luân trong vịnh Bắc Bộ.
Vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ, mà cụ thể là phân định lãnh hải,
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh giữa Việt Nam và Trung Quốc,
chỉ được đặt ra sau khi có sự phát triển tiến bộ của luật biển quốc tế từ giữa
những năm 50 của thế kỷ trước trở lại đây. Theo quy định của luật biển quốc tế
hiện đại, quốc gia ven biển được hưởng lãnh hải rộng tối đa 12 hải lý, vùng đặc
quyền kinh tế rộng 200 hải lý và thềm lục địa rộng tối đa 350 hải lý tính từ
đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách không quá 100 hải
lý. Do bờ biển hai nước vừa kế cận vừa đối diện nhau, nơi rộng nhất không đến
200 hải lý, nên các vùng biển và thềm lục địa của hai nước trong vịnh đều bị
chồng lấn lên nhau, cần được phân định để xác định rõ ràng biên giới lãnh hải
cũng như ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước.
Thực tế cho thấy, trước đây do chưa có đường biên giới và ranh
giới biển rõ ràng trong vịnh Bắc Bộ nên giữa hai nước thường xảy ra các vụ việc
tranh chấp phức tạp về đánh bắt hải sản và thăm dò khai thác dầu khí, gây bất ổn
định và ảnh hưởng không tốt đến quan hệ hai nước, hạn chế việc khai thác bền
vững và hiệu quả tiềm năng của vịnh.
Do vậy, việc Việt Nam và Trung Quốc tiến hành đàm phán giải
quyết vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ để xác định rõ ràng đường biên giới lãnh hải,
ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là nhu cầu tất yếu đối với công
cuộc xây dựng và phát triển mỗi nước cũng như để góp phần vào việc tăng cường
mối quan hệ láng giềng, hữu nghị giữa hai nước. Chỉ khi có một đường ranh giới
biển rõ ràng trong Vịnh, được hai nước chấp nhận và phù hợp với luật pháp quốc
tế, hai nước mới có đầy đủ căn cứ pháp lý để tiến hành việc quản lý, sử dụng,
khai thác, phát triển và bảo tồn các tài nguyên biển của mình trong vịnh Bắc
Bộ.
- Đàm phán giữa các quốc gia về biên giới lãnh thổ nói chung và
phân định biển nói riêng luôn là một vấn đề hết sức phức tạp, thường phải trải
qua một thời gian rất dài mới có thể đạt được kết quả. Xin Bộ trưởng giới thiệu
tóm tắt quá trình đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung
Quốc.
- Phân định biên giới, ranh giới các vùng biển là một
vấn đề hết sức quan trọng và phức tạp vì liên quan đến chủ quyền, quyền chủ
quyền và quyền tài phán cũng như lợi ích quốc gia trên biển. Do vậy nhiều cuộc
đàm phán có thể kéo dài hàng chục năm, thậm chí qua nhiều thế hệ. Có thể lấy ví
dụ trường hợp phân định thềm lục địa giữa ta và Indonesia: hai nước bắt đầu đàm
phán từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước, nhưng chỉ đến năm 2003 mới giải quyết
xong.
Đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ giữa hai nước Việt Nam và Trung
Quốc kéo dài 27 năm với 3 cuộc đàm phán chính trong các năm 1974, 1977-1978 và
1992-2000. Các cuộc đàm phán cấp Chính phủ năm 1974 (8/1974-11/1974) và năm
1977-1978 (10/1977-6/1978) không đi đến kết quả vì lập trường hai bên cách xa
nhau. Năm 1991, sau khi bình thường hóa quan hệ, Việt Nam và Trung Quốc đã quyết
định thương lượng để giải quyết các vấn đề về biên giới và lãnh thổ, trong đó có
vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ. Trong 9 năm, từ năm 1992 đến năm 2000, hai bên đã
tiến hành 7 vòng đàm phán cấp Chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm
phán cấp Chính phủ, 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên và nhiều vòng họp khác của
Tổ chuyên viên liên hợp, Tổ chuyên gia đo vẽ, xây dựng Tổng đồ vịnh Bắc Bộ (tổng
cộng 49 vòng họp, trung bình mỗi năm có hơn 5 vòng họp).
Ngày 25/12/2000, tại Bắc Kinh, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam và
Trung Quốc đã ký Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ, kết thúc cuộc đàm phán kéo dài
9 năm giữa hai nước.
- Đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ được tiến hành
theo các nguyên tắc và cơ sở pháp lý nào, thưa Bộ trưởng?
- Trong
quá trình đàm phán, hai bên đã thống nhất và căn cứ vào luật pháp và thực tiễn
quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc và quy định của Công ước của LHQ về Luật
biển năm 1982 mà cả hai nước đều là thành viên để giải quyết vấn đề phân định
Vịnh Bắc Bộ.
Luật pháp quốc tế nói chung và Công ước của Liên Hợp Quốc về
Luật biển năm 1982 nói riêng không quy định một phương pháp bắt buộc áp dụng
chung cho việc phân định các vùng biển giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền
hoặc đối diện nhau.
Đối với lãnh hải, Công ước Luật biển năm 1982 (Điều 15) quy định
các quốc gia không có quyền mở rộng lãnh hải quá đường trung tuyến mà mọi điểm
nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ sở dùng để tính chiều
rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có thoả thuận ngược lại. Tuy nhiên, nếu
có những danh nghĩa lịch sử hoặc các hoàn cảnh đặc biệt khác, ranh giới lãnh hải
của hai quốc gia cần phân định một cách khác trên cơ sở thoả thuận.
Đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Công ước Luật
biển năm 1982 (Điều 74 và 83) quy định các quốc gia tiến hành việc phân định
bằng con đường thoả thuận theo đúng luật pháp quốc tế để đi tới một giải pháp
công bằng. Nếu không thoả thuận được thì sử dụng các thủ tục giải quyết tranh
chấp quy định trong Công ước (thông qua Toà án quốc tế về Luật biển thành lập
theo Công ước, Tòa án quốc tế, Tòa trọng tài hoặc Tòa trọng tài đặc biệt).
Căn cứ vào các quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về luật
biển 1982 và thực tiễn quốc tế, ta và Trung Quốc đã thỏa thuận thông qua đàm
phán để phân định vịnh Bắc Bộ, với nguyên tắc giải quyết là “áp dụng Luật biển
quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế, để tiến hành đàm phán phân định vịnh Bắc
Bộ” và “theo nguyên tắc công bằng, có tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong vịnh
để đi đến một giải pháp công bằng”.
- Xin Bộ trưởng cho biết nội
dung chính của Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và đánh giá về kết quả đàm phán
phân định vịnh Bắc Bộ?
- Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ là hiệp định phân định biển
thứ 2 trong 3 hiệp định mà nước ta đã ký với các nước láng giềng (Thái Lan 1997,
Indonesia 2003) nhưng là hiệp định mang tính chất tổng thể đầu tiên ta ký với
nước láng giềng, phân định rõ ràng đường biên giới lãnh hải, ranh giới chung cho
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh.
Hai bên thống nhất một đường phân định với 21 điểm kéo dài từ cửa sông Bắc Luân
ra đến Cửa vịnh phía Nam, trong đó từ điểm 1 đến điểm 9 là biên giới lãnh hải,
từ điểm 9 đến điểm 21 là ranh giới chung cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa.
Theo Hiệp định, Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích vịnh và
Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích vịnh. Đường phân định đi cách đảo Bạch
Long Vĩ 15 hải lý, tức đảo được hưởng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa 3 hải lý (25% hiệu lực). Đảo Bạch Long Vĩ là một đảo nhỏ
của Việt Nam (diện tích khoảng 2,5 km2) lại nằm gần như ở giữa vịnh Bắc Bộ (cách
bờ biển Việt Nam khoảng 110 km, cách bờ đảo Hải Nam - Trung Quốc khoảng 130 km),
tạo ra một hoàn cảnh đặc biệt nên theo luật pháp và thực tiễn quốc tế chỉ được
hưởng một phần hiệu lực hạn chế trong phân định. Đảo Cồn Cỏ cũng là một đảo nhỏ
nhưng nằm gần bờ của Việt Nam hơn (cách bờ khoảng 13 hải lý) nên được hưởng 50%
hiệu lực trong việc phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tại đường
đóng cửa vịnh. Đây là một kết quả công bằng đạt được trên cơ sở luật pháp và
điều kiện cụ thể của vịnh (bờ biển của ta dài hơn của Trung Quốc, ta có nhiều
đảo trong vịnh, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm gần chính giữa vịnh…).
Trong Hiệp định, hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ
quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ. Theo đó, mỗi bên tự chủ tiến hành việc thăm dò,
khai thác một cách độc lập các tài nguyên khoáng sản trong phạm vi thềm lục địa
của mình. Đối với những cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên đơn nhất hoặc mỏ khoáng sản
khác nằm vắt ngang đường phân định, hai bên thông qua hiệp thương hữu nghị để
đạt được thoả thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất cũng như việc phân chia công
bằng lợi ích thu được từ việc khai thác. Ngoài ra, Hiệp định cũng quy định về
việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật trong vịnh Bắc Bộ
cũng như hợp tác có liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh
vật ở vùng đặc quyền kinh tế hai nước.
- Tại sao cùng với Hiệp định
phân định vịnh Bắc Bộ, Việt Nam và Trung Quốc lại còn ký Hiệp định về hợp tác
nghề cá ở vịnh Bắc Bộ?
- Hợp tác nghề cá là một trong những nội dung được đề cập đến
trong quá trình đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ vì có liên quan đến chế độ pháp
lý của vùng đặc quyền kinh tế. Từ trước đến nay ngư dân Việt Nam và Trung Quốc
đều cùng đánh bắt hải sản ở vùng biển nằm ngoài lãnh hải hai nước. Trong những
năm 50 và 60 của thế kỷ trước, Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết các thỏa thuận
về hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ. Theo các thoả thuận này, tàu thuyền đánh
cá của hai bên không được vào đánh cá trong vùng biển rộng 3 hải lý (Hiệp định
đánh cá thuyền buồm năm 1957), 6 hải lý (Nghị định thư năm 1961 bổ sung Hiệp
định đánh cá thuyền buồm năm 1957) và cuối cùng là 12 hải lý (Hiệp định hợp tác
đánh cá ở vịnh Bắc Bộ năm 1963) nằm dọc theo bờ biển và hải đảo của mỗi nước.
Vùng biển còn lại ngoài các phạm vi nêu trên hai bên được tự do đánh cá. Vào
thời kỳ đó, luật biển quốc tế cũng quy định như vậy. Các thoả thuận này sau đó
đã hết hiệu lực vào những năm 70, khi mà Liên Hợp Quốc bắt đầu bàn về việc xây
dựng Công ước Luật biển mới, hình thành vùng đặc quyền kinh tế. Thực tiễn quốc
tế cũng có nhiều quốc gia ký kết hợp tác nghề cá trong vùng biển liên quan giữa
hai nước.
Sau khi cân nhắc kỹ các quy định của Công ước 1982 về hợp tác
giữa các quốc gia liên quan trong vùng đặc quyền kinh tế và các vùng biển kín và
nửa kín, quá trình sử dụng và khai thác vịnh Bắc Bộ, điều kiện tự nhiên của
nguồn lợi hải sản, để giải quyết thoả đáng quyền lợi của ngư dân hai bên trong
vịnh Bắc Bộ, ta và bạn đã đồng ý đàm phán để ký Hiệp định về hợp tác nghề cá
song song với đàm phán ký Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ.
Ngày 25/12/2000, Hiệp định về hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ đã
được ký cùng với Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, khác với Hiệp định
phân định, Hiệp định hợp tác nghề cá có thời hạn hiệu lực cụ thể (12 năm và 3
năm mặc nhiên gia hạn) và giá trị pháp lý ở mức cấp chính phủ phê duyệt.
(Theo TTXVN) |