|
Từ đấy, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui
tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long,
kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam- đông bắc, phía đó,
nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần
trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành tráng non.
Giáp
mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một nhánh cung rất nhẹ
sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một
tiếng "vâng" không nói ra của tình yêu. Và như vậy, giống như sông Xen
của Paris, sông Ðanuýp của Buđapet; sông Hương nằm ngay giữa lòng thành
phố yêu quý của mình; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị
cổ, trải dọc hai bờ sông. Ðầu và cuối ngỏ thành phố, những nhánh sông
đào mang nước sông Hương toả đi khắp phố phường với những cây đa, cây
dừa cổ thụ toả vầng lá u sầm xuống xóm thuyền xúm xít; từ những nơi ấy,
vẫn lập loè trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn
mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được.
Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn
lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi đi qua thành phố đã
trôi đi chậm, thật chậm, cơ hồ chỉ cònlà một mặt hồ yên tĩnh. Tôi đã
đến Leningrad, có lúc đứng nhìn sông Nêva cuốn trôi những đám băng lô
xô nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng của mặt trời mùa xuân; mỗi phiến
băng chở một con hải âu nghịch ngợm đứng co lên một chân, thích thú với
chiếc thuyền xinh đẹp của chúng; và đoàn tàu tốc hành lạ lùng ấy với
những hành khách tí hon của nó băng băng lướt qua trước cung điện
Petecburg cũ để ra bể Bantich. Tôi vừa từ trong khói lửa miền Nam đến
đây, lâu năm xa Huế, và chính Leningrad đã đánh thức trong tâm hồn tôi
giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại; ôi tôi muốn hoá làm một con chim nhỏ
đứng co một chân trên con tàu thuỷ tinh để đi ra biển. Tôi cuống quít
vẫy tay, nhưng sông Nêva đã chảy nhanh quá, không kịp cho lũ hải âu nói
một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo. Hai nghìn
năm trước, có một người Hy Lạp tên là Hêracơlit, đã khóc suốt đời vì
những dòng sông trôi đi qua nhanh, thế vậy! Lúc ấy, tôi nhớ lại con
sông Hương của tôi; chợt thấy quí điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang
qua thành phố... Ðấy là điệu Slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể
cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào
những đêm hội rằm tháng bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập
ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương
của một nỗi lòng.
Hình
như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở
thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Ðã nhiều lần tôi thất
vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả
đúng như vậỵ, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên
mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng
nước rơi bán âm của những mái chèo khuya. Nguyễn Du đã bao năm lênh
đênh trên quãng sông này, với một phiến trăng sầu và từ đó những bản
đàn đã đi suốt đời Kiều. Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già,
chơi đàn hết nửa thế kỷ, một buổi tối ngồi nghe con gái đọc Kiều, "trong như tiếng hạc bay qua- đục như tiếng suối mới sa nửa vời"... Ðến câu ấy, người nghệ nhân chợt nhổm dậy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thốt lên: "Ðó chính là Tứ Ðại Cảnh!".
 | |
Cồn hến- một địa danh nổi tiếng ở Huế |
Rời
khỏi Kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo Cồn
Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu
luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng
ngoại ô Vỹ Dạ. Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột
ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông- tây để gặp lại thành phố lần
cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Ðối với Huế, nơi đây chính là chỗ
chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn
đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực
bất ngờ biết bao. Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống con
người ở đây; và để nhân cách hoá nó lên, tôi gọi đấy là nỗi vương vấn,
cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Và giống như nàng Kiều
trong đêm tình tự, ở ngã rẽ sông này, sông Hương đã chí tình trở lại
tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả: "Còn non- còn nước- còn dài- còn về- còn nhớ...."
Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian;
ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê
hương xứ sở.
"Dòng
sông và những đầm phá của nó, những dòng kênh uốn lượn qua thành phố
cùng với tư thái của những ngôi nhà nằm giữa những khu vườn xanh tươi,
tất cả mang lại cho Huế một vẻ trong sáng đầy thư thái, dành riêng cho
cảm hứng nghệ thuật và tri thức. Huế đã là và vẫn còn là một trung tâm
của nền văn hoá Việt Nam... Vẻ đẹp của Huế và lịch sử mà nó làm chứng,
đã ban cho thành phố Huế mang một sức hấp dẫn về văn hoá và du lịch có
tầm quốc gia và quốc tế".
 | |
Làn sương huyền ảo trên sông Hương |
Không phải là một đoạn văn, đây là một văn kiện chính xác của Liên Hiệp Quốc, do Ban thư ký của UNESCO soạn, đăng trên tạp chí "Di sản văn hoá",
số mới đây. Tuy nhiên, tôi đã đọc nó với sự rung động thẩm mỹ của tâm
hồn: qua đây, tôi thấy hiện bóng khuôn mặt tươi trẻ và quyến rũ của
dòng sông thành phố giữa lòng thế giới hiện đại. Người ta đã nhìn khắp
trái đất, và đã không quên được nó, dòng sông Việt Nam nhỏ nhắn chỉ dài
gần một trăm ki-lô-mét từ nguồn đến biển....
Hiển
nhiên là sông Hương đã sống những thế kỷ quang vinh với nhiệm vụ lịch
sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất
nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là
Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới
phía nam của tổ quốc Ðại Việt qua những thế kỷ trung đại. Thế kỷ XVIII,
nó vẻ vang soi bóng Kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ;
nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ XIX với máu của những cuộc khởi
nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng
những chiến công rung chuyển.
Sông
Hương là vậy, dòng sông của thời gian ngân vang, của sử viết giữa màu
cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự biến đời mình làm
một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một
người con gái dịu dàng của đất nước. Thỉnh thoảng, tôi vẫn còn gặp
trong những ngày nàng đem áo ra phơi, một sắc áo cưới của Huế ngày xưa,
rất xưa: màu áo lục điều với loại vải vân thưa màu xanh tràm lồng lên
một màu đỏ ở bên trong, tạo thành một màu tím ẩn hiện, thấp thoáng theo
bóng người, thuở ấy các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng. Ðấy
cũng chính là màu của sương khói trên sông Hương, giống như tấm voan
huyền ảo của tự nhiên, sau đó ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông....
| |
Sông Hương |
Có
một dòng thi ca về sông Hương, và tôi hy vọng đã nhận xét một cách công
bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình
trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng
về nó: từ xanh biếc thường ngày, nó bỗng thay màu thực bất ngờ, "dòng sông trắng- lá cây xanh" trong cái nhìn tinh tế của Tản Ðà, từ tha thiết mơ màng nó chợt nhiên hùng tráng lên "như kiếm dựng trời xanh"
trong khí phách của Cao Bá Quát; từ nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều
bãng lãng trong hồn thơ bà Huyện Thanh Quan, nó đột khởi thành sức mạnh
phục sinh của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu. Và ở đây, một lần nữa, sông
Hương quả thực là Kiều rất Kiều, trong cái nhìn thắm thiết tình người của tác giả "Từ ấy".
Có
một nhà thơ từ Hà Nội đã đến đây, tóc bạc trắng, lặng ngắm dòng sông,
ném mẫu thuốc lá xuống chân cầu, hỏi với trời, với đất, một câu thật
bâng khuâng: - Ai đã đặt tên cho dòng sông?......
(NetCodo)
|