|
Huế, kinh đô xưa, nơi lưu giữ những nét văn hoá đặc
sắc của dân tộc. Từ mảnh đất này, có một thời, nghề vẽ tranh truyền
thần đã bắt được nhựa sống. Thế mà, bây giờ, những hoạ sĩ truyền thần
yêu nghề chỉ nhắc lại nó với ánh nhìn xa xăm và cái lắc đầu tiếc nuối…
Có một
thời, đoạn giữa của đường Phan Đăng Lưu được gọi là con đường của tranh
truyền thần. Qua năm tháng, nghề vẽ tranh truyền thần ngày càng mai
một, những tiệm vẽ cũng đóng cửa dần. Hoạ sĩ Công Thanh, nhân chứng
cuối cùng của phố truyền thần cũng “dời đô”. Phố truyền thần biến mất.
Một buổi
chiều, tôi ghé thăm tiệm vẽ của Công Thanh trên đường Nguyễn Huệ, anh
đưa cho tôi xem những dụng cụ vẽ một thời gắn bó với anh. Chúng đã phủ
đầy bụi bặm và gỉ rét. Anh kể về nghề xưa với giọng nói say mê nhưng
đượm buồn, đầy tiếc nuối. Và tôi cũng thấy nao lòng muốn viết về cái
nghề đã từng là nét đẹp của một thời nhưng đang dần rơi vào lãng quên.
Nét đẹp một thời
Từ năm
1997 trở về trước, khi máy vi tính với kỹ thuật photoshop còn là một
khái niệm chưa phổ biến với người dân đất cố đô thì tranh truyền thần
vẫn còn chỗ đứng trong nền nghệ thuật đồ hoạ. Những con người muốn níu
giữ hình bóng của quá khứ, tìm chút hoài niệm trong những tấm hình cũ
đều đến với tranh truyền thần.
Cái quan trọng đầu tiên trong
mỗi bức truyền thần là sự chính xác. Chính xác trong từng chi tiết,
từng nếp nhăn và cả trong từng ánh mắt. Chính vì thế mà người vẽ tranh
truyền thần thường vẽ carô hay dùng thước để đo tỷ lệ. Người miền Trung
thường gọi vẽ tranh truyền thần là vẽ chân dung nhưng dường như thế vẫn
chưa nói lên hết ý nghĩa của tranh truyền thần. Một bức tranh được gọi
là truyền thần khi nó mang được cái thần của bức tranh và truyền cảm
xúc cho người thưởng thức.
| |
Họa sĩ Công Thanh bên những bức truyền thần |
Sự chính
xác trong tranh truyền thần không đơn giản là sự chép lại hình ảnh một
cách cứng nhắc. Nó đòi hỏi cái tâm và cái nhìn có chiều sâu của người
vẽ. Từ làn da mịn màng, những sợi tóc mảnh mai, mềm mại cho đến cái
nhìn dịu vợi nơi ánh mắt trong mỗi bức truyền thần không đơn giản là sự
chịu khó, cẩn thận và nhẫn nại mà còn là sự bắt gặp thế giới nội tâm,
sự giao hoà, đồng điệu của hoạ sĩ với đứa con tinh thần. Vẽ tranh
truyền thần không chỉ là vẽ tranh thờ như một số người vẫn nhầm tưởng
mà còn là vẽ lại những chân dung để kỷ niệm, lưu giữ vẽ đẹp của một
thời. Chính cái thần trong mỗi bức tranh luôn gợi cho người xem cái cảm
giác ấm áp như ánh mắt của người thân yêu đang dõi theo họ, chia sẻ
cùng họ. Trong mỗi bức tranh kỷ niệm, đôi lúc, họ lại bắt gặp chính
mình của một thuở xa xưa, một thời thanh xuân thơ mộng.
Đã có
một thời những cái tên như Phi Hùng, Phi Hổ, Phi Long, Maria Mộng Hoa
và sau này là Công Thành… gắn liền với nghề vẽ tranh truyền thần. Không
biết họ vẽ đẹp đến mức nào nhưng theo lời kể lại, nam thanh, nữ tú,
hoàng nam, tôn nữ thời bấy giờ đều muốn có tấm ảnh do những người đó
vẽ. Người Huế xưa nhắc đến tên họ, nhớ về họ như là những người đã ghi
lại, cất giữ, phác hoạ nét đẹp tâm linh sẵn có trong mỗi con người.
Hồn xưa sắp mất?
Thế rồi, luồng gió hiện đại thổi qua. Máy móc ra đời. Con người hiện đại muốn sự năng động và
nhanh chóng. Tranh truyền thần vẽ theo kiểu truyền thống hiển nhiên rơi
vào lạc lõng. Ai cũng công nhận nó đẹp, nó có hồn, nó là một tác phẩm
nghệ thuật thật sự nhưng không còn ai đủ kiên nhẫn để chờ vẽ xong một
bức truyền thần. Thay vào đó, họ lưu lại hình ảnh của mình chỉ bằng một
cái “tách” của máy kỹ thuật số hay giữ lại hồn xưa của những bức ảnh cũ
chỉ qua cái computer nhiều chức năng. Với kỹ thuật hiện đại này, những
“thượng đế” có thể thay thế được đôi mắt nhỏ của mình bằng một đôi mắt
đẹp khác, xoá đi những nếp nhăn trên gương mặt hay có thể có những
phông màu rạng rỡ. Trong khi, tranh truyền thần chỉ là những hình ảnh
mộc mạc, tập trung chủ yếu vào phần hồn của bức tranh.
Một chút
nuối tiếc, ngậm ngùi cho hồn xưa đã úa, tôi tìm đến với hoạ sĩ Công
Thanh, cháu của hoạ sĩ Công Thành, người một thời là tác giả của những
panô quảng cáo ở các rạp chiếu phim của Huế. Những năm tháng của tuổi
trẻ, anh đã dồn hết nhiệt tâm của mình lên từng nét môi, ánh mắt của
những bức truyền thần. Nhưng, hôm nay, anh đang vẽ những bảng quảng
cáo, phục hồi ảnh cũ trên máy tính. Tất cả những tranh vẽ của anh ngày
nào vẫn còn đó, rất nhiều, cả trên giấy, cả trong ký ức. Nhưng, cũng
chỉ để anh đem ra khoe với những người bạn tâm giao hay ngắm những lúc
rảnh rỗi.
Bạn bè
anh, người thì đã khuất, người thì bỏ nghề vì không thể mưu sinh được
bằng cái nghề này. Người vẽ tranh truyền thần ở Huế, vì thế, bây giờ,
chỉ đếm được trên đầu ngón tay và nghề cũng hiển nhiên trở thành “lỗi
mốt”. Anh trụ lại với nghề để thoả nỗi đam mê nhưng cũng phải tính
đường kiếm sống bằng con đường khác là vẽ bảng quảng cáo và phục hồi
ảnh cũ. Những lúc có khách yêu cầu vẽ tranh truyền thần thì anh lại
miệt mài với nghiệp cũ, bắt gặp chính hồn mình trong từng nét vẽ.
Anh
hồn nhiên kể cho tôi nghe những mẩu chuyện nhỏ, thú vị từ cái ngày anh
còn là một hoạ sĩ vẽ tranh truyền thần. Câu chuyện về 2 trường hợp khóc
oà trước bức tranh của anh bởi 2 lý do khác nhau làm cho tôi thấm thía
được sự truyền cảm rất đỗi mạnh mẽ của tranh truyền thần. Ở tranh
truyền thần, người xem không chỉ thấy được hình ảnh của người thân mà
còn có cảm giác họ đang ở bên mình, đang nhìn mình, đang chia sẻ với
mình. Vì thế mà vị khách hàng thứ nhất đã thất vọng khóc oà lên khi
không bắt gặp trong bức tranh sự ấm áp thân quen của người đã khuất.
Trái lại, người thứ 2 lại tức tưởi bởi cảm xúc dâng tràn khi gặp lại
hồn xưa.
Nhìn những
bức truyền thần với vẻ đẹp mộc mạc, trầm tĩnh đến lạ thường và những
bức ảnh kỹ thuật số ngập trong sắc màu, bỗng nhiên trong tôi nảy ra một
sự so sánh. Vẫn biết, mọi sự so sánh đều chênh vênh và mỗi loại hình
nghệ thuật có một ưu điểm riêng mà sao tôi vẫn thấy một sự tiếc nuối
rưng rưng. Đã xa rồi hồn xưa… Trong lòng tôi cũng vang lên câu hỏi nhức
nhối như những người yêu loại hình nghệ thuật này: liệu sau này nghề vẽ
tranh truyền thần sẽ đi về đâu?
(NetCodo) |