 | |
Bộ kinh Kim Cang được thêu trên nền gấm lót nhiễu điều lớn nhất Việt Nam |
Những cổ vật quý ở chùa Trúc Lâm
Chùa không lớn lắm, nằm khuất
trong vùng núi Cầu Lim thuộc xã Thủy Xuân thành phố Huế. Cho đến nay,
chùa Trúc Lâm chỉ mới tròn 100 năm. Ở Huế, những ngôi chùa có độ tuổi
như vậy được coi là trẻ.
Tuy trẻ nhưng chùa Trúc Lâm sớm nổi danh bởi giữ được những cổ vật rất có giá trị về văn hóa, lịch sử và nghệ thuật.
|

Lư hương thời Lê
| Thứ
nhất là bộ kinh Kim Cang bằng gấm lót nhiễu điều thêu chỉ ngũ sắc từ
thời Tây Sơn, được đánh giá là bộ kinh thêu lớn nhất Việt Nam. Toàn bộ
bản kinh dài 2,47m, rộng 0,234m; số lượng chữ được thêu khoảng chừng
gần 7.000 chữ Hán, đặt trong một chiếc hòm gỗ trầm có khắc chạm hoa văn
rất đẹp dài 29 cm, rộng 10 cm, cao 7,7 cm. Nguồn gốc của bản kinh này
rất ly kỳ, gắn liền với triều đại nhà Tây Sơn và đầu triều các vua
Nguyễn. Bản kinh ra đời vào ngày mùng một tháng mười một năm Cảnh Thịnh
thứ 8 (16-12-1800). Phần lạc khoảnh trong bản kinh có ghi tên người
thêu là tỳ kheo ni Diệu Tâm. Bản kinh từâng có một thời gian lưu lạc
trong dân gian. Nhiều người đạo cao đức trọng như hòa thượng Phước Huệ
ở chùa Thập tháp Di Đà (Bình Định) trong thời gian ra Huế giảng dạy tại
chùa Tây Thiên biết có một bản kinh quý đang lưu truyền trong dân gian
bèn sai môn đồ dò tìm. Sư bà Diệu Không lần ra tung tích và mua lại cả
chiếc hộp và bản kinh với giá 250 đồng thời bấy giờ (tương đương 7
lượng vàng). Sau đó, hòa thượng Mật Hiển ra sức bảo quản, gìn giữ. Đến
nay, bản kinh này được cất giữ chu đáo như một bảo vật.
Trong chùa còn có nhiều pháp bảo vô giá khác như chiếc lư bằng gốm
sứ có tráng men màu, đường nét, họa tiết hình rồng, các hàng chữ rất
đẹp, rất công phu. Lư gồm hai tầng, chung quanh chạy hàng chữ nổi "Từ
Sơn phủ, Đông Ngàn huyện, Bảo Sơn tự, Lê triều Long Hưng Chính Hòa" như
vậy chiếc lư mang dấu ấn đời Lê. Chính Hòa là niên hiệu của vua Lê Hy
Tông từ năm 1680 đến 1704 tương ứng với thời các chúa Nguyễn ở Đàng
trong như Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Chu. Theo quý
thầy trong chùa cho biết chiếc lư này do Thượng thư Hồ Đắc Trung - bố
của sư bà Diệu Không - đem từ Thanh Hóa vào dâng cúng cho chùa. Nhưng
theo dòng chữ trên chiếc lư thì đây là tự khí của chùa Bảo Sơn ở huyện
Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc), điều này cho thấy nguồn gốc chiếc lư
cũng như quá trình di chuyển của nó mang nhiều công lao của nhiều người
có tâm cất giữ và dâng cúng. Chiếc lư hiện nay đang được chùa Trúc Lâm
dùng để xông trầm và thường xuyên đặt ở nơi rất dễ vỡ nên nhà chùa cần
có biện pháp bảo quản thích hợp.
Một pháp bảo vô giá khác là chiếc bình bát bằng chu sa, chiếc muỗng
gỗ và bức tiếu tượng của hòa thượng Thạch Liêm - tác giả bộ sách quý
Hải ngoại kỷ sự - mà chùa Trúc Lâm đang sở hữu. Đây là những pháp bảo
quý hiếm còn lại của hòa thượng Thạch Liêm có niên đại từ những năm
1694-1695. Về gốc tích những pháp bảo này, nguyên để tại chùa Khánh Vân
thuộc làng Lựu Bảo, huyện Hương Trà, được hòa thượng Giác Tiên phát
hiện và thỉnh về đây để tiện gìn giữ. Nhờ vậy mà pháp bảo quý hiếm này
còn lưu lại đến ngày nay.
Chuông chùa nổi tiếng
|

Bình bát chu sa của hòa thượng Thạch Liêm, tác giả của Hải ngoại kỷ sự
| Ngoài
chuông chùa Linh Mụ nổi tiếng được đúc vào năm Canh Dần (1710) thời
Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), nặng 3.282 cân xưa, cao 2,50m, chu vi vòng
miệng 4,36m, đường kính 1,56m, ở Huế còn có nhiều quả chuông đồng cổ
rất quý ít người biết đến như: Chuông chùa Thiên Thai, nặng 855 kg, do
ngài Tế Hiệp - Hải Điện cho đúc, sau khi trùng tu chùa lần thứ nhất vào
năm Cảnh Hưng thứ 8 (1748), Chưởng cơ Thái giám Mai Văn Hoan đã đứng ra
làm hội chủ quyên tiền. Đại thi hào Nguyễn Du lúc vào kinh đô Huế đã
từng có thơ hoài vọng cảnh cũ người xưa: "Chuông cũ Cảnh Hưng còn treo
đó/Nhớ hồi năm trước đã lên chơi..." (Vọng Thiên Thai); Chuông chùa
Sùng Ân, làng An Lưu, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang. Ngôi chùa cổ nằm trong
một làng quê sông nước hữu tình này hiện vẫn còn lưu giữ quả chuông
được đúc vào năm Vĩnh Thịnh thứ 2 (1678) dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Tần
(1648-1687) ở Đàng trong. Chuông có chiều cao 1,24m, đường kính 0,62m.
Trên chuông có khắc đầy đủ tên các nhân vật chốn cung đình từ chánh
cung đến thái tử, đặc biệt có tên vị Thủ bạ Trần Đình Ân, pháp danh
Hồng Minh và Vệ úy Lê Cao Trí, pháp danh Chơn Tuyên là những tín chủ đã
phát tâm cúng dường để đúc quả chuông này.
Tuy nhiên, quả
chuông được đánh giá là độc đáo và kỳ lạ nhất ở Huế là quả Đại Hồng
Chung của chùa làng La Chữ. Chuông được đúc vào năm Quang Trung thứ 4
(1791), do vợ chồng võ tướng Điện tiền Thái bảo ngự giá Quận công Võ
Văn Dũng, một vị võ tướng dưới triều Tây Sơn cùng với nhạc phụ (bố vợ)
là ông Lê Công Học đứng ra làm hội chủ quyên góp trùng tu chùa làng La
Chữ và đúc chuông. Quả chuông này cao 0,92m, đường kính miệng chuông
1,78m và các hoa văn trên chuông không mang nặng dấu ấn Phật giáo mà
được trang trí bằng bộ "Tứ thời": Xuân - Hạ - Thu - Đông. Ô Xuân trang
trí hai cái lược sưa, lược dày và gương hoa (các vật dụng trang điểm
của phụ nữ), nhiều người cho rằng đây là khung biểu thị cho phái đẹp.
Ô Hạ, hoa văn trang trí là ngọn lá và thanh gươm, biểu thị cho sự quyết
liệt của các đấng mày râu. Ô Thu có hai bầu rượu quấn dải lụa mềm mại.
Ô Đông trang trí hình chiếc quạt lá vả và cuốn sách. Dưới các ô văn ấy
có hình 8 vị võ tướng tay cầm khí giới... Đây là những hoa văn trang
trí rất lạ so với phong cách trang trí trên các pháp khí của chốn thiền
môn thường gắn liền với những biểu tượng mang dấu ấn triết lý Phật giáo
như: từ bi, hỷ xả, giới, định, tuệ... Bên cạnh chuông chùa La Chữ, tại
làng Hạ Lang cũng có một quả chuông đồng được đúc vào thời Tây Sơn,
niên hiệu Cảnh Hưng thứ 7 (1799). Nhưng quả chuông này không phải được
đúc tại Thuận Hóa mà tại tỉnh Hà Đông, rồi chuyển vào.
(TNO) |