 | | Làm cơm lam |
Tây Nguyên là nơi sinh sống của hàng chục dân tộc anh
em, đông nhất là các dân tộc Ba Na, Gia Rai, Ê-đê, M’Nông, Xơ-đăng,
H’rê... Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán riêng và hàng
năm đều có tổ chức những ngày lễ Tết cho buôn làng sau khi gặt hái đã
hoàn tất. Những ngày lễ Bỏ Mả, lễ Đâm trâu xây cột, Tết Cơm mới, Tết
Giọt nước, Tết Lửa... diễn ra rộn rịp suốt mùa hanh khô. Đây là mùa lễ
Tết ở Tây Nguyên.
Trong lễ Tết, ẩm thực của các dân tộc Tây Nguyên đều
giống nhau, từ món thịt nướng cho đến rượu cần. Còn cách ăn uống và nấu
nướng thế nào, thì đó là đặc điểm của mỗi dân tộc và của mỗi địa phương.
Ngày thường, đồng bào Tây Nguyên ăn cơm gạo tẻ với
thức ăn nấu từ các loại rau rừng, mộc nhĩ, các loại củ, măng le. Thỉnh
thoảng mới kiếm được con cá dưới sông, con thú từ trong rừng để cải
thiện thêm bữa ăn. Còn các loại gia súc, gia cầm nhà nào cũng có, họ
nuôi bằng cách thả rong vào rừng, ra bờ sông, bờ suối, và chỉ làm thịt
để dùng vào việc cúng tế thần linh hay để thiết đãi khách quí đến thăm
làng.
Vào các ngày lễ Tết, cơm nếp được thay cơm gạo tẻ và
được nấu theo cách thức của tổ tiên: Cơm Lam. Họ vào rừng chặt những
ống lồ ô còn non, giữ lại mấu ở một đầu ống rồi cho gạo nếp và nước
vào, xong nút lại đem đốt bằng lửa và than cho thật khéo. Những ống cơm
lam, ngoài vỏ tuy đen đúa, lem nhem nhưng khi chẻ bỏ lớp vỏ ấy đi thì
lộ ra lớp cơm nếp thơm ngon, hấp dẫn lạ thường. Hương vị nếp quyện với
hương thơm của tre tươi qua lửa làm cho cơm lam có một hương vị đặc
biệt, hơn hẳn cơm nếp nấu trong chõ, trong nồi.
Thịt là thực phẩm chủ yếu trong các món ăn ngày Tết.
Người Tây Nguyên làm lông con vật bằng cách thui đốt. Họ không chế biến
được các món ăn đặc biệt như ở miền xuôi. Đáng chú ý là món nướng và
làm món như tiết canh, nem sống ở dạng thô sơ. Những món ăn này dùng để
khoản đãi hay để dâng cúng thần linh.
Ngoài ra, họ còn dùng phèo lấy từ ruột con vật bốn
chân để chế biến món ăn là một đặc điểm trong cách thức ngả món của
đồng bào Gia Rai, Ba Na. Kỹ thuật băm sống và trộn bóp đóng vai trò
quan trọng tạo ra nhiều món từ thịt trâu bò, dê, nguồn thịt chính trong
lễ hiến tế thần linh. Có món thịt bóp với phèo. Có món thịt băm nhỏ
trộn với muối đựng trong ống tre. Có món thịt trộn với phèo rồi gói lá.
Có món thịt trộn với tiết, phèo và muối ớt để trên lá. Có món thịt,
ruột non, gan, ruột già hỗn hợp đựng trong ống tre. Lại có món thịt
băm, tiết, phèo, muối ớt trộn nhuyễn. Da bóp với phèo cũng thành một
món. Món thường gặp là gan và lá sách thái miếng xiên xen kẽ vào que
tre để nướng.
Trong các món ăn kể trên họ đều dùng thịt sống, tuy
không được nấu nướng nhưng có thể phèo là nguyên liệu có tác dụng làm
tái các loại thịt tươi, giống như thính gạo trong món nem của người
Kinh. Hơn nữa, tất cả những món sống ấy bao giờ cũng làm thành món đưa
cay. Rượu cần là đồ uống không thể thiếu được trong các ngày lễ Tết.
Thức nhắm, thậm chí được đặt gần bên các ghè rượu, có lót lá chuối đặt
vào chiếc rá (rổ) để thực khách vừa nhâm nhi thưởng thức vừa chuyện
trò, thỉnh thoảng đưa tay bốc một nhúm thức ăn đưa lên miệng...
Cùng với món sống, họ cũng làm các món nấu chín theo
tập tục lâu đời. Trong các món này, thịt bao giờ cũng được nấu chung
với bột gạo và rau đã giã nhỏ tạo thành món sền sệt đặc như cháo có thể
bốc ăn được.
Món thịt nướng cũng là món thông dụng và được ưa
thích. Có loại đem gói kín trong lá tươi rồi vùi vào than hay tro nóng.
Có loại thì xâu thành từng xâu hơ trên than củi đang cháy.
Trong không khí cộng đồng ngày lễ Tết, việc ăn uống
diễn ra với nhiều ý nghĩa, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu no bụng, ngon
miệng mà còn đáp ứng nhu cầu về tình nghĩa chòm xóm láng giềng trong
buôn làng, quan hệ giữa con người với nhau.
Vượt lên trên thực đơn vừa kể, món ăn trong ngày lễ
Tết không tách khỏi phần tâm linh, tín ngưỡng sâu sắc, kết nối giữa
người sống kẻ chết, giữa con người với thần linh. Chính vì vậy mà các
món ăn thức uống vào ngày lễ Tết của họ mang ý nghĩa thiêng liêng và
hết sức trang trọng.
(TTO) |