|
Cái làng quê bé nhỏ ấy nằm giữa một vùng đồng bằng
do phù sa dòng sông Cẩm Lệ bồi tạo nên. Chẳng những người quanh vùng,
mà cả người ở xa tận Huế, Cửa Việt, Đông Hà ngoài Quảng Trị cũng biết
cái tên của vùng làng nhỏ bé này: Làng Cẩm Nê. Bởi làng này có nghề dệt
chiếu truyền thống và nổi tiếng nhiều đời.
Nếu
giở lại trang sử xưa, nghề dệt chiếu ở vùng Quảng Nam có khá lâu đời,
cùng thời với nghề chiếu ở Quảng Bình và Thừa Thiên. Trong Phủ biên tạp lục
của Lê Quý Đôn có ghi: ...''Xã Hòa Sơn, huyện Tân Phúc, phủ Điện Bàn
nộp chiếu hoa thay cho sưu lính, hằng năm trước ngày mồng một Tết, dinh
Quảng Nam thu chiếu miếng lớn 25 đôi, chiếu miếng nhỏ năm đôi, chiếu
thảm tám đôi, chiếu phản dài tám đôi, chiếu phản ngắn một đôi, chiếu
nhỏ dày bốn đôi, chiếu cầu trơn trải ở Văn Miếu một đôi, chiếu thảm cạp
lụa huyền một đôi, cộng năm mươi ba đôi, lại các hạng chiếu trơn phát ở
công đường phủ và các chùa miếu xứ ấy là 75 đôi''...
Ở Quảng Nam có hai làng làm nghề dệt chiếu nổi
tiếng. Ngoài làng Cẩm Nê còn có làng Bàn Thạch. Nhưng làng nào có nghề
dệt chiếu trước thì cho đến nay cũng chưa ai rõ. Nhưng về nguồn gốc
nghề chiếu ở vùng này, khi đến Cẩm Nê gặp các cụ cao tuổi hỏi chuyện,
thì các cụ có kể lại rằng: Câu chuyện truyền miệng từ xa xưa cho tới
đời các cụ thì nghề chiếu của vùng này gốc tích từ vùng Nga Sơn - Thanh
Hóa đưa vào.
Nhân dân Cẩm Nê ngoài nghề dệt chiếu cũng có
trồng lúa. Nhưng nguồn sống chính là nghề chiếu vì làng ít ruộng đất.
Có điều lạ nữa là quanh cận vùng Cẩm Nê không có chỗ nào trồng cây đay
và lác (cói) mà lại có nghề dệt chiếu nổi tiếng và phát đạt. Muốn có
nguyên vật liệu để dệt chiếu như đay, lác phải đi đến các vùng xa trong
tỉnh mua về sử dụng. Cẩm Nê dệt nhiều loại chiếu, khổ rộng, khổ hẹp,
dệt chiếu trơn và dệt chiếu hoa. Chiếu trơn là loại chiếu để nguyên sợi
màu trắng không nhuộm màu. Chiếu trơn dệt loại lác dài không chắp, sợi
nhỏ bán đắt tiền hơn loại dệt lác chắp, dệt hai sợi lác ngắn tiếp nối
nhau.
Loại chiếu trơn trắng này dùng loại lác phơi
khô vừa phải, khi khô còn ửng màu xanh, đem vào dệt. Chiếu dệt xong đem
phơi nắng, vừa để cho lá chiếu trắng sáng bóng, vừa cho khô giòn những
đầu thừa thòi ra trên mặt lá chiếu của sợi lác, sợi đay, để dùng dao
sắc, phạt cho đứt hết.
Loại chiếu hoa ở Cẩm Nê không phải dệt chiếu
trắng xong mới dùng khuôn in hoa lên trên nền như một số vùng khác mà
phải chọn sợi lác về nhuộm phẩm, màu sắc tùy theo người chủ. Màu đỏ,
màu xanh, màu lục, màu vàng.. Phẩm nấu lên và nhúng sợi lác vào, nhúng
từng nạm một và đem phơi. Một nạm lác có thể nhuộm một hoặc hai ba lần
tùy màu phẩm và độ pha chế đậm nhạt. Những sợi lác màu sau khi phơi
khô, được đem dệt chiếu hoa.
Dệt chiếu hoa nhiều công phu. Ngoài công phu
chọn và nhuộm sợi lác còn phải công phu khi dùng sợi đay mắc canh cửi.
Mắc cửi đơn hay kép, mặt cửi chạm nổi, âm dương thế nào đó để sau này
khi dệt, người cầm khổ (go) dệt sẽ điều khiển khổ cho nổi lên những
hình hoa văn trên mặt chiếu. Công phu nữa là người cầm khổ dệt ngồi
trên và giữa mặt cửi đay. Với sự sắp xếp hình dáng hoa văn và bông hoa
hoặc chữ nghĩa (như chữ thọ, chữ song hỷ) trong đầu, khi ngồi vào khung
dệt, tay cầm khổ dệt đồng thời các ngón tay phải điều khiển các sợi
canh đay hoặc nâng lên đè xuống, hoặc cải ba cải hai để khi con thoi
đưa sợi lác vào cho ăn khớp tạo lên hoa trên mặt chiếu.
Có thể nói người cầm cái khổ dệt chiếu đồng
thời là một họa sĩ trang trí trên mặt chiếu. Không phải bằng bút lông
mà là bằng đôi tay điều khiển cái khổ và mũi thoi của mình. Thường
thường trên một chiếc chiếu hoa, ở giữa là chữ thọ, dùng trải ở đình
làng, các phản nhà lớn..., hoặc chữ song hỷ nếu dệt cho đám cưới... Còn
ở bốn góc thì là tứ linh hoặc bốn hoa văn lớn, bốn góc chung quanh có
hoa văn trang trí nhiều kiểu, nẹp ngoài hai đường kẻ hoặc đỏ hoặc xanh,
trông rất trang nhã hài hòa. Chiếu hoa dệt lác nhuộm sẵn, hoa văn nổi,
cả hai mặt chiếu, một mặt chính một mặt phụ chứ không như chiếu in hoa
chỉ có hoa ở một mặt trên.
Một công phu của nghề dệt chiếu ở đây nữa là
chọn cây để làm khổ (go) và thoi dệt. Phải chọn loại cây nào thật
thẳng, nhẹ và bền... Vùng Cẩm Nê, người ta thường dùng cây cau già để
làm go và thoi dệt.
Hai người, một người giữ khổ, một người cầm
thoi, dệt liên tục trong mười tiếng đồng hồ được một đôi rưỡi hoặc hai
đôi chiếu, tùy loại đó là chiếu hoa hay chiếu trơn, khổ rộng hay khổ
hẹp. Chiếu dệt xong đem trải khắp sân; khắp vườn, phơi để cho chiếu
nguội và hoàn tất một phần việc cuối cùng: ghim các đầu dây đay để cho
các sợi lác hai đầu chiếu khỏi bung ra. Công việc này cũng phải khéo
tay và có cặp mắt mỹ thuật, không thì chiếc chiếu sẽ lệch.
Ngoài những loại chiếu người ta đặt dệt hoặc
chiếu thường thường để bán quanh vùng, trong làng có một số người mua
sỉ chiếu để dồn lại và đóng gói từng bó mười đôi một, thuê ghe bầu hoặc
tàu lửa chở ra vùng Thừa Thiên, Quảng Trị bán. Nếu thị trường Quảng Trị
ưa thích chiếu Cẩm Nê trơn, thì thị trường Thừa Thiên, nhất là Huế tại
thích dùng chiếu hoa có chữ thọ. Có lẽ đây là vùng đất cố đô mang nặng
tư tưởng phong kiến.
Hai mươi lăm năm xa vùng đất Cẩm Nê, hôm nay về thăm lại đứng trên
đường xe lửa nhìn chếch lên phí tây non cây số, tìm mãi chả thấy làng
Cẩm Nê đâu. Chỗ làng xưa bây giờ là một đồng ruộng và còn lất phất vài
bụi tre, bụi chuối giữa đồng. Hỏi ra mới biết làng nghề Cẩm Nê đã bị
Mỹ-ngụy mang máy bay đến dội bom thành những hố bom sâu hoắm.
Làng Cẩm Nê mới được chuyển lên vùng đồi Yến Nê - Dương Sơn. Đó là vùng
đất cát pha, nơi chủ yếu trồng sắn, trồng khoai và giống thuốc Cẩm Lệ
nổi tiếng. Những người dân làng Cẩm Nê còn sống sót đã phiêu bạt sinh
sống nhiều nơi, nay đã tìm quay về quê hương chốn cũ. Ngoài công việc
cấy lúa, trồng sắn khoai, thuốc lá, đậu phụng, họ lại chặt cau đóng go
(khố), vót thoi và đi mua lác đay tìm về nghề cũ. Chiếu Cẩm Nê đã được
phục hồi từ những đôi tay khéo léo, cần cù, từ sự nhẫn nại và sáng tạo
của người dân Hòa Tiến.
(Baobinhdinh) |