|
Tây nguyên không chỉ là một vùng cao nguyên giàu
tiềm năng mà còn có vị trí đặc biệt về kinh tế, xã hội và an ninh quốc
phòng của nước ta; Tây nguyên còn được mệnh danh là “Cao nguyên trung
tâm”, là “nóc nhà của bán đảo Đông Dương”. Đảng và nhà nước ta chủ
trương xây dựng Tây nguyên giàu về kinh tế, vững mạnh về chính trị và
phát triển nhanh về mọi mặt tiến tới thành vùng kinh tế phát triển năng
động cùng cả nước chuyển mình theo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
|
Khi
nói đến Tây nguyên, trong mỗi chúng ta thường hay nghĩ đến một vùng đất
đầy huyền bí, nơi đó là một miền cao, có nhiều người dân tộc thiểu số
sinh sống, có nhiều rượu cần, có những ngôi nhà rông cao chót vót đến
vài chục thước, những ngôi nhà sàn dài có nhiều thế hệ cùng sinh sống
với nhau, khí hậu lạnh buốt quanh năm... Đó là những ý nghĩ đúng, nhưng
Tây nguyên vẫn còn bao điều bí ẩn để chúng ta cùng khám phá.
Lúc còn là sinh viên, tôi đã khát khao để được đến Tây nguyên và niềm
khát khao đó đã được thực hiện qua những lần đi thực tập. Ngành học của
tôi là Dân tộc học, chuyên nghiên cứu về các tộc người, các dân tộc anh
em trên lãnh thổ Việt Nam; người trong “nghề” gọi nhau đó là những
chuyến đi điền dã. Đây là một thuật ngữ chuyên ngành mà các thầy cô đã
dạy, trong những chuyến điền dã ấy Tây nguyên luôn hiện trong ký ức
tôi, những kỷ niệm đó tôi không bao giờ quên. |
Theo bản đồ hành chính thì Tây nguyên ngày nay gồm có 4 tỉnh: Kon Tum,
Gia Lai, Dak Lak và Lâm Đồng. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía nam
giáp các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng Nai; phía đông giáp các
tỉnh: Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi; phía tây giáp các tỉnh
Bình Phước và hai nước Lào, Campuchia. Tây nguyên là địa bàn cư trú lâu
đời của nhiều dân tộc thiểu số thuộc ngữ hệ Nam Á như: Bana, Xơđăng,
Giẻ Triêng, Brâu, Rơmăm, Mnông, Cơho, Ma... và ngữ hệ Nam Đảo như: Gia
Rai, Êđê, Churu, Raglai... Các nhà dân tộc học thường gọi các dân tộc
ít người này là cư dân bản địa Tây nguyên.
Theo số liệu thống
kê, đến giữa năm 2002, dân số Tây nguyên có tới 4,5 triệu người, so với
năm 1989 đã tăng thêm khoảng 2 triệu người. Kết quả này, một phần do
gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng cơ học; di dân đến Tây nguyên theo
2 luồng di dân có tổ chức và di dân tự do. Cùng với quá trình tăng về
số lượng dân số, thành phần tộc người ở Tây nguyên cũng tăng nhanh; năm
1989 có 37 tộc người, đến năm 1999 là 47 tộc người.
Văn hóa cổ
Tây nguyên nổi tiếng với những kết quả khảo cổ học ở Lung Leng (Kon
Tum), Biển Hồ (Gia Lai), Dak Rông - Chư Ktu (Đak Lak), Cát Tiên (Lâm
Đồng)... đã cung cấp nhiều cơ sở cứ liệu giúp các nhà khoa học làm rõ
về cội nguồn văn hóa cổ của cư dân Tây nguyên. Ngày nay, các loại hình
văn hóa đặc trưng của Tây nguyên có ảnh hưởng sâu rộng và góp phần làm
phong phú thêm văn hóa truyền thống của Việt Nam. Trong trang phục,
tiêu biểu với loại hình choàng quấn và mô típ hoa văn trên vải; kiến
trúc tiêu biểu với các dạng thức khác nhau của nhà sàn, nhà dài, nhà
rông, nhà mồ; trong sinh hoạt văn hóa nghệ thuật tiêu biểu là kho tàng
sử thi, các lễ hội gắn với dân ca, dân vũ, cồng chiêng và nhiều loại
nhạc khí dân tộc cổ truyền; trong tư duy và đời sống tâm linh với những
bộ luật tục, những quan niệm về sự thống nhất và bình đẳng giữa con
người với tự nhiên, tín ngưỡng đa thần. Những nét đa dạng trong đó
không chỉ thể hiện ở đặc trưng từng tộc người mà còn thể hiện ở từng
nhóm tộc người.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, cư dân bản địa
Tây nguyên vẫn còn lưu giữ được kho tàn văn hóa cổ truyền đặc sắc,
phong phú và hấp dẫn. Những di sản văn hóa cổ truyền rất đặc sắc có giá
trị cao về nội dung và nghệ thuật mang đậm dấu ấn tinh thần của cộng
đồng và năng lực sáng tạo, ngoài ra còn mang tính nguyên hợp cao. Tây
nguyên còn được xem là vùng văn hóa có nghệ thuật trình diễn dân gian
rất phong phú và đặc sắc, thường được tổ chức vào các lễ hội: bỏ mả,
đâm trâu, cồng chiêng, đua voi. Bên cạnh đó kho tàng văn học dân gian
khá đồ sộ, phản ánh những hình thức tư duy nguyên thủy của cư dân bản
địa. Đó là những huyền thoại về nguồn gốc loài người, nguồn gốc tộc
người, về núi, sông, trời đất; những truyện cổ tích, điển hình về nhân
vật mồ côi, nhân vật ma lai, những truyện hài - ngụ ngôn, những câu ca
dao, câu tục ngữ, bài ca luật tục, bài ca nghi lễ, câu hát đối đáp...
Tây
nguyên còn là một lực hút mãnh liệt cho những người đam mê văn hóa -
nghệ thuật như: âm nhạc, điêu khắc, ẩm thực, trang phục..., trong đó có
lĩnh vực nhiếp ảnh nghệ thuật. Hàng loạt các tác phẩm đoạt giải thưởng
trong và ngoài nước cũng từ vùng đất này. Trong những lần đi điền dã ở
Tây nguyên, tôi không bao giờ quên chuẩn bị phim và máy ảnh. Lúc còn là
sinh viên, phải chạy đi mượn chiếc máy ảnh cơ cũ kỹ để mang kè kè theo
mình và luôn “rình” và “chộp” được những khoảnh khắc đáng nhớ.
Tây
nguyên đang từng bước phát triển giàu đẹp và cũng nơi ấy có một sức hút
mãnh liệt đối với những người đam mê ảnh nghệ thuật. Ngày nay, Tây
nguyên là một bảo tàng sống về văn hóa lịch sử. Việc bảo vệ, khai thác
văn hóa truyền thống ở Tây nguyên không chỉ là hành trang không thể
thiếu của cư dân Tây nguyên trên đường phát triển và hội nhập, mà nó
còn bổ sung vào hành trang của cư dân các nước ở Đông Nam Á và trên thế
giới khi bước vào xã hội hiện đại.
1.Tây nguyên thật lạ. Cứ nghe trời lành lạnh, những bãi cỏ mới ngày nào còn xanh ngút ngàn giờ đã khô úa nhường chỗ cho
những quả đồi rực sắc hoa vàng dã quỳ là nghe Tết đã đến gần. Đêm của
những ngày giáp Tết, bầu trời dường như cao hơn, rộng hơn, nhìn lên chỉ
thấy chi chít sao. Càng gần đến Tết, trời lạnh hơn. Ra đường chỉ thấy
những cặp mắt sáng. Nhiều cụ già bảo, bây giờ trời ấm hơn nên bớt lạnh
hơn chứ chục năm trước, khi mặt trời lặn cũng là lúc con người chỉ biết
quây quần bên đống lửa.
2.Tây nguyên gần đây là nơi tụ hội nhiều sắc giọng khắp nơi trên cả
nước về lập nghiệp. Giọng Huế thâm trầm, xa vắng. Giọng Nghệ như lả
lơi, mời gọi. Giọng Quảng Nam, Quảng Ngãi khó nghe nhưng chân thật.
Giọng Bình Định thật thà. Có cả giọng miền Bắc lơ lớ của các dân tộc
vùng Tây Bắc. Tất nhiên không thiếu giọng từ Đông Nam bộ, Tây Nam bộ
phóng khoáng nghe “đất lành chim đậu” mà đến. Tất cả hợp thành một
giọng riêng mà nhiều người cứ quen bảo: giọng Tây nguyên, cứ nhè nhẹ
thoang thoảng như giọt sương ban mai. Từng dân tộc, từng vùng miền về
đây tụ hội đã tạo cho Tây nguyên sắc màu văn hóa phong phú. Chính vì lẽ
ấy mà không khí đón Tết và vui Tết ở mảnh đất này cũng đa dạng hơn.
3.Dẫu
có tha phương cầu thực nhưng cứ Tết đến cũng là lúc mỗi gia đình vẫn
nhớ về nơi “chôn nhau cắt rốn” bằng những nét ẩm thực rất riêng của quê
mình. Người Huế vẫn không thiếu món thịt heo luộc chấm mắm nêm, chén
mắm ruốc kho thịt ba chỉ. Người dân xứ Nghệ, xứ Thanh và vùng chiêm
trũng đồng bằng sông Hồng dù xa quê đã lâu nhưng ngày Tết đến vẫn đầy
đủ món bánh chưng thịt đông, vại cà pháo dưa chua đãi khách. Tất nhiên
bao giờ trong nhà không thiếu món rượu đế tự nấu. Còn người dân xứ Bình
Định, địa phương có nhiều người lên Tây nguyên lập nghiệp nhớ đến quê
hương nên mang theo món bánh thuẫn, bánh tét, cá ngừ kho ăn với cơm
trong ba ngày Tết và món bánh tráng cuốn thịt heo luộc, rau sống chấm
với nước mắm nguyên chất thêm tí ớt chút chanh... Người dân miền Đông
Nam bộ thiếu gì thì thiếu nhưng không thể không có món thịt heo kho
tàu. Còn món “cay” thì cũng phong phú đến vô cùng: rượu ghè J’Rai, rượu
đế Bàu Đá, Làng Vân, Gò Đen và cả đế tự nấu! Năm cà phê được giá, rượu
đã bị lãng quên mà thay vào đó là bia Sài Gòn, Heineken, Tiger... “Còn
ba ngày Tết hết cũng ba ngày mùa”. Cứ việc say!
4.Người Việt
mình là vậy. Vất vả, nhọc nhằn với cuộc đời là vậy, nhưng ba ngày Tết
vẫn có những nét đáng yêu. So với những miền đất khác, Tây nguyên trù
phú hơn nên người dân đã đến đây ít người muốn tha phương cầu thực lần
nữa mà bám đất để sống nên khái niệm “họp mặt” gia đình không quá quan
trọng, chỉ có những gia đình nào có con em đi học xa. Cách đây không
lâu, ngày mồng Một, người bước chân ra khỏi nhà phải là người may mắn,
cũng như muốn đến thăm nhà ai đầu xuân thì phải chờ đến trưa mới dám
bước vào nhà..., gần đây dường như nét hủ lậu này không còn nữa. Vừa mở
cửa ra là nhiều người bước vào í ới gọi nhau, chúc mừng, rủ nhau chơi
xuân. Thắp nén nhang trên bàn thờ tổ tiên và chúc nhau những lời chúc
hanh thông, một năm vạn sự như ý, làm ít mà được nhiều, mùa màng thuận
lợi, giá tiêu giá cà phê cứ cao lên, cao như hồi năm 90 của thế kỷ
trước để cuộc sống người dân đỡ vất vả hơn. Đến một nhà, rồi rủ nhau
tới hàng xóm, đoàn người ngày càng kéo dài thêm. Đông là vui. Tết mà!
Bõ một năm bán lưng cho đất, bán mặt cho trời. Vui khi nghe giá cà phê,
cao su, tiêu lên giá, còn lòng héo quắt lại khi nghe thị trường Luân
Đôn giá cà phê, tiêu hạ. Vài năm trở lại đây, khi chưa có Internet, dịp
đầu xuân cũng là dịp các sòng bài vỉa hè nở rộ. Cán bộ có thấy cũng tặc
lưỡi: “Thôi để họ chơi nhưng đừng đánh lớn nghe!”. Nhưng không ít người
vì quá mê đỏ đen mà cháy túi cầm cố ruộng vườn, xe cộ, để rồi qua Tết
cầm thân làm thuê kiếm miếng ăn qua ngày. Từ khi có mạng Internet về
tới tận xã, vậy là “chat chiếc”, chơi game, có tốn tiền nhưng chẳng
đáng là bao. Văn minh dễ thấy!
5.Tết Nguyên đán bây giờ không
chỉ là Tết của riêng người Kinh nữa rồi. Người J’Rai, Êđê, Ba Na xem
Tết Nguyên đán như là Tết của mình. Dẫu không sắm sửa cho Tết nhưng họ
cũng vui Tết với người Kinh, cũng biết chúc Tết, uống rượu mừng xuân,
đã quen ăn bánh tét, bánh chưng với củ kiệu. Đến khi say nhè, chân nam
đá chân chiêu và hát những bài hát xuân, gặp ai trên đường cũng bảo:
Mình đi ăn Tết về, say quá! Cười khà khà vang động cả những vườn cà phê
đang mùa nở hoa thơm ngát...
6.Ba ngày Tết ở Tây nguyên trôi đi
nhanh lắm nhưng không khí Tết vẫn còn cho đến hết tháng Giêng. “Tháng
Giêng là tháng ăn chơi...” nhưng với người Tây nguyên, bước qua “mồng”
là rủ nhau tưới cà phê, tưới tiêu. Tiếng máy bơm nước ầm ì suốt ngày
đêm. Trong cái lạnh đến nao lòng, những mái đầu lam lũ quây quần bên
những chén rượu giữa rừng cà phê, lãng mạn, nên thơ lắm, khuôn mặt ai
cũng ngời sáng. Vất vả mà không khổ bởi bây giờ máy móc đã thay sức
người. Cứ uống say rồi ngủ để sáng mai thức dậy, vườn cà phê đã nở thêm
nhiều bông mới, hương càng thơm hơn! Nghe ra mùa xuân vẫn còn ở quanh
đây...
(CATPHCM)
|