|
Làng cổ Phước Tích nằm trong địa phận xã Phong Hòa,
huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên- Huế. Theo sử sách và gia phả các
dòng họ còn lưu lại thì làng Phước Tích ngày nay được thành lập từ năm
1470, dưới triều vua Lê Thánh Tông. Cách đây khoảng trên 500 năm, vùng
nay được gọi là xứ Cồn Dương, được bao bọc bởi dòng sông Ô Lâu mát rượi
uốn cong hình móng ngựa.
Năm 1306, đời nhà Trần, để cưới Công chúa Huyền
Trân, vua Chăm Chế Mân (Jaya Simhavarman III) đã lấy 2 châu Ô, Lý làm
sính lễ cho Đại Việt. Đến năm 1307, vua Trần Anh Tông cho đổi tên thành
Thuận Châu (Quảng Trị và Hóa Châu), sai quan Hành khiển Đoàn Nhữ Hải
vào vỗ về dân chúng, chọn người bản xứ ra làm quan, cấp ruộng đất và
miễn thuế cho dân 3 năm. Nửa sau thế XV, vua Trần ban chiếu khuyến
khích di dân vào Nam, trong bối cảnh ấy, nhiều ngôi làng Việt đã được
hình thành ở đây, làng Phước Tích thành lập vào khoảng đợt thứ 3 năm
1470.
Gia phả của các họ ở làng Phước Tích đều đã ghi
khá chi tiết về quá trình khai canh của làng. Gia phả họ Hoàng chép
rằng: Năm Hồng Đức thứ nhất và thứ hai (1470 và 1471), đời vua Lê Thánh
Tông, ngài thủy tổ của họ Hoàng là ông Hoàng Minh Hùng, tục gọi là Nồi,
nguyên người làng Cảm Quyết, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An là một võ tướng,
phò vua Lê Thánh Tông thân chinh đánh đuổi quân Chiêm Thành, sau chiến
thắng trở về, đi ngang qua Hoa Châu, đến sông Ô Lâu. Nhận thấy Cồn
Dương có địa thế thuận lợi nên ông Hoàng Minh Hùng đã chọn làm nơi lập
nghiệp. Ngài về quê hương chiêu mộ thêm 11 họ đưa vào đất Cồn Dương
khai khẩn lập làng, sau đó tăng thêm 5 họ nữa, lấy tên là Cảm Quyết để
ghi nhớ cố hương.
Trước đây, nghề gốm ở làng Phước Tích rất
thịnh. Khi nghề gốm phát triển, bên cạnh những người làm gốm, còn có
những người chuyên làm trung gian buôn bán, nhờ đó đã tạo nên sự giao
thương rộng rãi. Và Phước Tích trở thành một trong số ít làng năng động
và giàu có lúc bấy giờ. Những ngôi nhà rường khang trang từ 150 đến 200
năm tuổi ấy đã minh chứng.
Nói về gốc tích nghề gốm của làng, cái đã làm
nên sự phồn thịnh của làng Phước Tích trong 500 năm qua, cụ Lê Trọng
Ngữ, một người hay chữ của làng đã dịch các tư liệu Hán văn sang quốc
ngữ khẳng định rằng ''Trong đoàn người gồm 12 tộc họ từ Bắc vào Nam đầu
tiên có 3 người biết nghề gốm''. Tư liệu cổ không rõ họ tên nhưng họ là
những người đã truyền nghề gốm cho làng. Song điều đáng quý nhất ở làng
Phước Tích là những người chăm làm, trọng nghĩa, có truyền thống hiếu
học, nhân ái, đoàn kết. Những truyền thống tốt đẹp ấy đã được dân làng
khắc bia đá ghi công. Tuy làng không có những vị đại khoa tầm cỡ, nhưng
cũng có bề bày truyền thống khoa bảng và sự hiếu học. Làng có văn thánh
thờ Khổng tử và các hiền nhân. Dưới thời nhà Nguyễn, làng có 19 tú tài
và cử nhân, nhiều người đỗ đạt đã mở lớp dạy học hoặc ra làm quan.
Về Phước Tích hôm nay, điều làm bao người đến
đây không khỏi nhạc nhiên và sửng sốt chính là trong hoàn cảnh chiến
tranh ác liệt kéo dài, bom đạn dù đã cày xới hết từng cành cây, ngọn cỏ
thế mà những nét cổ kính của các công trình kiến trúc, nhà cửa, đền
miếu, cây cối cũng như người làng vẫn vượt qua những thách thức của 2
cuộc kháng chiến trường kỳ và thần thánh của dân tộc ta. Làng Phước
Tích đến nay vẫn còn lưu giữ những di sản vật thể vô giá vừa cổ kính,
vừa đồ sộ. Trong tổng số 117 nóc nhà của làng , hiện còn tới 27 ngôi
nhà cổ, đa số là nhà rường 3 gian hai chái và 10 nhà thờ họ cổ. Trong
đó có 12 nhà rường của các gia đình được xếp vào loại có giá trị đặc
biệt. Điều lý thú là các ngôi nhà rường cổ ở Phước Tích liên kết với
nhau, chỉ cách nhau 1 khu vườn rộng với những hàng chè tàu xanh, thẳng.
Nó như một sự sắp xếp có dụng ý để hoà vào cảnh vật thiên nhiên thơ
mộng của dòng sông hiền hoà như dải lụa đào uốn lượn qua làng soi bóng
những cây cổ thụ có tuổi đời gắn với tuổi của làng. Bên cạnh những nhà
rường cổ kính là các di tích lịch sử văn hoá, tín ngưỡng dày đặc, vừa
mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc trưng của làng.
(Baobinhdinh) |