|
Vượt ngàn về Kon Trú
Trời mưa. Cơn mưa cuối đông ở rừng tuy không còn
nặng hạt nhưng cũng làm cho chúng tôi vất vả khi phải cuốc bộ trên con
đường mòn, đá lởm chởm, trơn trợt. Anh Ngớp - cán bộ VHTT xã Bok Tới,
người đồng hành với tôi - cho biết, trước đây đường đi Kon Trú bắt đầu
từ cuối dòng suối Tem, chạy men theo sườn núi Bà Bơi, rộng chừng 2-3
mét, do bộ đội làm trong chiến tranh.
Sau này do không được tu bổ, con đường hư hỏng, cây
mọc um tùm, các gầm đá bị nước cuốn trôi nên không đi được. Người dân
Kon Trú xuống xuôi lại khai thông lối mòn này, tuy dễ đi nhưng phải qua
một cái dốc dựng đứng, dân địa phương gọi là "Dốc Lết". Đúng như tên
gọi, nếu ở trên xuống thì người đi gần như đặt mông trên nền đất mà
lết, còn ở dưới lên thì phải dùng cả tay và chân vừa đi vừa bò.
| |
Giã cốm chuẩn bị lễ tại nhà Rông của làng. |
Vất vả lắm, chúng tôi cũng tới trảng bằng đỉnh dốc.
Cái khó nhất trên đường tới làng Kon Trú chúng tôi đã qua. Tiếp tục đi,
nhưng bước chân cứ ngập ngừng ái ngại vì sợ con vắt rừng. Dù đã được
cảnh báo: "Vùng này có nhiều vắt lắm, tránh dẫm đạp trên các đống lá
khô, nơi chúng trú ngụ", nhưng cuối cùng cũng có vài con bám chặt vào
chân tôi, rất may là chưa bị chúng cắn chảy máu.
Hết mưa trời lại nắng, những tia nắng yếu ớt.
Giữa trưa, sau cơn mưa, xuyên qua màn sương khói đá trôi theo chiều gió
đông thổi se lạnh, đủ phản chiếu những mái nhà sàn bạc màu thời gian,
mà từ trên sườn đồi cao tôi nhận ra, giống như những cây nấm mọc giữa
ngút ngàn màu xanh cây rừng. Đó là làng Kon Trú - làng vùng cao, xa
nhất, cách trung tâm xã Bok Tới 10 cây số. Làng nằm trên sườn đất cao
ráo, nghiêng về phía nam. Ở đó hiện có 23 nóc nhà đều xây cất theo kiểu
nhà sàn truyền thống, nằm rải rác chung quanh, còn ở giữa khoảng đất
trống, bằng phẳng có một nhà sàn to, mái cong vút - đó là nhà Rông. Có
lẽ đây là làng còn nguyên vẹn không gian văn hóa theo lối cổ truyền của
tộc người Ba na ở Hoài Ân.
Tiếp chúng tôi tại nhà Rông, các ông trong Hội
đồng già làng của thôn cho biết: Làng Kon Trú từ xưa đến giờ vẫn vậy,
cuộc sống chưa giàu có nhưng đã đổi mới hơn về cách sống, lối sống và
nếp nghĩ; hơn 2ha ruộng lúa nước được người dân canh tác cho năng suất
tăng hàng năm; chăn nuôi phát triển ổn định, hiện trong làng có đàn gia
súc trên 200 con trâu, bò; mỗi hộ đều có chuồng trại nuôi từ 2 đến 5
con heo, gia cầm thì nhà nào cũng có…, cái đói thực sự đã bị đẩy lùi
khoảng 3 năm nay. Đời sống tinh thần của người dân có tiến bộ hơn: ăn
sạch, ở sạch, đau ốm về trạm y tế xã chữa trị. Đặc biệt, năm 2002 huyện
cho Kon Trú có cái điện, máy điện chạy bằng dầu, nên cái ti vi ở tại
góc nhà Rông kia - ti vi của huyện cấp cho làng - mới làm vui con mắt
dân làng từng đêm. Hiện nay cũng có 3 hộ mua được ti vi, còn radio thì
nhà nào cũng có. Trong làng có một lớp mẫu giáo, do cô giáo của làng
đứng lớp, 10 em xuống học cấp một ở trường xã, 5 em đang theo học cấp 2
trường nội trú huyện. Tuy nhiên, điều khó khăn ở Kon Trú là con đường
đến làng không thể làm khác được; nước sạch cho sinh hoạt của người dân
trong làng hiện còn bỏ ngỏ, lâu nay cứ dùng nước tự chảy. Cách nay 10
năm, Nhà nước có hỗ trợ cho làng Kon Trú xây dựng 2 bể chứa, một giếng
đào nhưng dùng không được bao lâu thì bị hư hỏng…
Câu chuyện của chúng tôi tạm dừng khi Bok Gơ -
già làng - thông báo: "Chiều nay và tối nay làng Kon Trú ăn mừng cốm
lúa mới". Và, Bok mời chúng tôi tham gia đi thăm các bếp trong làng.
* Vui hội ăn mừng cốm lúa mới cùng dân làng Kon Trú
Cứ vào khoảng tháng 9, tháng 10 hoặc tháng 11 âm
lịch, khi lúa rẫy chín vàng, thì dân làng tổ chức lễ hội ăn mừng cốm
lúa mới. Trước đây lễ hội này thường diễn ra từ 3 đến 4 ngày, hiện nay
thì thường tổ chức 1 ngày 1 đêm. Lễ hội cốm lúa mới của làng bắt đầu từ
việc các bếp (nhà hộ gia đình) tổ chức cúng ông bà tổ tiên, tạ ơn các
thần linh.
Nhà Bok Nguôi là một trong 10 nhà tôi chứng
kiến lễ cúng cốm lúa mới. Cũng như các nhà khác, các lễ vật cúng không
thể thiếu gồm: cốm, lớ, thịt rừng hun khói, thịt rừng nướng, có cả gà
luộc, thịt heo nuôi được để trong nia, mẹt, trong lá chuối rừng, bày
chung quanh trên sàn nhà, ở giữa là 3 chóe rượu cần. Người thân trong
nhà, khách đến chung vui ngồi vòng tròn chung quanh, yên lặng. Bok
Nguôi cẩn thận lấy thanh củi đang cháy từ bếp châm lửa vào ngọn sáp ong
đã đính sẵn trên chóe rượu to nhất, rồi lâm râm đọc. Nội dung lời Bok
đọc được Bá Thanh giải thích: "Hôm nay nhà con tổ chức lễ cúng tạ ơn
các thần linh đã giúp nhà con có mùa màng bội thu…; ông bà tổ tiên đã
phù hộ gia đình con sức khỏe…; những của ngon, vật lạ làm được trong
năm, nay mời các thần linh, mời ông bà tổ tiên chứng giám…; mong năm
tới, tiếp tục phù hộ cho nhà con sung túc hơn…". Kết thúc lời cầu khấn,
Bok Nguôi đổ nước đầy vào các chóe rượu, vít cần rượu đưa về bốn hướng,
bốc các thức ăn mỗi loại một ít bỏ vào chiếc lá chuẩn bị sẵn, gói cẩn
thận treo trên cột rượu - "đây là phần để các thần mang đi khi dự xong
lễ" - Bá Thanh cho biết vậy…
Lễ cúng tạ ơn ở từng nhà hoàn tất, tiếng trống
Pơnưng, tiếng cồng chiêng dồn dập, thôi thúc một hồi, báo hiệu lễ hội
ăn mừng cốm lúa mới tại nhà Rông của làng bắt đầu. Đây là phần lễ có
tính cộng đồng, lễ vật được các nhà trong làng mang đến. Có gì mang nấy
nhưng không thể thiếu cốm lúa mới và rượu cần. Sau khi chuẩn bị xong,
già làng trịnh trọng thông báo tiến hành lễ ăn mừng cốm lúa mới.
Sau lời cúng tạ ơn, cầu phúc mong cho mưa
thuận, gió hòa, mùa màng năm sau tốt tươi, nhà nhà hạnh phúc, dân làng
khỏe mạnh, cùng nhau đoàn kết xây dựng bản làng no ấm và các nghi thức
cho thần linh, ông bà tổ tiên thưởng thức cốm lúa mới, uống rượu cần,
ăn thịt rừng… là đến cuộc vui toàn dân trong làng. Ai ai cũng hớn hở,
phấn khích, mời nhau từng nắm cốm thơm hương lúa mới, miếng thịt rừng
để dành và cùng thưởng thức hương vị nồng, cay, đăng đắng của rượu cần
được ủ bằng nếp lúa mới với men lá cây rừng. Quyện vào đó là âm thanh
hùng tráng của dàn cồng chiêng thôi thúc; tiếng nhịp chày đôi, chày ba
giã cốm rộn ràng; tiếng đàn Tơ rưng, đàn Pơlơnkhơn của các Bok, các Yă
nhẹ nhàng, lảnh lót; tiếng hát của các Mí, các chị với những làn điệu
dân ca mượt mà; các chàng trai cô gái trong sắc phục Ba na truyền thống
rực rỡ sắc màu, đang múa, đang nhảy thể hiện nét khỏe trai làng, thể
hiện sự khéo léo, dẻo dai đôi vai, đôi chân và sức sống căng đầy trên
lồng ngực của người con gái núi rừng,… Ngọn lửa bập bùng của bếp lửa ở
2 đầu nhà Rông đã xé toạc màn đêm trong không gian tĩnh mịch. Bao âm
thanh vọng vào vách núi, vang xa như mời gọi nhà gần nhà xa, mời ông bà
tổ tiên, mời các thần sông, thần suối, thần núi, thần rừng… về cùng dân
làng vui ngày hội mừng múa cốm mới. Đêm hội tưng bừng. Người chứng kiến
khó lòng mà cưỡng lại. Hòa vào cuộc vui, nhìn mọi người, ta không còn
thấy cái nhọc nhằn lam lũ, lo toan cuộc sống mà chỉ thấy niềm phấn
khích, niềm vui sướng pha chút tự hào. Cuộc vui kéo dài thâu đêm, và
chấm dứt khi men rượu cần đã nhạt, hương cốm mới tan dần trong làn
sương sớm, con gà rừng báo hiệu cho một ngày mới bắt đầu.
Tạm biệt làng Kon Trú, tạm biệt ngày hội ăn
mừng cốm lúa mới của tộc người Ba na. Một lễ hội diễn ra trong không
gian rộng lớn, thu hút mọi thành viên, gắn kết cộng đồng làng, thể hiện
nhiều giá trị văn hóa của dân tộc Ba na thông qua lễ nghi, biểu diễn
văn nghệ dân gian. Điều đó đã làm cho diện mạo của lễ hội ăn mừng cốm
lúa mới thêm phong phú và đa dạng. Chính lễ hội đã biểu hiện sức sống
mãnh liệt của một tộc người có nền văn hóa bản địa đặc sắc, là tấm
gương phản chiếu sinh hoạt cộng đồng, hội tụ tinh hoa văn hóa mà người
Ba na đã xây dựng, vun đắp qua quá trình lịch sử lâu đời. Lễ hội ăn
mừng cốm lúa mới cùng với các lễ hội khác nói riêng, văn hóa Ba na nói
chung, sẽ mãi mãi trường tồn, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa
Việt Nam vốn giàu bản sắc.
(Baobinhdinh) |