 | | Một góc xã Ngũ Phụng - Phú Quý |
Chuyện xưa kể lại rằng: “Lâu lắm rồi khi trên đảo chưa có người ở. Một
hôm cuối năm, hàng chục chiếc hạm thuyền lớn treo những chiếc cờ nhiều
màu và nhiều chiếc thuyền nhỏ dẫn giải một người con gái xinh đẹp cùng
đoàn tùy tùng hơn 100 người cả nam lẫn nữ ngược sóng ra khơi và cập vào
đảo.
Trên các hạm thuyền còn có lều, bạt, dụng cụ lao
động, một số hạt giống và lương thực đủ cho đoàn người ở lại trên đảo
ăn trong một năm. Khi chiều xuống, giờ chia tay cũng đã đến, người con
gái hướng về phía đất liền khóc lóc vái lạy, đoàn tùy tùng cũng làm
theo chủ của mình. Phút chốc đoàn hạm thuyền lui nhanh như khi nó đến
và mất hút về phía đất liền. Việc này rất bí mật, mãi hàng trăm năm sau
người ta mới biết…”.
Đoàn người ở lại trên đảo hoang vu, bốn bề là
biển, không một bóng người. Họ phân công nhau cắm lều trại, canh gác và
khai hoang làm rẫy. Điều đáng quan tâm hàng đầu lúc này là làm đất gieo
hạt giống, bởi lương thực được mang đi theo chỉ đủ ăn trong vòng chưa
đầy một năm.
Hàng chục năm bám đảo chăm chú làm ăn, dần dần
trên đảo đã có các loại cây bắp, khoai lang, củ mì, lúa cạn và những
thứ hoa màu khác. Những làng mạc hình thành dần với hàng chục ngôi nhà
trong mỗi làng, dù rất nhỏ.
Về sau người ta mới biết đoàn hạm thuyền năm
xưa dẫn giải người con gái ra đảo cùng đoàn người tùy tùng, chính là
hạm thuyền của Hoàng tộc Chăm. Còn người con gái trẻ đẹp xưa kia chính
là công chúa Bàn Tranh, con gái út của nhà vua Chăm, vì không vâng lời
vua cha nên bị đày ra đảo.
Hàng trăm năm sau, ở trên đảo đã hình thành
nhiều làng mạc rộng lớn nối liền từ bờ Đông sang bờ Tây của đảo. Đó là
những làng Chăm xưa do công chúa Bàn Tranh và đoàn tùy tùng lập nên.
Dù cho nhà vua, cha của nàng đã băng hà từ lâu,
nhưng theo lệnh của triều đình, công chúa Bàn Tranh bị đày vĩnh viễn
không cho về đất liền dù chỉ là một lần cuối đời để tiễn đưa cha.
Về sau khi nàng chết, người Chăm trên đảo đã xây đền thờ để thờ nàng tại đây. Trong ngôi đền có cả mộ của công chúa Bàn Tranh.
Vào khoảng cuối thế kỷ XV thì người Chăm lần
lượt rời khỏi đảo. Họ để lại trên đảo ruộng vườn của mình cùng những
công trình thủy lợi xây bằng đá, những giếng cổ để lấy nước ngọt cùng
ngôi đền thờ công chúa Bàn Tranh. Ngày nay trên đảo người ta còn thấy
nhiều giếng cổ được làm một cách công phu và đầy kinh nghiệm. Không ít
giếng vẫn cho đầy nước ngọt phục vụ cho đời sống người dân trên đảo, và
cũng không ít giếng đã bị lấp dần.
Riêng đền thờ công chúa Bàn Tranh, cùng những
giấy tờ liên quan đến tâm linh và việc thờ phụng, trước khi rời đảo,
người Chăm bàn giao cẩn thận cho những người Việt thuộc thế hệ đến đảo
đầu tiên để tiện cho việc chăm sóc.
Đền thờ được người Việt tiếp thu và phụng thờ
theo truyền thống của người Việt. Người Việt ở đảo xưa cũng như nay gọi
đền thờ là Miếu và tôn vinh nàng công chúa Bàn Tranh là Bà chúa đảo
hoặc Bà chúa Xứ. Ngày ngay ai đến đảo Phú Quý, trên đường đi từ xã Ngũ
Phụng đến xã Long Hải sẽ nhìn thấy ngôi đền thờ hiu quạnh bên đường.
Được nghe những câu chuyện về công chúa Bàn Tranh đều bùi ngùi cho thân
phận của nàng. Những thửa ruộng trồng hoa màu của người dân bao quanh
đền thờ được gọi là ruộng vua. Gần đó có một số giếng Chăm cổ, phía
dưới phần tiếp nước lát gỗ và phần trên xây đá, đó là những đặc trưng
trong kỹ thuật xây giếng của người Chăm xưa.
Đền thờ đã bị sụp đổ nhiều lần, mỗi lần sụp đổ
là một lần nhân dân trong các làng trên đảo đóng góp công sức và vật
liệu để sửa sang lại. Tuy nhiên sau nhiều lần tu sửa chắp vá và không
đồng bộ, trong tình trạng “tam sao thất bản” ngôi đền không còn như xưa
nữa. Nguyện vọng của nhân dân là muốn Nhà nước có chủ trương quan tâm
khôi phục lại ngôi đền xưa để trả ơn cho người có công khai phá đảo đầu
tiên đã được các thế hệ cư dân ở đây tôn vinh là Chúa đảo.
Trên đảo hiện nay có chính thức 34 di tích lịch
sử-văn hóa nhưng trong đó chỉ có đền thờ công chúa Bàn Tranh là đền thờ
chung cho các làng xưa trên đảo, nay thuộc 3 xã: Tam Thanh, Ngũ Phụng,
Long Hải. Những di tích còn lại được thờ riêng cho từng làng, từng xã.
Những công lao to lớn của công chúa Bàn Tranh
về tạo lập làng mạc, bảo vệ vùng hải đảo phía Nam của đất nước đã được
các vua triều Nguyễn ghi nhận và ban tặng sắc phong, giao cho các làng
thờ phụng. Trong đền thờ hiện nay còn một số di vật linh thiêng như bài
vị, bệ thờ, liên đối, hoành phi ca ngợi công chúa Bàn Tranh. Một đôi
liên cổ ở khám thờ khắc bằng chữ Hán, tài liệu lưu ở Bảo tàng Bình
Thuận với nội dung:
“Hiển hách miếu thần ngàn năm còn đó
Linh thiêng cung thánh vạn thuở chẳng dời”
Câu đối khắc bằng chữ Hán gắn ở cột đền thờ với nội dung”
“Linh thần hiển hách phù trong đảo
Giúp nước thay trời cứu vạn dân”
Để tưởng nhớ công ơn bà Chúa đảo, nhân dân trên đảo cử một cụ già trông giữ đền và thường xuyên nhang khói.
Hàng năm cứ đến ngày mùng ba tháng giêng (âm
lịch) nhân dân trên đảo Phú Quý lại tổ chức lễ hội rước sắc bà Chúa đảo
từ nơi lưu giữ về đền thờ và làm lễ tại đó. Sau lễ nghi tại đền thờ,
sắc phong lại được chuyển giao cho một làng khác cất giữ, đến ngày mùng
ba tháng giêng (AL) năm sau lại tổ chức lễ hội rước sắc bà Chúa đảo.
Đây là một phong tục lạ ở Bình Thuận và nhiều nơi khác. Mục đích chính
là để các làng phải có trách nhiệm với bà Chúa đảo cũng như việc cất
giữ sắc phong của vua ban như một phong tục tốt đẹp với hậu thế.
Đây là một điểm thuộc loại hình du lịch khám
phá lịch sử lý thú trên đảo. Hiện nay Bảo tàng tỉnh đang nghiên cứu
khôi phục lại ngôi đền xưa theo yêu cầu của chính quyền địa phương và
nhân dân trên đảo. Góp phần hướng cho du lịch phát triển ra phía đảo và
kết nối hệ thống di tích trên đất liền với hệ thống di tích trên đảo
thành một tuyến trong hành trình khám phá những điều mới lạ của du
khách.
(Binhthuantoday) |