|
Ở Thanh Hóa đá đi vào đời sống sinh hoạt của người
dân từ hàng ngàn năm nay. Đá có ở đây từ thời kỳ đồ đá qua những dấu
vết khảo cổ học, tồn tại - phát triển - và bảo lưu cho đến ngày nay. Đá
có mặt mọi nơi trong đời sống.
Cối đá, chày đá giã cua, giã giò, giã gạo, cối đá
xay đậu, xay bột gạo, con lăn đá lăn rơm đập lúa, giường đá, thúng đựng
nước bằng đá, giếng đá, bàn thờ đá, bia đá, bát hương đá, câu đối đá,
thơ trên núi đá, voi đá, ngựa đá, thú đá, người đá, thành đá… Đá làm
nền nhà, tảng kê, ốp tường, lát sân… Lăng mộ vua chúa, đền thờ, đình
chùa…nguy nga đồ sộ đều dùng nhiều vật liệu đồ thờ bằng đá.
Không chỉ được sử dụng rộng rãi ở địa phương.
Nguồn đá Thanh Hóa còn được đưa bằng đường sông, đường biển ra bắc xây
dựng Hoàng thành Thăng Long, vào Nam xây dựng Cố đô Huế. Thành đá Nhà
Hồ (Vĩnh Lộc) là di sản văn hóa đá độc nhất vô nhị ở Việt Nam. Đặc biệt
đá núi Nhồi là đá quý. Đá núi Nhồi còn là đá thiêng. Đồ thờ đá nơi đền
chùa đều làm từ đá núi Nhồi. Đá núi Nhồi góp phần xây dựng Lăng Bác,
quốc kỳ trong Lăng Bác lấy từ núi ở huyện Cẩm Thủy.
Đồ đá Thanh Hóa bảo lưu tiến trình liên tục của
người cổ Việt Nam. Cách đây 50 vạn năm từ thời đồ đá cũ, người nguyên
thủy đã ghè những mảnh tước làm công cụ hiện còn ở di chỉ núi Đọ (huyện
Thiệu Hóa), núi Nuông, núi Quan Yên (huyện Yên Định). Văn hóa hậu kỳ đồ
đá cũ (tương ứng với văn hóa Sơn Vi cách nay 12.000 năm) tìm thấy ở
hang núi Một (Cẩm Thủy), lớp dưới mái đá Diều, mái đá Nước, hang Anh Rồ
(huyện Bá Thước), hang Con Moong (huyện Thạch Thành) kéo theo suốt dải
vườn Quốc gia Cúc Phương đến “động người xưa” của Ninh Bình. Các công
cụ ghè đẽo đã mang tính chuyên dụng, công cụ bằng xương mài nhọn, mộ
táng nằm bó gối và đồ trang sức được chôn theo. Sang thời kỳ văn hóa đồ
đá mới (tương ứng văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Đa Bút,
cách nay 11.000 năm) được tìm thấy trên 30 di chỉ khắp các huyện miền
núi Thanh Hóa. Văn hóa Bắc Sơn(cách nay 8.000- 7.000 năm) tìm thấy các
di chỉ ở huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước, huyện Thạch Thành. Thời kỳ
này, con người đã biết nấu chín và định cư theo thị tộc mẫu hệ với canh
tác trồng trọt chăn nuôi, đã có chày nghiền, cối, đồ gốm, thổi nấu, có
hình vẽ trên vách hang. Văn hóa Đa Bút dưới chân núi Mông Cù (Vĩnh Tân,
huyện Vĩnh Lộc cách nay 6.000 năm) đã phát hiện rìu mài hai mặt, công
cụ bằng xương, bằng sừng, có vết tích chài lưới, nhiều xương cá biển và
nhà lều ở ngoài trời. Nằm trong văn hóa Đa Bút có di chỉ Cồn Cổ Ngựa(Hà
Lĩnh, huyện Hà Trung), Gò Trũng (Phú Lộc, huyện Hậu Lộc), là những di
chỉ ở vùng đồng bằng và ven biển. Điều này đã chứng tỏ người cuối thời
đồ đá mới đã mở rộng đến đồng bằng và phát triển nghề trồng lúa nước và
nuôi trâu bò. Di chỉ hang Thẩm Hài và hang Thẩm Trôi ở huyện Thường
Xuân lại thuộc giai đoạn cuối cùng của thời đại đồ đá phát triển cao
thuộc văn hóa Phùng Nguyên.
Văn hóa Hoa Lộc (huyện Hậu Lộc cách nay 4.200
năm) là gạch nối giữa thời đại đồ đá sang thời đại đồ đồng. Theo nhóm
tác giả “Văn hóa trong tay bạn” cho rằng tiến trình có cả ba giai đoạn
phát triển từ di chỉ Cồn Chân Tiên(sát chân núi Đọ phái đông nam thuộc
Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa) đến di chỉ Đông Khối (Đông Cương, TP
Thanh Hóa, cách nay 3.100 năm) đến di chỉ Quỳ Chử và 7 địa điểm khác:
Bãi Vác (xã Đông Hòa), xóm Rú (xã Đông Lĩnh), Đồng Ngầm (xã Đông Tiến),
núi Nấp(xã Đông Hưng), làng Đông Sơn (TP Thanh Hóa), Đan Nê (huyện Yên
Định), Thiệu Dương (huyện Thiệu Hóa). Dụng cụ đồ đá mới thời này đã đến
độ hoàn hảo, có lưỡi cuốc, lưỡi cày đá, đồ gốm nồi niêu phong phú. Di
chỉ cồn Chân Tiên có vị trí quan trọng, mở đầu việc hình thành Bô Cửu
Chân, kẻ Chàn được giả thiết là tên nôm của Cửu Chân. Đông Khối là di
chỉ công xưởng chế tác đá phong phú và rộng lớn nhất Việt Nam thuộc
thời đại đồng thau. Ở đây tìm được di vật đầu tiên của chõ đồ xôi bằng
gốm. Văn hóa Quỳ Chử đã tìm được rìu cân, rìu xén, mũi giáo, tên đồng
trang trí hoa văn đúc nổi và các dụng cụ để nấu và đúc đồng.
Tiến trình phát triển của thời đại đồ đá ở
Thanh Hóa càng minh chứng Thanh Hóa cũng là cái nôi của loài người từ
cộng đồng thời nguyên thủy với bộ lạc, bộ tộc đến sơ khai Nhà nước Văn
Lang của Vua Hùng.
Đồ đá Thanh Hóa từ thời Bắc thuộc đến các triều
đại phong kiến Việt Nam cho ta nhận ra tiến trình tư duy thẩm mỹ của
người thợ đá xứ Thanh, từ giá trị sử dụng đến cách điệu thẩm mỹ, từ
thẩm mỹ dân gian đến dấu ấn nghệ thuật tượng trưng cổ điển của các
triều đại phong kiến Lý- Trần- Lê- Nguyễn trên văn bia đồ thờ.
(Baobinhdinh) |