|
Lửa đã bùng lên và rượu cứ thế tràn trề. Tiếng
chiêng khai hội thúc giục dập dồn những bước chân của đàn ông, đàn bà,
trai, gái và cả trẻ con xoay vòng với cuộc vui. Một góc rừng Nam Tây
Nguyên rạng rỡ những nụ cười trên những gương mặt người sạm nâu nắng
gió. Trong cuộc cuộc vui cộng đồng ấy, lửa và rượu của đồng bào dân tộc
thiểu số Nam Tây Nguyên không phải là một thứ lửa và rượu bình thường...
“Đêm rừng từ ngàn năm trước và đến ngàn năm sau
không thể thiếu lửa. Lửa bừng lên niềm tin trong mắt người. Rượu nồng
nàn trong đôi tai những chàng trai miền sơn cước. Với rượu ánh mắt
thiếu nữ diễn đạt được lòng mình nhiều hơn. Ta nghe bằng tai nhưng âm
thanh được lọc qua hương nồng của men rừng” - Ha Soanh, một trí thức
người Cill ở buôn Ka La, xã Đầm Ròn, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng giải
thích với tôi như thế. Anh còn nói thêm: “Điều ấy như một nguyên tắc
sống của đồng bào mình”. Ra thế: là một thứ lửa nhưng cao hơn lửa, là
rượu nhưng cao hơn cả rượu!
Trong cuộc sống cộng đồng của các dân tộc thiểu
số Nam Tây Nguyên - Lâm Đồng - nói riêng và cả Tây Nguyên nói chung,
lửa và rượu là hai thứ không thể thiếu. La cà trên những buôn làng vùng
Nam Tây Nguyên trong nhiều năm, tôi đã không ít lần được tận mắt nhìn
thấy “ngọn lửa” trong sinh hoạt hằng ngày của đồng bào dân tộc thiểu số
Mạ, Churu, Kơho… Trong căn nhà dài, ngọn lửa trong bếp chính (bếp của
tiểu gia đình người cao tuổi nhất) không bao giờ tắt. Đêm, sau bữa cơm
tối, cả nhà ngồi quây quần bên bếp lửa chính. Ngọn lửa ấy không chỉ có
giá trị sưởi ấm con người ta mà còn là vị thần chứng giám những điều
giáo huấn mang tính dòng tộc, cộng đồng.
Ngày sang, ngọn lửa theo con người lên rẫy:
Trước khi tra hạt giống, bao giờ trên nương cũng có một ngọn lửa được
nhóm lên như là một dấu hiệu cầu an của chủ nhân trước những thần rừng,
thần núi, thần sông. Chiều xuống, trước khi rời khỏi nương rẫy, bao giờ
chủ nhân cũng vùi lửa, vun tóm tro than thành đụn và đặt lên đó một hòn
đá (để không cho ngọn lửa bùng lên có thể gây ra cháy rừng); và đó là
dấu hiệu báo cho người khác biết nơi ngự trị của thần lửa, không được
giẫm đạp hoặc bước ngang qua. Đêm về, ngọn lửa theo họ vào nhà với bếp
chính được khơi ra và thêm củi. Vào lúc làng có hội và lễ, ngọn lửa
được đốt lên ở một vị trí trung tâm để mọi người cùng nhìn thấy và mang
lễ vật đến chung vui cộng đồng. Và cứ thế, ngọn lửa theo con người ta
đến lúc nhắm mắt xuôi tay: lửa trong lễ bỏ mả.
Và rượu: không thể thiếu trong sinh hoạt cộng
đồng. Có thể nói, rượu của người thiểu số Nam Tây Nguyên nói riêng và
người thiểu số Tây Nguyên nói chung mang tính nghi thức nhiều hơn so
với rượu của một số dân tộc khác. Một trong những bằng chứng đó là,
người thiểu số chỉ sử dụng rượu khi và chỉ khi có ít nhất từ hai người
trở lên. Nói cách khác, họ không có thói quen độc ẩm nên rượu không bao
giờ là một thứ phương tiện thuần tuý. Với người thiểu số, một sinh linh
khi hiện hữu ở cõi đời, người thân và cả cộng đồng đến mừng thì lễ vật
mang theo không thể thiếu rượu. Cũng như thế, rượu hiện hữu trong lễ
cưới và cả trong lúc tiễn đưa người chết. Tuỳ thuộc tính chất từng lễ
nghi mà rượu lễ nhiều hay ít và ngon đến mức độ nào. Những dãy ché dài
tít tắp. Hàng người nối nhau ngồi vít cong cần là hình ảnh được nhiều
tác phẩm văn học dân gian của đồng bào thiểu số mô tả.
Trong lịch sử, không ít xích mích, mâu thuẫn
dòng tộc, cộng đồng được hóa giải bằng những cuộc “thương thuyết rượu”.
Và đây cũng là một thứ triết lý về rượu: Ai say rượu bừa bãi sẽ bị dân
làng phạt! Chung quy, rượu của người thiểu số không hiểu theo nghĩa đơn
thuần.
“Rượu thường đi kèm với lửa. Trong sinh hoạt
cộng đồng, đã có lửa thì thường là có kèm thêm rượu. Tất nhiên, hiểu
theo nghĩa thông thường thì lửa và rượu chỉ là những phương tiện. Nhưng
trong văn hóa của người thiểu số Tây Nguyên nói chung và Nam Tây Nguyên
– Lâm Đồng – nói riêng, lửa và rượu không đơn thuần chỉ lửa và rượu mà
đó là một triết lý sống, một thứ văn hóa!” – Ha Soanh giảng giải với
tôi như vậy. Và, tôi xin được chép ra điều này…
(Baobinhdinh) |