 | | Phong tục và nghi thức Lễ Cầu an của người Nùng-Sông Mao |
Người Nùng ở xã Hải Ninh, huyện Bắc Bình là được di cư từ Quảng Ninh
vào Sông Mao năm 1954. dù hòa nhập vào cộng đồng người Việt nhưng họ
vẫn giữ những nét văn hóa truyền thống riêng như ngôn ngữ, nhân sinh
quan và sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh của văn hóa Trung Hoa. Hơn 50 năm
qua, từ khi đến Sông Mao sinh sống người Nùng đã tổ chức 3 lần lễ Cầu
an vào các năm 1974, 1992 và 2004 theo tục lệ 12 năm tổ chức lễ Cầu an
một lần.
Cũng như một số cộng đồng dân tộc khác, người Nùng
quan niệm rằng ở trần gian có đủ thứ ma tà, ác quái bằng mắt thường
không thể trông thấy được, chúng gieo rắc tai họa, bệnh tật và chết
chóc cho dân lành. Từ suy nghĩ đó, người Nùng thấy cần làm lễ Cầu an
cầu siêu cho các linh hồn người chết oan ức được siêu thoát, trừ mọi tà
ma và quỷ quái để cầu yên cho xóm làng.
Để chuẩn bị cho lễ Cầu an, Ban tế lễ của làng
đứng ra tổ chức và chọn nơi đất trống nằm cách khu dân cư về hướng Đông
để hành lễ. Trước thời gian diễn ra lễ chính khoảng 60 ngày, Ban tế lễ
của làng dựng một tre Phướn Cáo Bạch tại sân lễ để thông báo cho nhân
dân trong làng biết, đồng thời cáo phó với trời đất thời gian chính
thức lễ Cầu an của làng. Trên ngọn tre Phướn buộc sợi dây Phướn bằng
vải đỏ đề 8 chữ: “Mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an” bằng chữ Hoa. Từ
lúc tre Phướn được dựng đến thời gian diễn ra lễ chính thức, nhân dân
trong làng có hằng tâm cầu nguyện phước lộc, thường xuyên lui tới thắp
hương dưới gốc tre Phướn, với thành tâm nguyện ý mong được chứng giám
và phù hộ.
Lễ Cầu an diễn ra trong thời gian 3 ngày, tại
sân lễ dựng lên gian thờ bài vị tổ tiên ở chính giữa, hai gian tả-hữu
thờ Ban văn và Ban võ. Ngoài ra, bên hữu sân lễ dựng một gian trại đặt
thờ bài vị của những người trong làng bị chết oan ức hay do nghèo khi
chết không tổ chức đám tang.
Ngày đầu tiên dựng một tre Phướn Văn, tượng
trưng cầu sinh nở và sự trường tồn bất tử của con người, một tre Phướn
Võ tượng trưng cầu phước lộc đầy nhà, làm ăn buôn bán được thuận lợi và
giàu có. Trên mỗi ngọn tre Phướn được buộc một sợi dây Phướn bằng vải
đỏ và kéo vào buộc trước gian thờ Ban văn và Ban võ, trên mỗi sợi dây
Phướn viết tên làng xã tổ chức lễ Cầu an và nội dung cầu khấn. Trên
thân tre Phướn, cách mặt đất khoảng 2 mét treo một lồng đèn luôn được
thắp sáng, với niềm tin sẽ sưởi ấm, soi sáng tấm lòng mong mỏi của nhân
dân trong làng với trời đất.
Nhân dân trong làng nếu muốn cầu sinh đẻ, gia
đạo, lộc thọ thì dựng một tre Phướn bên hữu tre Phướn văn và buộc dây
Phướn vải kéo vào trước gian thờ Ban văn. Nếu cầu lộc, làm ăn buôn bán
phát đạt thì dựng cây tre Phướn bên tả tre Phướn võ của làng và buộc
dây Phướn kéo vào buộc trước Ban võ.
Sau đó, dựng một cây tre Phướn ông Tiêu (cai
quản hỏa ngục), tổ chức đoàn rước ông Tiêu đến các đền, miếu, chùa để
xin phép các vị thần linh cho dân làng thực hiện lễ Cầu an và cuối cùng
là rước Thánh Quan Âm và Thánh chỉ về sân lễ chứng giám. Thánh chỉ, bài
vị Thánh Quan Âm được đưa vào đặt ở gian thờ tổ tiên của làng tại sân
lễ. Tiếp đó, đoàn rước ra bờ suối thực hiện nghi thức ban một con gà
sống và một ngọn đèn cho ba người có hằng tâm đóng góp nhiều nhất cho
lễ Cầu an. Theo con nước chảy, người nhận được ngọn đèn xem như được
soi sáng tấm lòng thành, luôn được trong sáng, thanh thản và bình an
trong cuộc sống. Còn nhận gà sống mang ý nghĩa tượng trưng cho việc nối
dõi, sự sống trường tồn của dòng họ và sẽ sinh con cháu đầy đủ.
Lễ thỉnh cây tre “Cửu lang”, đây là cây tre
Phướn tượng trưng cho các vị thần linh có oai vũ gọi được tất cả những
oan hồn, quỷ dữ thường hay quấy phá đời sống lao động của nhân dân. Tre
Phướn Cửu lang được dựng tại sân lễ xem như thiên lệnh giúp ông Tiêu
tập trung tất cả những nguyệt oan, khuất tất để thực hiện việc siêu độ,
hóa giải cho các linh hồn được đầu thai kiếp khác.
Ngày hôm sau, bắt đầu là lễ xin Ban nước và
Thỉnh nước về tẩy uế sân lễ cho sạch để chuẩn bị cho lễ Thượng Đao Sơn.
Lễ Thượng Đao Sơn, bằng cách lập hai chiếc cầu thang, bậc thang làm
bằng 12 lưỡi dao dựng ngược lưỡi lên. Vào lễ cúng, theo cổ tục phải
chặt đầu một con bò và một con heo sống để tế lễ. Sát sinh ở lễ này
nhằm mục đích phân phát phần ăn cho các loài quỷ dữ và những vong hồn
chết oan. Việc leo lên thang dao được xem như nỗ lực vượt khó khăn,
gian truân trong cuộc sống, đồng thời để diệt dữ, giải oan cho chúng
sinh và cầu phước cho mọi người.
Lễ Qua Hỏa Liên (qua than hồng), hình thức làm
một bờ than dài 10 mét, rộng 1 mét được đốt hồng lên suốt lễ tụng niệm
cầu siêu với thời gian khoảng 9 tiếng đồng hồ. Từng đoàn người đi qua
than hồng, nói lên sự giải thoát, đốt sạch những oan khuất, đem lại
trong sạch tốt lành và thanh tịnh trong cuộc sống.
Lễ đốt hình nhân ông Tiêu và hạ tre Phướn ông
Tiêu, xem như ông Tiêu đã cai quản chu cấp đủ ăn, chốn ở cho các oan
hồn và dẫn chúng đến chỗ siêu thoát không còn quấy phá cuộc sống dương
gian nữa.
Lễ Cầu an (Tả tài phán) qua nhiều nghi thức như
lễ thỉnh tre Phướn Cửu lang, lễ Thượng Đao Sơn, lễ Qua Hỏa Liên… Có thể
nói, qua cách thực hiện hành lễ đã thể hiện nét đặc trưng văn hóa
truyền thống của người Nùng, đó là thể hiện lòng quyết tâm của sự chính
tâm, vượt khó khăn, nguy hiểm, tiếp thêm sức mạnh giúp con người đạt
được mọi điều tốt lành trong cuộc sống, đồng thời giải thoát cho những
oan hồn chết oan ức được siêu thoát và được đầu thai kiếp khác.
(Binhthuantoday) |