|
Cho đến những năm 80 của thế kỷ XX, khi đi trên quốc
lộ 1A, ngang qua Quảng Ngãi, người ta vẫn còn trông thấy những xe nước
dọc sông Trà, sông Vệ. Nhưng rồi những hình ảnh thân quen tự hàng mấy
trăm năm trước tựa như lời ru, bỗng lặn khuất và rồi bặt tăm.
Xe nước tương ứng với chữ Hán là thủy xa với ý niệm
dùng chính sức nước để đưa nước lên đồng ruộng. Xe nước không chỉ có ở
Việt Nam và ở Việt Nam không chỉ có xe nước ở Quảng Ngãi. Nhưng ở Quảng
Ngãi, xe nước có số lượng lớn, quy mô hoành tráng, nổi tiếng nhất trong
nước và ghi đậm trong tâm trí người địa phương cũng như khác phương xa,
nhạc sĩ Vân Đông có bài ca Nhớ đàn xe nước. Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm có
câu: Xe sông chở nước trưa hè lên cao. Nhạc sĩ Trương Quang Lục trong
ca khúc nổi tiếng Quảng Ngãi đất mẹ ngoan cường có câu: Tiếng hát bờ xe
ven sông Trà Khúc…
Xe nước ở Quảng Ngãi chủ yếu trên sông Trà Khúc
và sông Vệ. Trong đó, xe nước trên sông Trà Khúc lớn hơn về số lượng
lẫn quy mô. Ở các sông này, xe nước trải thành hàng trên sông, lấp
lánh, róc rách tiếng nước ngày đêm không ngừng chảy, tạo cho bức tranh
sông núi thêm phần sinh động, hùng vĩ mà nên thơ. Ở rìa phía bắc tỉnh
Quảng Ngãi, trên sông Trà Khúc cũng tập trung nhiều xe nước. Chưa kể xe
nước làng Phú Nhơn bên kia sông, trên địa hạt thành phố Quảng Ngãi ít
nhất cũng có 3 xe nước của các làng Thu Phố, Chánh Lộ, Ba La.
Theo P.Guilleminet trong tập Một ngành công
nghiệp An-nam thì xe nước du nhập vào Quảng Ngãi đầu tiên ở sông Vệ vào
khoảng giữa thế kỷ XVIII, trải qua một thời gian dài về sau đến sông
Trà Khúc và chính ở đây xe nước được dựng với quy mô và có số lượng lớn
(chúng tôi đã tìm được tư liệu ghi rất khớp vớưi công trình của
Guilleminet, với tên tuổi của người phụ nữ được gọi là “Mụ Diệm”, người
đầu tiên đưa kỹ thuật xe nước từ phủ Hoài Nhơn về dựng đặt ở làng Bồ
Đề, Quảng Ngãi). Theo Nguyễn Bá Trác trong tập Quảng Ngãi tỉnh chí, thì
ở Quảng Ngãi thời điểm 1933 có đến 96 bờ xe nước. Theo Nguyễn Đóa và
Nguyễn Đạt Nhơn trong tập Địa dư tỉnh Quảng Ngãi thời điểm 1939, thì
sông Vệ có chừng 50 bờ xe nước, sông Trà Khúc có trên 40 bờ.
Một bờ xe có từ 3 đến 10 bánh, tưới từ 15 đến
50ha. Nhờ xe nước mà những năm hạn hán, mùa màng ở Quảng Ngãi đỡ bị
thiệt hại. Theo tài liệu Quảng Ngãi tỉnh chí, trong số các xe nước được
thống kê, xe nước làng Thu Phố có đến 9 bánh (chỉ sau xe nước làng Đồng
Nhơn 10 bánh), tưới được 150 mẫu ruộng, số hoa lợi thu được 20.184 ang
lúa, tiền làm xe nước tốn đến 3.500 đồng, chi tiêu rồi còn 753 đồng,
đều cao nhất so với các xe nước khác, kể cả xe nước làng Đồng Nhơn. Còn
theo tập sách của Guilleminet (đã dẫn) thì xe nước các làng Thu phố,
Chánh Lộ cũng thuộc hạng cao về chi phí dựng đặt lẫn hoa lợi thu được.
Các tài liệu khác còn ghi ở làng Ba La có cả bờ xe đôi, nghĩa là cùng
một bờ có một đôi xe nước vận hành. Tài liệu của Guilleminet còn trích
một lá đơn (chữ Hán) của một người tên là Võ Văn Gui quê gốc làng Ba
La, đến trú tại Chánh Lộ năm Đồng Khánh thứ ba (1888) xin dựng 1 guồng
xe nước tại Chánh Lộ để tưới cho các thôn Bầu Lân, Thông Viên và Cổ
Đồng. Như vậy, rất có thể guồng nước ở Chánh Lộ xuất hiện muộn hơn xe
nước ở các làng Ba La, Thu Phố và chắc do địa hình khó dựng đặt và
người biết dựng đặt xe nước có muộn hơn. Không cần phải nhắc lại rằng,
các xe nước trên sông Trà Khúc đóng vai trò rất lớn trong sản xuất nông
nghiệp trong vùng, trong điều kiện mực nước sông có độ chênh quá cao so
với đồng ruộng mà chưa có những phương tiện cơ giới nào thay cho sức
người. Mặc dù xe nước luôn phải dựng đặt và dỡ dọn hàng năm để tránh lũ
lụt, tốn kém rất nhiều tiền bạc và công sức, nhưng không vì thế mà các
xe nước phải ngưng hoạt động trong một năm nào. Gần như nó cũng không
ngưng cả những khi có chuyển biến của thời cuộc, chiến tranh. Các xe
nước, trong đó nổi bật các xe nước làng Thu Phố, Chánh Lộ, Ba La thuộc
địa hạt thành phố Quảng Ngãi ngày nay, vẫn liên tục tồn tại qua nhiều
thời kỳ, từ thời Tây Sơn đến nhà Nguyễn, đến thời Pháp thuộc, qua hai
cuộc kháng chiến đến sau 1975. Sự tồn tại của các xe nước luôn gây ấn
tượng rất mạnh cho những ai có dịp đến thăm Quảng Ngãi.
Các nhà nghiên cứu Pháp đã không tiếc công sức
đi sưu tầm tài liệu, ghi chép điền dã, nghiên cứu tỉ mỉ về kỹ thuật, sự
vận hành, cơ chế ăn chia, lợi tức do các xe nước đem lại. Trong hai
cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước các bờ xe nước vẫn hoạt
động bình thường. Nhiều người Mỹ đã chụp ảnh, quay phim, thuê đóng mô
hình xe nước để làm vật kỷ niệm mang về nước. Sau 1975, guồng xe nước
tiếp tục tồn tại đến khoảng 10 năm sau, khi công trình Thạch Nham được
xây dựng. Tính ra xe nước ở Quảng Ngãi đã tồn tại liên tục khoảng 250
năm, gắn liền với hình ảnh thân thương của những người nông dân Quảng
Ngãi cần mẫn.
Khi xe nước còn tồn tại, đã có biết bao thơ
văn, bao bài hát ca ngợi bờ xe. Xe nước biến mất khiến mọi người luyến
tiếc. Đã có những ý tưởng muốn dựng đặt lại một vài xe nước ở đoạn sông
phía bắc thành phố Quảng Ngãi để lưu lại hình ảnh đẹp đẽ của một thời.
Đây là một ý tưởng hay, nếu thành hiện thực nó sẽ khiến xe nước sẽ thêm
đẹp trong hoài niệm cuảt mọi người.
(Baobinhdinh) |