 | Lô Văn Tài trước đỉnh Pù Lôm
|
Bản Xốp Mạt (xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, Nghệ An) xuất hiện
ngày càng nhiều tay móc nối đường dây ma túy trên đỉnh Pù Lôm. Riêng có
một người kiên quyết không rơi vào đường dây vì “nếu ta theo họ thì ta
đã để cho cái xấu thắng cái tốt, bản Thái ta sẽ còn gì?”. Đó là anh Lô
Văn Tài, đảng viên, từng là bí thư chi bộ xã, 48 tuổi - người duy nhất
ở Xốp Mạt quyết tìm cái sống bằng nghề trồng rừng.
Giữa vòng vây ma túy
Tôi trở lại bản Xốp Mạt nằm trên con đường rừng cheo
leo, lẩn khuất dưới sương bay. Vẫn những căn nhà tuềnh toàng như những
cái bóng vắng lặng dọc hai bên bờ thượng nguồn sông Nậm Nơn. Thi thoảng
tôi bắt gặp những ánh mắt bí hiểm của dân bản từ trong nhà sàn nhìn ra
như dò xét người khách lạ dưới xuôi vừa lên tìm hàng “trắng”.
Khi tôi đến, Lô Văn Tài đưa ngay vào căn nhà bảo vệ
trang trại mới dựng dưới chân núi Thẩm Nhương. Trải chiếu trên sàn mét,
Tài mời tôi ngồi rồi cẩn trọng kéo kín cánh cửa đan bằng nứa, nói nho
nhỏ: “Xốp Mạt vẫn căng như dây đàn. Anh ruột Lô Văn Tuấn vừa bị bắt
cuối năm 2005, đầu năm 2006 thằng em ruột Lô Văn Hưng cũng sập bẫy công
an. Ông bác Lô Văn Luân thì mới bị tra tay vào còng hôm tháng trước.
Nếu một người biết nhà báo vô bản tức khắc mấy tay đầu nậu trên đỉnh Pù
Lôm biết liền, phức tạp lắm”.
Tài cho biết từ hồi rời ngũ về đến nay anh luôn bị tay
chân của đầu nậu đến dụ dỗ vận chuyển ma tuý. Dụ không được nó dồn vào
chị Lô Thị Hợi - vợ Tài: “Cưới nhau đã có bốn mặt con mà chưa có cái
nhẫn đeo tay, đôi khuyên đeo tai, cái vòng đeo cổ. Muốn dựng cái nhà
ngói, muốn có tiền cho con ăn học chỉ có cách đi bế hàng cho đầu nậu
thôi!”.
Sau những lần “ăn gió nằm sương” hằng tuần cùng công
an, bộ đội trên Pù Lôm để truy quét “căn cứ” ma túy của đầu nậu, Tài
liên tục bị đe dọa: “Nếu cứ làm căng tao sẽ đốt hết kho thóc trên rẫy,
gài mìn giết hết trâu bò, giết chết cả vợ con mày”.
Những ám ảnh đó khiến Tài thường lo nghĩ. Nhưng ít ai
hiểu thấu những trăn trở của người lính sau khi trở lại bản quê. Tài
tâm sự: “Bố mẹ nuôi 12 anh em tôi bằng nương, bằng rẫy. Dòng họ Lô của
tôi có ai làm giàu bằng ma túy đâu. Hồi nhỏ, khi thấy ông nội bán một
lúc cả đàn bò chín con, tôi hỏi cha tôi vì sao.
Cha tôi bảo “ông mày nghiện ma túy nặng lắm, phải bán
để có cái hút”. Cha tôi răn: “Lớn lên mày phải trồng rừng, làm vườn,
chăn nuôi để sống. Cả bản Xốp Mạt này bỏ hoang rừng rú, không ai chịu
làm mà cứ nghe theo đầu nậu đi buôn bán ma túy. Mày phải khác, khác để
giữ lấy cái hồn Xốp Mạt của ta”.
Giữ trong lòng những lời ấy, Tài khuyên bảo vợ: “Thằng
Lô Văn Khoa chạy hàng cho đầu nậu đã bị tù chung thân. Vợ, em hắn liên
quan, mỗi người lãnh án 20 năm tù. Bác Tuấn - một trùm đường dây vừa ra
tù đã bị truy nã - có một trai, ba gái thì nghiện cả bốn đứa. Cả bản
này có bao nhiêu người giàu nhưng giàu để mà đi ngồi tù hoặc ngày đêm
lo chui rúc trong rừng theo tụi đầu nậu thì giàu có làm gì. Giàu vì ma
túy không yên được đâu”.
Cho đến khi Lô Văn Tuấn bị các đặc tình của phòng PC
17 Công an Nghệ An trong vai thợ săn cùng tổ dân quân do bí thư chi bộ
kiêm xã đội trưởng Lô Văn Tài chỉ huy, bắt sống trên đỉnh Pù Lôm, vợ
Tài mới biết chồng mình “thích sống khổ” chỉ vì không thể chung sống
với những đầu nậu ma túy.
1.000 cây mét đã xanh
Tôi theo Tài đến hang Thẩm Nhương. Hang đá hiện lên
như những cái hốc mắt đen ngòm, sâu hun hút giữa rừng hoang. Chợt tôi
nhìn xuống dưới bờ sông thấy từng tốp thanh niên lao xe máy đến rồi tấp
vào bụi cây.
Tài lại nói nho nhỏ: “Dân nghiện đấy. Sau khi tôi phát
quang cái hang này tụi nó không biết tấp vào đâu ngoài mấy cái bụi rậm
dưới đó”. Tài kể: “Hôm tôi vác rựa lên đây có kẻ đưa cả gói tiền đến gạ
gẫm, đòi thuê hang. Tôi bảo “số tiền này bằng cả mấy năm ta làm rẫy
đấy. Nhưng Thẩm Nhương là hang đá của trời, của bản, ta không có quyền
bán cho tay chân đầu nậu làm nơi tập kết ma túy. Ta bán hang này để đầu
nậu cướp hết con ta, cướp hết người Xốp Mạt à”.
Bên hang Thẩm Nhương có một con thác nhỏ đang tuôn
dòng nước trong vắt từ trên cao xuống nghe như tiếng nhạc rừng. Phía
cuối khe dội lên tiếng đục đá vang vang. Tôi nhìn thấy một thanh niên
đang gồng mình vít cong cây xà beng, bật lên từng tảng đá.
Hỏi chuyện mới biết đó là Lô Văn Phê - con trai đầu
của Tài. Phê sinh năm 1982. Học xong lớp 12 nhưng chỉ thích ở lại bản
làm công tác Đoàn “vì thấy chi đoàn của bản đang gặp khó khăn do quá
nhiều thanh niên bị nghiện”. Sau mấy đợt đi truy quét trên Pù Lôm, Phê
được xã tuyển làm công an viên rồi được bầu làm phó bản Xốp Mạt.
Chỉ vào cây xà beng cong vêu, Phê ước những tảng đá
này sẽ mau chóng trở thành cái đập, chặn dòng suối chảy qua hang Thẩm
Nhương, tạo thành hồ nuôi cá. Từ hồ cá, dông núi ngược thẳng lên trời.
Trên đó chị Hợi và cô con gái thứ ba đang khom lưng nhổ sắn.
Sau bữa cơm, Tài đưa tôi lội xuống thác Nhan Phát. Vừa
qua hết suối Nhạn Tôn bỗng hiện ra trước mắt tôi là một rừng mét hàng
ngàn cây xanh rờn. Những gốc mét có đường kính chừng 15cm đang vươn
mình, thả bóng xuống những dông núi khô khốc.
Đang rẽ đường đi chợt Tài dừng lại bên hốc mét, giải
thích: “Phải tìm được vùng có nhiều hốc đất mới trồng được cây mét, mét
mới phát triển”. Lịch chăm rừng mét của Tài là “ngày đi tỉa cây tạp,
đêm canh chòi bảo vệ, nếu không một gốc mét tụi nghiện cũng không từ”.
Tài tính: “Ở đây mét bán theo tỉ lệ 1cm/1.000 đồng. Gốc mét cứ nở thêm
1cm là có thêm 1.000 đồng. Sắp tới thủy điện bản Vẽ ngăn sông, bao
nhiêu bản Thái cổ di chuyển về vùng tái định cư thì rừng mét độc nhất
của tôi chắc chắn sẽ hái ra tiền”.
- Cả bản có bao nhiêu người trồng mét? - Tôi hỏi.
- Hôm cán bộ chương trình 327 về bản cấp vốn, vận động
mãi mới được 13 người, nhưng sau mấy ngày 12 người đã bỏ cuộc, chỉ còn
lại mình tôi.
Từ hôm đó, Tài lên xã xin thôi chức xã đội trưởng và
bí thư chi bộ xã để nhận chức chủ tịch hội nông dân. “Mình quyết cùng
bà con trở lại trồng mét vì mình không hướng dẫn kinh nghiệm thì một
cây ớt họ cũng chẳng trồng nổi đâu, trong khi đó tụi mẹo luôn bày trò
dụ dỗ đi tiếp tế lương thực đổi lấy heroin”.
Nói vậy, Tài lại trầm ngâm đứng nhìn sang ngọn núi Pù
Lôm trước mặt. Nơi mỗi lần nhắc đến “địa danh đen” này, nét mặt anh lại
gợn buồn vì “giá như ai cũng biết làm nương, làm rẫy, không nghe tụi
mẹo xúi giục lao theo ma túy thì dân bản đâu phải thay nhau ngồi tù,
rừng núi đâu còn trơ trọc như những miếng cháy nham nhở phơi giữa
rừng”.
(TTO)
|