|
Chia tay bản H’Mông, chúng tôi lây niềm vui của
những cánh chim di trú đã gặp mảnh đất lành. Nhớ mãi lời hẹn với Thào
Hoàng Khải sẽ lại gặp nhau vào đầu xuân năm tới. Sẽ thức bên nhau uống
bát rượu ngô, nghe điệu khèn lá và thả hồn theo sắc màu thổ cẩm thướt
tha của cô gái H’Mông giữa hội tung còn trên quê mới Tây Nguyên.
Trước
lúc lên đường, cứ tưởng lối vào bản H’Mông phải khúc khuỷu, ngoằn ngoèo
và heo hút lắm. Sự thực không phải như tôi nghĩ. Con đường từ ngã ba xã
Lộc Thành (huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng) vào đến buôn 10C - mà người dân nơi
đây quen gọi là bản H’Mông - đã được nhà nước đầu tư nâng cấp lâu rồi...
| | Nghệ nhân Thào Văn Di (ngồi thổi khèn) và những đứa trẻ H’Mông trên vùng quê mới. |
Trưởng
thôn Thào Hoàng Khải có dáng dấp một thủ lĩnh thật sự của bản H’Mông ở
Lộc Thành nhiều hơn là một cán bộ chỉ lo việc hành chính cơ sở. Trong
ngôi nhà khang trang của mình, giữa những người láng giềng, trưởng thôn
họ Thào kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về quê hương cũ, về những ngày
đầu lập nghiệp, lập cư trên vùng quê mới.
Xã Lang Môn huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng, quê cũ
của Thào Hoàng Khải, là một vùng quê thuộc chiến khu trong thời kháng
Pháp. Nơi ấy có ngọn núi Lũng Sao, Lũng Nặm, có dãy Lam Sơn và dòng
sông Vàng trôi qua Lang Môn quanh năm suốt tháng chở một màu vàng đục.
Khải nói rằng, quê anh đẹp lắm, hùng vĩ lắm nhưng cái khó, cái nghèo
thì dai dẳng, triền miên. Chất đất ở quê cũ là đất sét chỉ phù hợp để
trồng cây trẩu và cây ngô nhưng năng suất không cao. Người quê anh ăn
mèn mén quanh năm, có năm mất mùa, hết Tết đã phải vào rừng để đào củ
mài đắp đổi qua ngày. Thế rồi, chàng trai không cam chịu này đã quyết
định tìm đường mưu sinh cùng với những người đồng hương của mình. Lộc
Thành (Bảo Lâm, Lâm Đồng) là nơi họ chọn làm quê hương mới sau những
ngày khăn gói lần đường vào đây khảo sát. Hơn 100 con người cả già lẫn
trẻ đã thuê chiếc xe ca vượt một chặng đường trường hàng ngàn cây số
tìm vào đất mới. Giã biệt núi rừng phía Bắc, đến với rừng núi phương
Nam, họ mang theo chuyến đi dài ngày ấy khát vọng của một cuộc đổi đời.
Anh Khải kể rằng, nơi chúng tôi đang ngồi đây,
chỉ hơn mười năm trước là bãi nghỉ của lợn rừng, nai rừng. Sốt rét hành
hạ triền miên, tuần nào cũng phải thay nhau cáng người bệnh ra tận Bảo
Lộc. Khó khăn quá, người H’Mông đã có lúc nản chí nhưng chính già làng
K’Ho bên chân núi Chúa lại trực tiếp đến động viên họ ở lại bám đất mới
mưu sinh. Một miếng thịt mới săn, một bó rau rừng, vài ba gùi bắp kịp
thời trong cái tình “một miếng khi đói…” của ngày đầu lập bản, rồi sự
hỗ trợ, cứu giúp của lãnh đạo xã Lộc Thành, của huyện Bảo Lâm, cùng sự
giúp đỡ chí tình chí nghĩa của đồng bào K’Ho bản địa khi nhường lại bớt
phần đất đang canh tác cho họ lập bản mới đã giúp người H’Mông trụ lại.
Người H’Mông quen với cây bắp nên đã phủ màu
xanh của loài cây lương thực dễ trồng ấy lên những dãy đồi hoang. Có
mèn mén ăn rồi thì lo làm thêm ruộng lúa, đào ao thả cá, làm chuồng
nuôi lợn nuôi gà, ai khá hơn thì bắt đầu học cách trồng cà phê, trồng
chè. Chẳng bao lâu, sức sống đã lan tỏa lên những mái nhà. Không còn ai
nói tới chuyện quay về quê cũ nữa. Thào Hoàng Khải thật xứng với vai
trò là người tiên phong. Trước cuộc ra đi đến đất mới ngày nào, anh đã
bố trí theo đoàn người tha hương một bác sĩ để chăm sóc mọi người trong
khi bệnh tật và một cô giáo tiểu học để chủ động dạy chữ cho con em
những ngày đầu xa cách với cái lớp, cái trường. Một ngôi trường “tự
lập” đã mọc lên giữa “thung lũng hoang vắng”.
Khi bản H’Mông trở thành vùng cư dân chính thức
của tỉnh Lâm Đồng vào năm 1993, Phòng Giáo dục Bảo Lâm đã cho mở thêm
lớp, thêm thầy cô về dạy. Giờ thì ngôi trường ấy đã trở thành Phân hiệu
bản H’Mông của Trường tiểu học Tà Ngào - Lộc Thành với 130 cháu từ mẫu
giáo đến bậc tiểu học. Nhiều cháu đã học lên cao hơn, hòa nhập vào
những ngôi trường lớn với bạn bè nhiều dân tộc anh em ở xã Lộc Thành,
cách nơi này hơn 10km.
Các bậc phụ huynh kể rằng, để đến trường cho
kịp giờ học, các cháu phải thức dậy từ 3 giờ sáng. Điều vất vả đó đã
nói lên sự nỗ lực của một lớp người trẻ tuổi người H’Mông chọn đất mới
làm quê. Cháu Hoàng Văn Thông đang học lớp 9 trường xã đã tâm sự rất
thật: “Đi học khó khăn lắm chú ạ. Cháu phải thức khuya để học và dậy
rất sớm để vượt nhiều đèo, nhiều dốc trên đường đến trường. Được học
thật là vui. Thầy cô giáo và bạn bè cùng lớp đều thương và thông cảm
nhiều. Ông bà, cha mẹ ít cái chữ nên lam lũ nhiều rồi, lớp trẻ cần phải
cố gắng để vượt qua cái khổ!”.
*
Cuộc sống mới vẫn đậm đà nét văn hóa riêng
Cùng với trưởng thôn Thào Hoàng Khải, ngồi tiếp
chuyện còn có bí thư chi bộ người K’Ho là anh K’Xuân Gíp. Cũng qua Gíp,
chúng tôi biết là Khải đã trở thành đảng viên chính thức.
Khải nói: “Chưa có gì là sung sướng đâu, nhưng
so với cuộc sống trước đây thì người H’Mông chúng tôi nay đã có thể yên
lòng”. Tôi hiểu điều đó khi đọc tấm giấy chứng nhận “Nông dân sản xuất
giỏi cấp tỉnh” treo trên xà nhà ông trưởng thôn họ Thào. Kể cũng vui,
vẫn gọi là bản H’Mông nhưng bây giờ không còn riêng người H’Mông sinh
sống mà đã là nơi tụ cư của bà con đến từ nhiều miền và thuộc nhiều dân
tộc anh em.
Ở đây có người Tày, người Dao, người Mường,
người Hoa, người K’Ho, người Châu Mạ và cả người Kinh nữa. Họ sống hòa
hợp và cùng chung tay chăm lo cuộc sống. Trong cuốn sổ của bí thư chi
bộ K’Xuân Gíp thống kê: cả thôn 10C có trên 100ha chè, 150ha cà phê, 60
con bò, 100 con heo và 2.000 con gia cầm các loại. Trung bình mỗi hộ
canh tác chừng 1,5ha. Ngô giống mang từ quê cũ vào vẫn được trồng xen
trên những khu vườn khai hoang, có lẽ người H’Mông không thể nào thiếu
được nồi mèn mén sôi sùng sục hằng đêm trên bếp lửa.
Điện lưới chưa thể nối dây vào, bà con trong
bản đã tự trang bị 30 chiếc máy phát điện mini để thắp sáng, để bơm
tưới vườn cây và cho 40 chiếc tivi hằng đêm phát bản tin thời sự về đất
nước và thế giới. Xe máy cũng đã có 30 chiếc rồi, không còn phải cưỡi
ngựa xuống núi như cái ngày còn ở Lang Môn năm ngày một phiên vượt rừng
mua mắm muối ở chợ Nà Bao. Chúng tôi nghĩ, Lộc Thành – Bảo Lâm thật sự
là đất lành và những cánh chim di trú đến từ phương Bắc xa xôi đã đặt
chân bình yên trên quê hương mới…
Ngọn núi cao nhất nơi bản H’Mông mới đến đóng
chân tên gọi là núi Chúa. Hàng ngàn năm qua, dưới chân ngọn núi ảo mờ
sương khói ấy là quê hương của người Châu Mạ và K’Ho bản địa với những
sắc màu văn hóa đậm dấu ấn Tây Nguyên. Thêm những người anh em đến từ
nhiều miền quê, từ nhiều dân tộc, trong đó có người H’Mông đến từ biên
cương cực Bắc, vùng đất ấy như rộn ràng và thắm tươi hơn.
“Người H’Mông dù sống ở đâu thì cũng giữ cái
nếp của mình” – Cụ bà Lý Thị Mã đã nói với chúng tôi như thế. Rồi cụ
hát, lời hát bằng tiếng H’Mông của cụ được chàng con rể dịch ra: “Cùng
nhau dựng lá quốc kỳ – Cả bản đồng lòng đi theo Việt Minh…”. Thì ra, đó
là lời bài hát cụ đã hát từ thuở thiếu thời đi theo cách mạng nơi chiến
khu Việt Bắc. Bà cụ Mé đã già hơn trăm tuổi nheo nheo đuôi mắt nhìn cụ
ông cũng đã rất già thổi điệu khèn thật tình tứ và trẻ trung. Ngắm nhìn
họ, chúng tôi thấu hiểu, người H’Mông ra đi, phần mộ tổ tiên cùng với
không gian ký ức đành gửi lại nơi bản xưa, quê cũ nhưng những nét văn
hóa của mình thì mãi mãi giấu sâu trong tâm thức và thể hiện giữa lối
sống hàng ngày.
Chị Hoàng Thị Mãi nói rằng, phụ nữ H’Mông đi
đâu cũng mang theo bộ trang phục truyền thống, vài ba bữa lại mang ra
mặc cho đỡ nhớ. Vào đây rồi, chỉ mong dịp lễ Tết để mở hội tung còn và
mặc thật lâu áo váy “ngày xưa”. Tiếng khèn lá, tiếng sáo hai lỗ, sáu lỗ
gọi bạn đêm đêm vẫn văng vẳng sau mỗi ngọn đồi khi những đôi trai gái
tìm nhau trao lời tâm sựï, tìm bạn tình, bạn đời. Ông Thào Văn Di, nghệ
nhân thổi khèn, nói rằng: “Tôi sẽ cố gắng truyền dạy cách thể hiện các
nhạc cụ truyền thống độc đáo của dân tộc H’Mông cho lớp trẻ. Tiếng sáo,
tiếng khèn và tiếng kèn lá trên môi sẽ vang mãi cho đến tận mai sau”.
Thào Văn Di cũng khoe, có một loại nhạc khí mà người H’Mông luôn coi
như bảo vật, đó là cây khèn đồng lưỡi gà. Chiếc khèn ấy họ cũng mang
theo vào đất Lộc Thành, mỗi dịp lễ tết đưa ra thổi một lần rồi suốt năm
cất kỹ trong ống trúc…
(SGGP) |