|
"Chiêm Sơn là, lụa, mỹ miều/ Mai vang tiếng cửi,
chiều chiều tơ giăng...". Lần theo câu hát cổ, tôi tìm về Duy Xuyên,
Quảng Nam - nơi được mệnh danh là xứ sở tầm tang. Làng nghề trồng dâu
nuôi tằm, ươm tơ dệt vải Mã Châu, Thi Lai - Đông Yên đã nổi danh trong
và ngoài nước từ thế kỷ XVI, rồi mai một theo thời cuộc, bây giờ đã có
cơ may hồi sinh. Tương lai của làng nghề truyền thống này không chỉ xán
lạn bởi gắn với định hướng phát triển kết hợp với du lịch, mà hiện
người dệt vải ở Duy Xuyên đã giàu lên nhờ việc xuất hàng sang thị
trường Trung Đông...
 | Một hộ nuôi tằm, lấy kén ở
Duy Xuyên. | Khẳng định thương hiệu từ 400 năm trước
Từ
những năm đầu thế kỷ XV, XVI, khi thương cảng Hội An thịnh vượng, giao
thương rộng rãi nhiều quốc gia trên thế giới thì hàng hoá của xứ Đàng
Trong cũng theo đó phát triển mạnh mẽ. Làng nghề truyền thống trồng dâu
nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa của người Quảng Nam ven đôi bờ sông Thu Bồn
cũng đã nổi danh vì đã sản xuất được nhiều mặt hàng tơ lụa nổi tiếng
như đoạn, lảnh, gấm, vóc... không chỉ bán trong nước mà còn xuất khẩu
khắp Á, Âu.
Đó cũng là thời điểm diễn ra câu chuyện tình nên thơ của thôn nữ
Đoàn Thị Ngọc Phi (sau trở thành Đoàn Quý Phi) và Chúa Nguyễn Phúc Lan,
khoảng năm 1615. Họ đã gặp nhau qua câu hát và kết duyên trăm năm từ
một đêm trăng sáng trên dòng Thu Bồn. Nhưng điều quan trọng hơn, khi cô
thôn nữ hái dâu trong đêm trăng ấy thành quý phi đã chăm lo con dân như
người mẹ đôn hậu. Đặc biệt bà dạy cho khắp nơi nghề trồng dâu nuôi tằm,
ươm tơ dệt lụa. Tất nhiên, Duy Xuyên, Điện Bàn - xứ sở của bà ngày càng
phát triển thịnh vượng nghề truyền thống này.
Cũng thời điểm đó, cảng thị Hội An dưới thời Chúa Nguyễn đã trở
thành trung tâm trung chuyển của con đường tơ lụa quốc tế xuyên đại
dương (thế kỷ XVI, XVII) nối liền Tây Âu - Viễn Đông. Bà Đoàn Thị Ngọc
Phi trở thành "Bà Chúa tầm tang" mà đến nay người Quảng Nam còn lễ tế,
tưởng niệm hàng năm.
Gần 400 năm, tiếng kẽo kẹt của những khung cửi gỗ ở Duy Xuyên
cũng thưa dần. Người bản xứ phá dâu trồng lúa màu, ai yêu nghề của cha
ông lắm cũng phải lưu lạc tận TPHCM tìm thị trường lớn. Nhưng vài năm
gần đây, làng nghề ươm tơ dệt lụa Mã Châu, Thi Lai - Đông Yên lại rộn
ràng tiếng thoi đưa, người Duy Xuyên lại giàu lên nhờ lụa, vải.
Đổi "dầu lửa"
Theo thống kê của UBND huyện Duy Xuyên, giá trị sản xuất toàn
ngành đạt hơn 300 tỉ đồng (năm 2005), trong đó ngành dệt vải sợi đạt
221,93 tỉ đồng. Chỉ riêng HTX ươm dệt Nam Phước đạt trên 20 triệu mét
vải mộc, hàng trăm ngàn mét lụa tơ tằm mỗi năm. Doanh thu gần 70 tỉ
đồng (năm 2005), giải quyết cho hơn 100 lao động với mức thu nhập ổn
định hàng tháng trên 1 triệu đồng. Lao động thanh niên từ TPHCM hồi
hương ào ạt để làm việc tại quê nhà. Hiện có trên 70.000 khung cửi hoạt
động hết công suất.
 | Trình diễn nghề tầm tang ở
Duy Xuyên trong một lễ hội. |
Bước
đột phá, tạo ra những điểm sáng ấn tượng cho kinh tế huyện Duy Xuyên là
việc một số cá nhân đã tiên phong đổi mới quy trình công nghệ sản xuất,
cho ra những sản phẩm có chất lượng cao so với các sản phẩm được dệt
trên những khung cửi gỗ trước đây. Các lỗi vải thường gặp khoảng 2m/lỗi
đã được khắc phục. Với máy dệt Picanol đời mới thì bây giờ còn 15-20m
vải/lỗi. Năng suất tăng gấp 4 lần, lên đến 80m/ngày/máy.
Ông Nguyễn Văn Tiết - một công nhân của HTX ươm dệt Nam Phước đã trở
thành chủ doanh nghiệp dệt tư nhân Thái Dương, Cụm công nghiệp Trung
An, Duy Xuyên là một trong những "con người tiên phong" đổi mới đó.
Hiện ở Duy Xuyên có rất nhiều hộ gia đình có tay nghề cao, đặc biệt là
lớp trẻ.
Chủ một đại lý vải ở thị trấn Nam Phước, bà Trần Thị Sen cho
biết, "chúng tôi chỉ khó khăn vì Quảng Nam chưa có hiệp hội dệt may,
các đại lý cạnh tranh thiếu lành mạnh, chứ thị trường thì đã không còn
lo như trước nữa". Chỉ với cái kho ọp ẹp, chật như nêm nhưng mỗi tháng,
bà Sen đã xuất hơn 3 triệu mét vải.
Tại Duy Xuyên, ngoài những HTX và gần chục doanh nghiệp tư nhân
khác, còn có 15 đại lý tương tự bà Sen. Nguồn hàng được mua gom từ các
hộ tư nhân để bán lại cho các Cty dệt lớn như Vinatex, Cty dệt may Nam
Định. Từ đây, sản phẩm của người trồng dâu, nuôi tằm và dệt vải Duy
Xuyên xuất sang thị trường Trung Đông. Vải, lụa của người Quảng Nam
không chỉ phục vụ may mặc, áo quần tang chế cho những người theo đạo
Hồi ở các nước Trung Đông mà còn làm khăn vấn đầu cho nhiều "ông vua
dầu mỏ".
Xứ tầm tang làm du lịch
Chiếc xe du lịch vừa đỗ trước sân HTX ươm dệt Nam Phước cho du
khách tham quan khu dệt lụa tơ tằm, hoạ sĩ Hoàng Minh Hằng (Hội Mỹ
thuật TPHCM) đã tranh thủ đến ngay cửa hàng lưu niệm. Tôi hơi ngạc
nhiên vì số lượng lụa mà họa sĩ này mua vượt quá "ngưỡng" quà lưu niệm.
 | Khách du lịch thăm khu dệt lụa tơ
tằm HTX ươm dệt Nam Phước. |
Bà
Hằng giải thích: "Nếu lụa có dệt xen sợi coton, polyester (vải sợi tổng
hợp), khi vẽ sẽ không "ăn" màu. Riêng lụa dệt ở đây hoàn toàn bằng sợi
tơ tằm. Rất tuyệt. Năm nào tôi cũng nhờ người mua hàng tại đây". Chủ
nhiệm HTX ươm dệt Nam Phước Phạm Văn Hạnh cho biết, có rất nhiều hoạ sĩ
từ các nơi đến HTX của anh mua lụa để vẽ.
Tôi hỏi ông Hạnh, không có điều kiện nào tốt để
quảng bá thương hiệu cho làng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt vải ở
Duy Xuyên bằng câu chuyện tình của bà Đoàn Quý Phi và việc các hoạ sĩ
tìm mua lụa ở đây để vẽ tranh, sao HTX và huyện không tranh thủ? Kể cả
trưng bày, bán tranh vẽ trên lụa? "Chưa chứ không phải là không?"- ông
Hạnh khẳng định rồi hồ hởi: "Dự án tôi đã có sẵn. UBND tỉnh Quảng Nam
đã có kế hoạch đầu tư 14 tỉ đồng cho việc khôi phục làng nghề. Chúng
tôi đang cùng chính quyền quyết tâm phục hồi làng nghề nổi tiếng của
cha ông, nhưng cần phải có thời gian và nhiều cơ chế thoáng".
Ông Hạnh cho biết, giá mỗi kilôgram sợi
poliester giá 30.000 đồng, sợi bông 40.000 đồng, nhưng sợi tơ tằm
đến... 800.000 đồng. Vì thế giá thành vải cao, đầu ra khó khăn. Chưa kể
việc trồng dâu, nuôi tằm, lấy kén kéo tơ còn phụ thuộc vào nhiều điều
kiện khắt khe khác như đất đai, phân bón, kỹ thuật, kinh nghiệm, thời
tiết... Khu nuôi tằm, lấy kén đặc biệt kiêng kỵ với người lạ, thực tế
con tằm rất nhạy cảm với môi trường. Vì thế, nếu bị ô nhiễm, có mùi lạ,
nước hoa của du khách chẳng hạn, thì nó sẽ bỏ ăn, thậm chí chết. Khi
khách tham quan, không những ảnh hưởng đến con tằm mà nếu họ muốn ngồi
vào khung cửi "làm cư dân dệt lụa" chỉ sai 1 động tác là bị lỗi và gia
chủ thiệt hại ngay mét vải đó. Đấy cũng là lý do nhiều gia đình chưa
thiết tha với việc làm du lịch.
Theo đề án làng nghề của ông Hạnh thì ngoài
những cơ sở chính sản xuất để "sống còn", khu trình diễn phục vụ tham
quan du lịch buộc phải xây dựng riêng. Chính quyền, các Cty lữ hành
phải cùng với các hộ dân, doanh nghiệp chịu chi phí trình diễn, thiệt
hại đối với con tằm, vải mà khách dệt thử...
Ngược lại, khi đã hình thành khu du lịch làng
nghề chuyên nghiệp, tại đây sẽ tổ chức giới thiệu cặn kẽ, hấp dẫn đến
du khách từ truyền thống, giai thoại đến kỹ thuật và đặc trưng của lụa
là ở xứ tầm tang Đàng Trong từ xa xưa đến nay. Xây dựng nhiều khu hàng
lưu niệm, nghỉ chân, trưng bày sinh động quy trình từ chăm bón biền
dâu, hái lá, nuôi tằm... đến khi ra lụa và bán cho du khách.
ách làm này không khó đối với làng nghề truyền
thống, sẵn cơ sở như Duy Xuyên. Vấn đề còn lại là quyết tâm của ngành
du lịch, sự đầu tư hợp lý của chính quyền Quảng Nam. Hiện, du khách đến
Mỹ Sơn, tiện ghé thăm làng dệt vải Thi Lai - Đông Yên, Mã Châu khá
đông. Sở Du lịch Quảng Nam và huyện Duy Xuyên cũng thường niên tổ chức
lễ hội tầm tang quy mô lớn, nhưng vẫn chưa đủ để thực sự hấp dẫn cho du
khách và sự thịnh vượng của làng nghề.
(Laodong) |