Trang chính
Xã hội
Văn hóa
Du lịch
Lịch sử
Kinh tế
Khoa học
Y tế - Giáo dục
Tin học
Môi trường
Dịch vụ
Ẩm thực
Thể thao
Tản văn
Tin mới nhất

Trang chính arrow Kinh tế arrow Đổi dâu tằm lấy "dầu lửa"
Advertisement
 
Đổi dâu tằm lấy "dầu lửa" PDF In E-mail
08/05/2006

"Chiêm Sơn là, lụa, mỹ miều/ Mai vang tiếng cửi, chiều chiều tơ giăng...". Lần theo câu hát cổ, tôi tìm về Duy Xuyên, Quảng Nam - nơi được mệnh danh là xứ sở tầm tang. Làng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt vải Mã Châu, Thi Lai - Đông Yên đã nổi danh trong và ngoài nước từ thế kỷ XVI, rồi mai một theo thời cuộc, bây giờ đã có cơ may hồi sinh. Tương lai của làng nghề truyền thống này không chỉ xán lạn bởi gắn với định hướng phát triển kết hợp với du lịch, mà hiện người dệt vải ở Duy Xuyên đã giàu lên nhờ việc xuất hàng sang thị trường Trung Đông...



Một hộ nuôi tằm, lấy kén ở
Duy Xuyên.
Khẳng định thương hiệu từ 400 năm trước

Từ những năm đầu thế kỷ XV, XVI, khi thương cảng Hội An thịnh vượng, giao thương rộng rãi nhiều quốc gia trên thế giới thì hàng hoá của xứ Đàng Trong cũng theo đó phát triển mạnh mẽ. Làng nghề truyền thống trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa của người Quảng Nam ven đôi bờ sông Thu Bồn cũng đã nổi danh vì đã sản xuất được nhiều mặt hàng tơ lụa nổi tiếng như đoạn, lảnh, gấm, vóc... không chỉ bán trong nước mà còn xuất khẩu khắp Á, Âu.

Đó cũng là thời điểm diễn ra câu chuyện tình nên thơ của thôn nữ Đoàn Thị Ngọc Phi (sau trở thành Đoàn Quý Phi) và Chúa Nguyễn Phúc Lan, khoảng năm 1615. Họ đã gặp nhau qua câu hát và kết duyên trăm năm từ một đêm trăng sáng trên dòng Thu Bồn. Nhưng điều quan trọng hơn, khi cô thôn nữ hái dâu trong đêm trăng ấy thành quý phi đã chăm lo con dân như người mẹ đôn hậu. Đặc biệt bà dạy cho khắp nơi nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa. Tất nhiên, Duy Xuyên, Điện Bàn - xứ sở của bà ngày càng phát triển thịnh vượng nghề truyền thống này.

Cũng thời điểm đó, cảng thị Hội An dưới thời Chúa Nguyễn đã trở thành trung tâm trung chuyển của con đường tơ lụa quốc tế xuyên đại dương (thế kỷ XVI, XVII) nối liền Tây Âu - Viễn Đông. Bà Đoàn Thị Ngọc Phi trở thành "Bà Chúa tầm tang" mà đến nay người Quảng Nam còn lễ tế, tưởng niệm hàng năm.

Gần 400 năm, tiếng kẽo kẹt của những khung cửi gỗ ở Duy Xuyên cũng thưa dần. Người bản xứ phá dâu trồng lúa màu, ai yêu nghề của cha ông lắm cũng phải lưu lạc tận TPHCM tìm thị trường lớn. Nhưng vài năm gần đây, làng nghề ươm tơ dệt lụa Mã Châu, Thi Lai - Đông Yên lại rộn ràng tiếng thoi đưa, người Duy Xuyên lại giàu lên nhờ lụa, vải.

Đổi "dầu lửa"

Theo thống kê của UBND huyện Duy Xuyên, giá trị sản xuất toàn ngành đạt hơn 300 tỉ đồng (năm 2005), trong đó ngành dệt vải sợi đạt 221,93 tỉ đồng. Chỉ riêng HTX ươm dệt Nam Phước đạt trên 20 triệu mét vải mộc, hàng trăm ngàn mét lụa tơ tằm mỗi năm. Doanh thu gần 70 tỉ đồng (năm 2005), giải quyết cho hơn 100 lao động với mức thu nhập ổn định hàng tháng trên 1 triệu đồng. Lao động thanh niên từ TPHCM hồi hương ào ạt để làm việc tại quê nhà. Hiện có trên 70.000 khung cửi hoạt động hết công suất.

Trình diễn nghề tầm tang ở
Duy Xuyên trong một lễ hội.
Bước đột phá, tạo ra những điểm sáng ấn tượng cho kinh tế huyện Duy Xuyên là việc một số cá nhân đã tiên phong đổi mới quy trình công nghệ sản xuất, cho ra những sản phẩm có chất lượng cao so với các sản phẩm được dệt trên những khung cửi gỗ trước đây. Các lỗi vải thường gặp khoảng 2m/lỗi đã được khắc phục. Với máy dệt Picanol đời mới thì bây giờ còn 15-20m vải/lỗi. Năng suất tăng gấp 4 lần, lên đến 80m/ngày/máy.

Ông Nguyễn Văn Tiết - một công nhân của HTX ươm dệt Nam Phước đã trở thành chủ doanh nghiệp dệt tư nhân Thái Dương, Cụm công nghiệp Trung An, Duy Xuyên là một trong những "con người tiên phong" đổi mới đó. Hiện ở Duy Xuyên có rất nhiều hộ gia đình có tay nghề cao, đặc biệt là lớp trẻ.

Chủ một đại lý vải ở thị trấn Nam Phước, bà Trần Thị Sen cho biết, "chúng tôi chỉ khó khăn vì Quảng Nam chưa có hiệp hội dệt may, các đại lý cạnh tranh thiếu lành mạnh, chứ thị trường thì đã không còn lo như trước nữa". Chỉ với cái kho ọp ẹp, chật như nêm nhưng mỗi tháng, bà Sen đã xuất hơn 3 triệu mét vải.

Tại Duy Xuyên, ngoài những HTX và gần chục doanh nghiệp tư nhân khác, còn có 15 đại lý tương tự bà Sen. Nguồn hàng được mua gom từ các hộ tư nhân để bán lại cho các Cty dệt lớn như Vinatex, Cty dệt may Nam Định. Từ đây, sản phẩm của người trồng dâu, nuôi tằm và dệt vải Duy Xuyên xuất sang thị trường Trung Đông. Vải, lụa của người Quảng Nam không chỉ phục vụ may mặc, áo quần tang chế cho những người theo đạo Hồi ở các nước Trung Đông mà còn làm khăn vấn đầu cho nhiều "ông vua dầu mỏ".

Xứ tầm tang làm du lịch

Chiếc xe du lịch vừa đỗ trước sân HTX ươm dệt Nam Phước cho du khách tham quan khu dệt lụa tơ tằm, hoạ sĩ Hoàng Minh Hằng (Hội Mỹ thuật TPHCM) đã tranh thủ đến ngay cửa hàng lưu niệm. Tôi hơi ngạc nhiên vì số lượng lụa mà họa sĩ này mua vượt quá "ngưỡng" quà lưu niệm.

Khách du lịch thăm khu dệt lụa tơ
tằm HTX ươm dệt Nam Phước.

Bà Hằng giải thích: "Nếu lụa có dệt xen sợi coton, polyester (vải sợi tổng hợp), khi vẽ sẽ không "ăn" màu. Riêng lụa dệt ở đây hoàn toàn bằng sợi tơ tằm. Rất tuyệt. Năm nào tôi cũng nhờ người mua hàng tại đây". Chủ nhiệm HTX ươm dệt Nam Phước Phạm Văn Hạnh cho biết, có rất nhiều hoạ sĩ từ các nơi đến HTX của anh mua lụa để vẽ.

Tôi hỏi ông Hạnh, không có điều kiện nào tốt để quảng bá thương hiệu cho làng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt vải ở Duy Xuyên bằng câu chuyện tình của bà Đoàn Quý Phi và việc các hoạ sĩ tìm mua lụa ở đây để vẽ tranh, sao HTX và huyện không tranh thủ? Kể cả trưng bày, bán tranh vẽ trên lụa? "Chưa chứ không phải là không?"- ông Hạnh khẳng định rồi hồ hởi: "Dự án tôi đã có sẵn. UBND tỉnh Quảng Nam đã có kế hoạch đầu tư 14 tỉ đồng cho việc khôi phục làng nghề. Chúng tôi đang cùng chính quyền quyết tâm phục hồi làng nghề nổi tiếng của cha ông, nhưng cần phải có thời gian và nhiều cơ chế thoáng".

Ông Hạnh cho biết, giá mỗi kilôgram sợi poliester giá 30.000 đồng, sợi bông 40.000 đồng, nhưng sợi tơ tằm đến... 800.000 đồng. Vì thế giá thành vải cao, đầu ra khó khăn. Chưa kể việc trồng dâu, nuôi tằm, lấy kén kéo tơ còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện khắt khe khác như đất đai, phân bón, kỹ thuật, kinh nghiệm, thời tiết... Khu nuôi tằm, lấy kén đặc biệt kiêng kỵ với người lạ, thực tế con tằm rất nhạy cảm với môi trường. Vì thế, nếu bị ô nhiễm, có mùi lạ, nước hoa của du khách chẳng hạn, thì nó sẽ bỏ ăn, thậm chí chết. Khi khách tham quan, không những ảnh hưởng đến con tằm mà nếu họ muốn ngồi vào khung cửi "làm cư dân dệt lụa" chỉ sai 1 động tác là bị lỗi và gia chủ thiệt hại ngay mét vải đó. Đấy cũng là lý do nhiều gia đình chưa thiết tha với việc làm du lịch.

Theo đề án làng nghề của ông Hạnh thì ngoài những cơ sở chính sản xuất để "sống còn", khu trình diễn phục vụ tham quan du lịch buộc phải xây dựng riêng. Chính quyền, các Cty lữ hành phải cùng với các hộ dân, doanh nghiệp chịu chi phí trình diễn, thiệt hại đối với con tằm, vải mà khách dệt thử...

Ngược lại, khi đã hình thành khu du lịch làng nghề chuyên nghiệp, tại đây sẽ tổ chức giới thiệu cặn kẽ, hấp dẫn đến du khách từ truyền thống, giai thoại đến kỹ thuật và đặc trưng của lụa là ở xứ tầm tang Đàng Trong từ xa xưa đến nay. Xây dựng nhiều khu hàng lưu niệm, nghỉ chân, trưng bày sinh động quy trình từ chăm bón biền dâu, hái lá, nuôi tằm... đến khi ra lụa và bán cho du khách.

ách làm này không khó đối với làng nghề truyền thống, sẵn cơ sở như Duy Xuyên. Vấn đề còn lại là quyết tâm của ngành du lịch, sự đầu tư hợp lý của chính quyền Quảng Nam. Hiện, du khách đến Mỹ Sơn, tiện ghé thăm làng dệt vải Thi Lai - Đông Yên, Mã Châu khá đông. Sở Du lịch Quảng Nam và huyện Duy Xuyên cũng thường niên tổ chức lễ hội tầm tang quy mô lớn, nhưng vẫn chưa đủ để thực sự hấp dẫn cho du khách và sự thịnh vượng của làng nghề.

(Laodong) 

 


Các tin khác:



Viec lam, Tìm việc làm, Tuyển dụng

 
© Copyright 2003-2007 MienTrung.com, All rights reserved. Contact us
® Ghi rõ nguồn "MienTrung.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.