|
Từ xa xưa, nhân dân ta đã biết sử dụng voi phục vụ
cho các hoạt động sản xuất, sinh hoạt, chiến đấu chống kẻ thù. Từ người
Việt, Chăm, Khơme cho đến các tộc người ở Tây Nguyên đều có nhiều huyền
thoại, truyện cổ lý thú, hấp dẫn về loài voi. Những chiến tích, công
trạng của con voi cũng được ghi lại trong nhiều tư liệu, thư tịch cổ.
Cũng như một số bộ tộc có nghề nuôi voi ở Đông Nam Á
như Thái Lan, Lào, Campuchia, đồng bào Tây Nguyên rất quý trọng con
voi, nhất là voi trắng. Voi trắng có giá trị lớn về ý nghĩa tôn giáo và
biểu tượng cho sự may mắn, cao sang và uy quyền. Nó là con vật đứng
hàng đầu trong loài vật. Đồng bào tin trằng, thần voi và hồn voi là lớn
nhất và quan trọng nhất. Nhưng nếu là một con voi trắng thì được đồng
bào đặc biệt coi trọng và tôn sùng gấp bội lần so với một con voi bình
thường. Theo đồng bào, voi trắng rất thông minh, dạy một biết mười.
Đồng bào M’nông gọi bạch tượng là ông trắng (Ngơilăng), vua của voi
đen. Dưới góc độ sinh học, voi trắng thực ra là những con voi khác
thường, đột biến về gene, chúng có bộ da xám nhạt pha hồng và chính là
những trường hợp bị bạch tạng. Theo đồng bào M’nông, người may mắn, ăn
ở phúc đức thì được thần Nguăch Nguăl (Thần voi) phù hộ, đi săn mới
được bắt gặp voi trắng. Một con voi trắng giá trị bằng 100 con voi đen.
Đối với người M’nông, voi trắng liên quan đến
việc phong “đẳng cấp” trong cánh thợ săn voi (gru). Trong thành phần
săn bắt voi, đồng bào có quy định chức sắc hẳn hoi. Người ngồi trên đầu
con voi gọi là gru, tức là thầy; người ngồi điều khiển phía sau gọi là
rmăk, tức thợ phụ. Thợ phụ rmăk giúp việc cho gru, đến khi nào tham gia
bắt được 15 con voi thì được phong chức lên gru. Lúc đó, anh ta mới
được ngồi trên đầu con voi. Kể từ ngày phong chức lên gru điều khiển
đầu voi, bắt được một con voi rừng gọi là gru 1, bắt được hai con gọi
là gru 2, cứ thế mà phong chức lên. Nếu bắt được một con voi trắng thì
trong đàn voi có con voi trắng đó có bao nhiêu con voi sẽ được tính bấy
nhiêu cơ số của gru. Ví dụ, nếu trong đàn có con voi trắng có 100 con
thì được tính gru 100. Vì theo đồng bào, đã bắt được con voi trắng là
chúa của đàn voi nên việc phong chức như vậy để ghi nhận thành tích bắt
voi. Do đó, trong đời người săn voi, ai cũng mơ một lần săn được voi
trắng. Có người được phong là gru 300 như Ama Kông, được phong là “vua
của những người thợ săn voi” ở Buôn Đôn cũng nhờ may mắn hai lần bắt
được voi trắng. Năm 1961, ông đi săn được một con voi trắng. Con voi
này sau đó được bán sang Tây Âu. Theo luật tục, người nào đắt được một
con voi trắng đều phải cúng một con lợn đen, một con lợn trắng; một con
gà đen, một con gà trắng; một con trâu đen, một con trâu trắng.
Người Êđê có truyền thuyết về voi trắng có liên
quan đến hoa văn Mnga Kteh, một mẫu hoa văn giá trị nhất trên trang
phục của họ. Chuyện kể rằng, thuở xưa đồng bào Tây Nguyên phát hiện ra
một con voi trắng rất đẹp, có cặp ngà cong vút với nhiều hoa văn lộng
lẫy. Các dân tộc ở Tây Nguyên gồm M’nông, Êđê, Bana, Gia Rai… thi nhau
vây bắt, đặt bẫy vẫn không tài nào tóm được. Voi cứ chạy đi khắp vùng
của cao nguyên. Một người tù trưởng Êđê nghĩ cách đào giao thông hào để
vây bắt con voi. Cuối cùng, voi trắng bị rớt xuống giao thông hào của
nhóm Krung và Adham của dân tộc Êđê. Nghe tin bắt được con voi trắng,
các dân tộc ở Tây Nguyên đua nhau tới xem. Nhóm Kpa ở gần nhất nên mới
là người đầu tiên xem được con voi; sau đó mới đến nhóm Krung, Adham,
Mdhur của dân tộc Êđê. Tiếp theo các tộc người Gia Rai, Bana cũng lần
lượt tới xem con voi quý. Họ cho rằng, nhóm dân tộc nào xem gần quá thì
sự lộng lẫy của hoa văn trên ngà voi đã làm chói mắt họ và khi về đến
nhà họ quên hết, không thể vẽ lại được. Dân tộc nào đứng xem với khoảng
cách vừa tầm nhìn thì sẽ thấy rõ. Nhờ vậy mà các dân tộc ở xa hơn như
Krông Buk, Ea H’leo ở huyện Krông Buk (DăkLăk) hiện nay vẫn giữ được
nhiều loại hoa văn trang trí độc đáo, phong phú về đề tài, đa dạng về
hình thức, trong đó có Mnga Kteh trở thành kiệt tác trong nghệ thuật
tạo hình, làm đẹp trên trang phục của người Tây Nguyên. Ngoài nhóm
người Êđê nói trên, dân tộc Bana, Gia Rai cũng còn lưu giữ nhiều hoa
văn đẹp.
Trước đây, Y Thu, người M’nông cũng đã săn được
bạch tượng. Ông chính là tù trưởng người đầu tiên của Buôn Đôn và là
người sáng lập ra nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng. Năm 1861, ông
bắt được một con voi trắng và đã tặng vua Thái Lan. Vua Thái Lan mỗi
lần ngự giá thường đi trên con Bạch tượng trong tiếng tung hô của thần
dân. Y Thu cũng là người từng dùng voi để chuộc nô lệ từ tay các tù
trưởng trong vùng, Tương truyền, ông từng dâng một con voi trắng quý
giá để chuộc lại một nô lệ nữ tên là Giá Vầm. Bà Giá Vầm tuy cai quản
nhiều rừng núi đất đai, nhưng bà bị một bộ tộc người Gia Rai bắt làm tù
binh. Để chuộc người tù trưởng có đất đai rộng lớn này, ông Y Thu đã
dùng voi trắng làm lễ vật kèm theo lời thề kết giao hòa hảo giữa hai bộ
tộc và xin nhận người Gia Rai “làm cha làm mẹ”. Biết ơn ông, bà Gia Vầm
cắt một phần đất trong lãnh địa của mình cho Y Thu. Có đất, ông Y Thu
liền tụ tập những người Êđê, M’nông, Lào… sống trên các đảo Par, đảo
Klau giữa sông Sêrêpôk về một nơi trù phú, sau này gọi là Buôn Đôn. Vì
thế, thời Y Thu lên làm tù trưởng, những xung đột về đất đai, tài sản,
nô lệ… giữa các làng, các dân tộc được xóa bỏ. Các hoạt động săn bắn,
hội voi đã góp phần tạo dựng và vun trồng sự đoàn kết giữa các dân tộc.
Sau Y Thu, nhiều người cũng săn được voi trắng.
Rleo Knum, cháu của Y Thu cũng bắt được một con voi trắng và tặng cho
vua Bảo Đại. Quanh chuyện con voi trắng của Bảo Đại này bây giờ vẫn còn
rất nhiều huyền thoại bí ẩn đồn thổi cả hư lẫn thực. Y Prông Êban, còn
gọi là Ama Kông, người lập kỷ lục “quán quân” trong nghề săn bắt voi
với gần 300 con voi. Năm 1961, ông bắt được 1 con voi trắng. Con voi
này sau đó được tặng Tổng thống Ngô Đình Diệm(vì không tặng cũng không
xong). Ông được ngô Đình Diệm tặng lại một khẩu súng săn 2 nòng, 1 khẩu
súng ngắn và 150 đồng. Tay thợ săn Y Đeng ở buôn Tul, là người lập kỷ
lục thứ nhì sau Ama Kông về săn bắt voi rừng, ông săn được gần 200 con
voi, trong đó có một con voi trắng.
Ngày nay, không ai còn thấy voi trắng xuất hiện
nữa nhưng huyền thoại của nó vẫn tiếp tục được lưu truyền trong dân
gian, làm đẹp cho vùng đất Tây Nguyên, xứ sở của loài voi.
(Baobinhdinh) |