|
Ngoài những món ăn chính thống như phở, bún bò, hủ
tiếu được sử dụng làm quà sáng của những người dân đô thị ở mọi nơi, hệ
thống quà vặt được dùng để đáp ứng một nhu cầu thường xuyên của con
người từ lúc bỏ bú; khuynh hướng này là một yếu tố tâm lý gọi là khuynh
hướng thực phẩm (tendance alimentaire) hoặc còn gọi là thói “nhân chi
sơ” … giúp mọi loài vật tìm lấy thức ăn để tồn tại. Nó còn được mệnh
danh là “tâm hồn ăn uống” nơi con người.
Nói đến quà vặt, người ta lập tức nhớ đến tiếng rao
lanh lảnh của những gánh hàng rong, thưở các đô thị chưa bị náo loạn
bởi động cơ nổ hoặc bởi tiếng nhạc cà phê. Hàng rong là đặc sản của mỗi
vùng, thậm chí của ngõ hẻm, và làm nên hương vị không thể quên được của
thời thơ ấu. Tôi cũng có một tuổi thơ, với những món hàng rong đầy thi
vị của những gì thuộc ngày hôm qua, và bây giờ đã … một đi không trở
lại.
Đó là tiếng rao “Bún nước mắm chanh tỏi tạm thời” của những người đàn
ông rao dọc con hẻm ở Huế (ông lấy bún từ làng gốc Vân Cù và những sợi
bún được cuộn thành dây chão khoanh tròn trên tấm lá chuối) mà tôi
thường nghe sau giấc ngủ trưa, lẫn trong tiếng gáy buồn thiu của con gà
trống nào nhớ trời xanh.
Sau Cách mạng Tháng Tám, tôi có gặp ông cầm mã tấu đứng gác ở cầu Kho
Rèn; sau đó, không biết ông biến mất đằng nào. Nhưng từ đó, tiếng rao
“bún nước mắm…” cũng vắng bặt, hình như cũng chìm trong làn sóng của
lịch sử.
Hoặc món thạch gồm những miếng đông sương được xắt nhỏ thoăn
thoắt trên tay ông bán hàng rong, thạch trộn với đường cát vàng ăn vào
thấy mát rượi cả tâm hồn trẻ thơ, mẹ tôi thường bảo là “để giải nhiệt”.
Ông bán thạch gánh hai đầu hai cái chậu bằng đất nung, đầu này đựng mấy
cái chén sành, đũa, chanh, đường; đầu kia là những khối thạch lớn thả
bồng bềnh trong nước.
Những món ăn sáng còn lại cũng được các bà chủ đem bán rải rác thành
hàng rong. Độ giữa buổi chiều trở đi, có các bà bán các loại bánh mặn
đựng đầy một rổ nách bên hông. Lũ trẻ chúng tôi rất thèm thuồng mọi thứ
đựng trong chiếc rổ ấy.
Một cái rổ thì đựng được bao nhiêu; nhưng tôi tưởng chừng muốn thứ gì
cũng có: nào bánh nậm, bánh bột lọc, bánh ít trắng, bánh hỏi (ngày nay
ở Huế hầu như không có), bánh ướt, bánh gói, bánh xéo, được đựng trong
những chiếc đĩa đất nung nhỏ xíu; và người ta có thói quen chồng đĩa
thành chồng cao trước mặt và đo bằng sải tay để khoe sức ăn.
Nguồn quà vặt còn tìm thấy trên bàn thờ, như chè đậu xanh đánh đã lên mốc xanh sau ngày rằm tháng giêng; hoặc bánh lục giác là thứ bánh in được gói thành khối lập phương, bằng giấy ngũ sắc sặc sỡ.
Ở các chợ trong thành phố có những gánh đồ chơi trẻ con, trong đó có
những con bột pha màu, nặn hình Hai Bà Trưng cưỡi voi, con gà ấp trứng,
hoặc bầu hồ lô có thắt dải lụa. Chúng tôi rất thích được mẹ mua cho
những con bột này, bởi vì chơi chán, chúng tôi thường chia nhau đem
nướng ăn, bột nướng lên vừa giòn vừa béo, rất ngon.
Việc ấy tất nhiên là phải thực hiện thật kín đáo; lỡ bị người lớn bắt
gặp, thường bị tịch thu và bị ăn đòn; bởi tôi lỡ ăn phải đồ đầy đất cát
bụi băm “coi chừng bị ho lao”.
Hệ thống quà vặt thời thơ ấu của tôi còn gồm có một chuỗi những quán
cóc ở các làng quê. Những quán ấy đối với tôi thân thuộc biết nhường
nào, vì ở đấy mẹ tôi thường sai tôi đi mua kim chỉ, dầu hỏa v.v …
Trên chiếc kệ day mặt ra đường thường bày một dãy những thùng sắt tây
mặt lồng bằng kính ở trong đựng những thứ kẹo bánh mà tôi rất thích,
như kẹo vừng, kẹo đậu nành, bánh sen chấy, bánh kẹp … (các loại bánh
này đều là đặc sản của Huế, ngày nay còn lại rất hiếm). Đặc biệt là kẹo
cau, như một miếng cau vừa bổ ra; hạt cau là một phiến nước đường vàng
óng và thịt cau làm bằng bột trộn đường; hàng trao cho tôi thường được
gói trong lá chuối khô.
Kẹo cau là thứ duy nhất vẫn giữ vững vị trí của nó trong bảng
tổng sắp của tôi. Đến tuổi già ngồi nhớ lại thời thơ ấu, tôi lại băng
mình ra chợ Bến Ngự hỏi mua cho được thứ kẹo ấy; mời bạn bè từ xa đến
cứ như mời cau, khỏi xấu hổ chi cả vì đi mời bạn ăn kẹo.
Mùa trái chín, các vườn Huế cũng chứa đầy quà vặt. Tôi thường ngồi vắt
vẻo trên một càng cây chắc chắn, nếm đủ thứ, nào là ổi, là nhãn, là
đào… Tôi có con em rất tinh nghịch, thường thích mai phục trên cành
cây, chờ bạn tôi đi qua, lại ném trái cây lộp bộp vào áo. Tôi xem trong
sách thấy có anh chàng Phan An, Tống Ngọc “lúc ra đường quả ném đầy
xe”. Làm gì có quả sẵn giữa đường mà ném, coi chừng các chàng này lại
vô phước gặp phải một cô em bạn tinh nghịch!
Lớn lên, qua tuổi sinh viên, tôi vẫn giữ thói ăn quà vặt; nhiều khi
cũng là quà sáng luôn thể. Hồi ấy có những món đặc sản miền Bắc mới hội
nhập vào thị trường Sài Gòn. Tôi rất thích món suông Thanh Thế, gồm bún
nấu với mướp ngọt.
Nếu có thêm năm đồng, chủ quán Thanh Thế thường rút trong túi áo trên
ra một chiếc lọ nhỏ xíu, nhúng một que tăm vào một chất thơm cà cuống
rồi quậy que tăm vào bát suông của mình. Tôi chỉ quan sát cách họ dùng
cà cuống, còn tôi là sinh viên, làm sao mà có tiền để nếm thử những món
hàng xa xỉ phẩm ấy.
Tôi nhớ dạo ấy, gần chỗ Passage Eden có một hàng cơm tấm hành mỡ rất
nổi tiếng , bán lúc 5 giờ sáng. Gaọ tấm chỉ nhỏ bằng hạt cườm, nấu rất
mau chín, đem chiên lại với hành mỡ và ngồi ăn dưới ánh đèn cầy. Người
ăn quán này gồm toàn dân xích lô, xe thổ mộ, từ ngoại ô vào và tôi,
giưã những ngưòi lao động nghèo khổ trong thành phố.
Hồi ấy trên đường Hàm Nghi có một chiếc xe đẩy bán món “đuôi bò hầm”
hoạt động lúc 2 giờ khuya sáng. Khách hàng gồm những cô ca ve về ăn
khuya, vừa nhai ngấu nghiến vừa đứng tụm năm tụm ba giữa lòng đường.
Tưởng tượng thấy người bưng ăn ngoài đường, lại còn khen chê, bàn tán
om sòm, thật cũng là “siêu hoang dại”.
Cùng thời ấy, có cửa hàng Viễn Đông bán nước mía ở vỉa hè Lê Lợi. Chúng
tôi đi phố về, luôn luôn ghé vào đó, chen vào đám đông người đi đường
trước cửa hàng Viễn Đông. Nước mía đựng gần đầy cóc vại, trả thêm một
đồng thì lại có một quả quýt vắt vào đầy ly nước mía. Xong, bê ra vỉa
hè đầu xa, đứng uống từ từ.
Buổi chiều, thường có gánh thịt bò viên bán trước đại học xá miền Trung
ở đường Bùi Quang Chiêu. Thịt nạc vo thành viên tròn ăn với nước xúp
lõng bõng, mỗi chén từ ba đến năm viên tùy theo kết quả về cuộc đổ tào
cáo ăn thua với người bán hàng.
Sau buổi cơm tối, tôi lên nằm cạnh ông nội, nghĩa là hết một ngày ăn
quà vặt. Ngay lúc ấy, ngoài đường bỗng hiện ra một bóng người một tay
nách rổ, tay kia xách một tay gióng mang chiếc vịm lớn có cây đèn hột
vịt chao nhẹ theo vịm chè, cất lên một giọng rao lanh lảnh:
- Ai ăn hột vịt lộn …?
Bất ngờ tiến rao ngân nga ấy chợt trở giọng thành một tiếng nạt tưởng như giận ai:
- … chè không?
Vào một thời kì nào đó của tuổi trưởng thành, khuynh hướng thực phẩm tự
nhiên biến mất, không phải vì được thoả mãn đầy đủ về nhu cầu ăn uống
mà vì vị giác không còn sức kích thích trước những thực phẩm trần gian
của bữa tiệc đời, điều mà nhà thơ Ôn Như Hầu đã từng nói: “Mùi tục lụy
lưỡi tê tân khổ …”.
(Hoàng Phủ Ngọc Tường)
|