| |
Một lễ hội ở Tây Nguyên
|
Hội mùa là ngày hội lớn, có từ lâu, rất phổ biến ở
Tây Nguyên, tương tự như ngày Tết của đồng bào Kinh. Hội mùa được người
Gia Rai gọi là Pơtrưm, người Ba Na gọi là Samok, thường tổ chức vào
tháng 12 dương lịch
Nếu chúng ta tính theo dương lịch, người dân Tây
Nguyên lao động thật sự vất vả, cực nhọc chỉ có 9 tháng (tính từ tháng
3 đến tháng 11). Theo đồng bào tính thì một năm có 9 tháng và 3 tháng
thừa. Ba tháng thừa này đồng bào gọi là Blan ningnông. Bốn ngày hội lớn
diễn ra trong 3 tháng này
Người Gia Rai có câu rằng: Dua păn blan ble ia hă, ia hang/ Rơnang
Blang kơtang hoa hang klao blan (Chín tháng ra mồ hôi, lao động mệt
nhọc/ Ba tháng nhàn rỗi vui hội thoải mái)
Như vậy, hội mùa là những ngày vui chơi giải trí của người Tây Nguyên
sau những tháng. ngày lao động cực nhọc, nhưng chủ yếu hội mùa là ngày
lễ tạ ơn thần nông nghiệp (Yă Pôm).
Ngày xưa đồng bào Tây Nguyên tổ chức hội mùa rất linh đình tốn nhiều
của cải, mất nhiều thời gian, với những lễ nghi rất cầu kỳ. Ngày nay
người Ba Na, Xơ Đăng tổ chức hội này trong 3 ngày 3 đêm, người Gia Rai
chỉ tổ chức có 1 ngày 1 đêm. Có dân tộc tổ chức hội mùa riêng lẻ theo
từng gia đình với nghi thức đơn giản cốt sao tỏ lòng biết ơn đối với Yă
Pôm để già làng và buôn làng khỏi chê trách.
Hiện nay chỉ có dân tộc Ba Na, Xơ Đăng còn tổ chức hội mùa tương đối
long trọng, còn giữ lại gần nguyên vẹn những tục lệ, lễ nghi của ông
cha từ ngàn xưa.
Trong ngày hội, tất cả các bếp trong buôn làng đều nổi lửa cùng một lúc
và tuỳ vào khả năng của từng gia đình có thể giết lợn hoặc gà.
Để góp thêm thức ăn cho ngày hội, đồng bào thường chuẩn bị từ hai ba ngày trước như đi săn bắn, bắt cá, hái rau…
Buổi sáng ngày hội, đồng bào lấy ghè rượu gốc (nước rượu đầu
tiên, ngon nhất) buộc vào cột giữa nhà (guù) hoặc buộc vào tay thần
(tơngan yang) cắm giữa nhà. Tiếp đó đồng bào rồi lấy phần thịt ngon
thất như thịt thăn, mông và gan, lá lách, quả cật chia thành 2 phần,
phần thịt chín để vào bát to, phần thịt tươi đựng trong bát nhỏ, có
một ít tiết. Những thứ này được đặt cạnh ghè rượu gốc.
Khi chủ nhà hoặc ông Riu Ang (người cúng) khấn, mọi người đều yên lặng.
Nội dung của bài khấn là kiệu bà Yă Pôm xuống ăn cơm mới, ăn thịt uống
rượu phù hộ cho gia đình, buôn làng sang năm mới làm ăn khá giả, được
mùa to hơn năm cũ. Vừa khấn xong, tiếng trống, tiếng cồng chiêng nổi
lên. Cuộc uống rượu bắt đầu. Người già nhất trong làng hoặc trong gia
đình được uống trước, sau đó là những người đứng tuổi, thanh niên, con
cháu trong gia đình. Người đánh trống, chiêng cồng cứ đánh, người già
cứ uống rượu.
Uống rượu xong, thanh niên nam nữ xuống đất đứng theo hàng như sau:
Người đánh trống đi trước, tiếp đến là những người đánh chiêng cồng và
sau cùng là những người múa. Nam nữ múa nhịp nhàng hoà với nhịp chiêng
cồng, họ đến từng gia đình trong buôn làng bắt vạ (người Gia Rai gọi là
đú). Mục đích của việc bắt vạ là làm sao mỗi gia đình đưa cho một bát
gạo và một ít thịt để cúng Yang. Tiếng hát đôi lúc át cả tiếng cồng
chiêng, đi đú các gia đình xong họ về nhà làm lễ.
Theo tục của người Gia Rai thì tổ chức hội mùa xong mới được lấy thóc
trong kho ra ăn, đồng thời mới được phép tổ chức những ngày hội khác.
Và nếu chưa tổ chức hội mùa, chưa lễ Yă Pôm mà đã lấy thóc mới ăn, Yă
Pôm sẽ bắt tội, không phù hộ cho buôn làng được mùa nữa. Đây chính là
thể hiện sự tôn trọng, lòng biết ơn và yêu quý cây lúa, yêu quý những
gì đã nuôi sống con người.
(Baobinhdinh)
|