 | |
Các đội viên PCLB ở các thôn của Hành Tín Tây nhận ghe xuồng tại trụ sở UBND xã - Ảnh: Võ Quý Cầu |
Bây giờ miền Trung mới chính thức bước vào mùa mưa lũ. Đi dọc ven
sông Trà Khúc, Trà Bồng, sông Vệ (Quảng Ngãi), chúng tôi đã gặp những
người dân quê đang chạy đua trước lũ, tìm cách chống lũ...
Làng “can nhựa”
Cuối tháng mười, chúng tôi về xã Hành Tín Tây (Nghĩa
Hành), một xã nằm nơi đầu nguồn sông Vệ luôn hứng con nước từ vùng núi
rừng Ba Tơ đổ về. Năm 1999, mưa lũ trắng trời, Hành Tín Tây từng trở
thành “rốn lũ” của Quảng Ngãi. Qua khỏi Nông trường mía 24-3 rẽ vào,
chúng tôi thấy nhiều người xách những can nhựa loại 30 lít có ghi chữ
PCLB. Anh Nguyễn Văn Thanh - trưởng thôn Tân Phú 2, hai tay xách chục
can nhựa - nói: “Nhận can trên xã về chống lụt bão đây. Cũng nhờ ba cái
can này mà nhiều người thoát chết...”.
Tác giả của chiếc can nhựa PCLB - Nguyễn Minh Tâm, nay
là chủ tịch UBND xã Hành Tín Tây - nghe hỏi chuyện về chiếc can cười
xòa: “Cách chống lũ của vùng quê nghèo mà...”. Mùa mưa lũ năm 2000,
cũng trong một chiều mưa lâm thâm cuối tháng mười, mấy anh em ngồi họp
bàn cách cứu hộ khi lũ về. Tất cả thở dài bởi ai cũng biết xã có chín
thôn gồm 1.183 hộ với 4.813 nhân khẩu nhưng có đến 37,7% hộ nghèo. Khi
đài báo mực nước sông ở mức báo động 2 thì chín thôn đều bị cô lập và
đến báo động 3 thì cả xã đã là biển nước mênh mông. Làm sao đảm bảo an
toàn tính mạng cho lũ trẻ khi đi qua sông, suối, để bà con di dời tránh
lũ khi bốn bề nước vây quanh? Trong chiều mưa năm đó, anh Tâm rụt rè
nói: “Hay là mình đi mua can nhựa để làm phao cho rẻ, chứ phao tròn, áo
phao gần 100.000 đồng/cái lấy đâu ra...” .
Phòng họp bỗng ồn ào. Mấy anh em trong đội PCLB chạy
ngay về nhà mang đến UBND xã mấy can nhựa rồi bàn tính. Sau đó họ mang
can nhựa ra sông Vệ để thử xem chiếc can hiệu quả đến đâu.
Thế rồi ngày hôm sau chỉ trong một buổi sáng, ở Chợ
Chùa, huyện Nghĩa Hành, hàng trăm can nhựa treo bán lủng lẳng bị vét
sạch. Can đem về xã đánh dấu “PCLB” rồi thông báo cho các đội PCLB ở
chín thôn đến nhận.
Cũng từ đó, trên những chuyến ghe trong mùa mưa lũ ở
Hành Tín Tây đều có những chiếc can. Anh Lê Quang Minh, thành viên ban
PCLB thôn Tân Phú, kể: “Xã cho can, cho luôn dây dù. Mình đem dây cột
vào cái đai của can rồi tròng chéo xuống dưới đáy là có thể đeo sau
lưng như đeo balô thay cho mặc áo phao. Đó cũng là phao cứu hộ nữa. Khi
thấy ai chấp chới trong dòng nước lũ là mình bơi thuyền đến tung can
ra...”.
Chuyện cứu hộ theo kiểu nhà nghèo của xã Hành Tín Tây
có hiệu ứng không ngờ: nhà nào cũng mua năm ba chiếc can về làm phao.
Chuyện “xã phao can” lan rộng khắp vùng ven đầu nguồn sông Vệ. Qua Hành
Tín Đông, đến Hành Thiện cũng thấy bà con đổ đi mua can nhựa. Nhà nghèo
khó thường ngày dùng can đựng mắm, nhưng khi thấy trời mưa xuống là súc
can sạch cột dây vào làm phao chống lũ. Năm nay, Hội Chữ thập đỏ tỉnh
đã cấp được một số ghe, nhưng phao can vẫn là phương tiện chủ lực của
làng quê.
Lên gò Đình, trên gò cao giáp bìa núi trồng bạch đàn
lưa thưa, chúng tôi thấy hàng trăm người đang chặt tre vót rui mè, lấy
tranh, rơm bện thành tấm để làm mái chuồng cho trâu bò ở tạm. Ông Đào
Văn Nhân ngồi trên mái chuồng bò đón lấy từng bó rơm do con chuyển lên,
nói: “Chuyển người đi thì có ghe thuyền, nhưng trâu bò thì không thể
nên chúng tôi phải làm chuồng tạm chuyển chúng lên trước...”. Nhiều năm
rồi, khi vụ hè thu kết thúc, rơm rạ được chuyển thẳng lên gò Đình để
chất thành cây. Trước mùa lũ, đàn ông, trai tráng lại kéo lên gò làm
mới hoặc tu sửa lại chuồng trại để nhốt trâu bò tránh lũ.
 | | Dân xã ven sông Trà tu sửa lại thuyền ghe cứu hộ - Võ Quý Cầu | Ghe hốt sạn, bắt cá thành... tàu cứu hộ
Nghĩa Dũng (TP Quảng Ngãi), vùng hạ lưu ven sông Trà
Khúc, nơi mà trong mùa lũ năm 1999 máy bay trực thăng phải thả nước, mì
tôm cho bà con, đã có bờ kè dọc sông dài khoảng 1km. Nhưng anh Cao Bạt,
thành viên đội cứu hộ, cứu nạn của thôn, cho biết: “Bờ kè kiên cố thật,
nhưng hễ khoảng báo động 2 là con nước chồm lên rồi ào vào doi cát tạo
thành nhánh sông nhỏ nước chảy xiết nghe rợn người”.
Còn ở thôn 2, nền đất bị sạt lở, nhiều hộ bị đe dọa
nên phải lo chuyện di dời. Phó chủ tịch UBND xã Cao Tùng cho hay: “Lũ,
toàn xã có 360 hộ sẽ bị cô lập, bị sạt lở nên xã đã lập ba đội thuyền
cứu hộ gồm 20 thuyền máy, ghe chèo...”. Chỉ ra phía ngoài sông nơi có
những ghe chèo tay, chạy máy đang neo đậu, anh giải thích: “Ghe của anh
em hốt sạn, bắt cá bống đó.
Tất cả họ đều trong đội phòng chống lụt bão hết. Ngày
ngày họ đi kiếm sống, nhưng khi lũ về thì trở thành đội viên cứu hộ.
Chỉ cần ới một tiếng là anh em giong thuyền tới ngay”. Đội cứu hộ thôn
2 hiện có 14 thành viên với tám chiếc ghe. Năm nào cũng vậy, khi mưa lũ
nước dâng cao, đội thuyền ghe cứu hộ lại xuất kích trong mưa bão đến
từng nhà đưa người già, phụ nữ, trẻ em lên gò cao, rồi chạy ghe máy
canh chừng nhà cửa cho bà con. Năm 2002, sau những ngày quăng quật
trong lũ, mấy anh em trong đội cứu hộ cứu nạn của xã nghe cô giáo Hạnh
bị nước cuốn trôi trên Nghĩa Dõng, cả đoàn lại chống sào bơi thuyền
đi...
Những ngày này, ở những làng ngập lũ ven sông Trà Bồng
(Bình Sơn), con sông đã đi vào thơ ca với dòng nước “soi bóng những
hàng tre...” không còn xanh trong nữa mà chuyển màu đùng đục. Phó chủ
tịch UBND xã Bình Dương Huỳnh Công Lập cho hay: “Mấy hôm rồi trời
chuyển mùa, anh em chia nhau đi khảo sát nắm lại toàn bộ số nhà kiên
cố, trụ sở UBND xã, trạm y tế, trường học và tính toán lại số hộ ở mỗi
vùng sẽ phải di chuyển để có gì thì chuyển bà con đến. Xã cũng đã họp
chủ 22 ghe máy, ghe bơi và chủ ba chiếc tàu làm nghề rỗi là các ông
Đặng Thanh Hà, Lê Văn Bưởi và Nguyễn Dũng để bàn cách cứu hộ, cứu nạn
khi lũ về”.
Anh Lê Văn Bưởi, chủ chiếc tàu đã được xã hợp đồng,
nói: “Hợp đồng gì đâu, bà con chòm xóm cả. Ngày ngày mình đưa tàu đi
làm nghề rổi, mưa lũ về thì bơi đi cứu bà con ấy mà”...
(TTO) |