|
Miền Trung với tôi bao giờ cũng đặc
biệt hấp dẫn. Từ cái giọng nói nằng nặng của người miền Trung đến cái
khắc nghiệt của thời tiết nơi đây cũng khiến dải đất này thật tha thiết
mời gọi. Tôi đã đi nhiều, chiêm nghiệm nhiều,
có những vùng đất chỉ thoảng qua trong trí nhớ, nhưng những ấn tượng
miền Trung quả thật cho đến bây giờ vẫn đầy ắp trong ký ức của tôi
trong chuyến đi xuyên Việt vừa rồi.
Quán mắm cá Quảng Bình
Xuất
phát từ Hà Nội lúc 6 giờ sáng, đến 8 giờ tối thì vào địa phận thị xã
Đồng Hới. Nếu là miền Trung, nhưng 2 địa phương Nghệ An, Hà Tĩnh vẫn
chưa có nhiều khác biệt so với miền Bắc.
Vượt qua đèo Ngang
vào đến Quảng Bình mới cảm nhận được mảnh đất miền Trung thứ thiệt. Từ
giọng nói đến cách sinh hoạt, món ăn. Hỏi người bạn Quảng Bình, hiện
đang sống ở Hà Nội: Quảng Bình có đặc sản gì? Chị nghĩ một lát rồi lắc
đầu: Cũng chẳng có gì ngoài mắm.
Tôi thì nghĩ, nếu nói về mắm
thì phải nói ở Huế. Thôi thì đành tìm cho mình một quán ăn bình dân
ngay sát chợ Đồng Hới, trên đường Mẹ Suốt. Chủ quán, một người đàn bà
có vẻ mặt chất phác, biết chúng tôi từ Hà Nội vào nên giới thiệu một
món mắm cá. Thoạt đầu, tôi chẳng mặn mà lắm với cái mùi ngai ngái của
thứ mắm sền sệt, đen như mắm tôm và nhìn thì chẳng có gì hấp dẫn cả.
Bà
chủ quán vắt vào bát mắm ít chanh, ớt tươi, đặt bên cạnh là một đĩa rau
sống mà lá dấp cá thì nhiều, với gừng tươi. Vậy mà vừa đưa chút mắm lên
nhấp một cái tôi như bị món mắm cá mê hoặc. Ba ngày ngắn ngủi ở Quảng
Bình, món mắm cá gần như một thứ bùa mê, mà không bữa cơm nào chúng tôi
bỏ được.
Ngày thứ tư lên đường đi tiếp vào phía trong cũng vẫn
đặt hàng bà chủ quán cho một can mắm cá mang theo để đỡ nhớ. Sự chân
thật của người Quảng Bình đến lạ. Cầm hoá đơn thanh toán mà giật mình
vì giá quá rẻ. Can mắm cũng vậy chỉ có 20.000đ. Chính thứ mắm cá rất
chân chất ở Đồng Hới và sự chân thành của bà chủ quán khiến chúng tôi
nhớ mãi mảnh đất miền Trung này.
Chiếc thuyền thúng ở bãi biển Non Nước
12
năm trước tôi đã qua Đà Nẵng, nhưng lúc đó Đà Nẵng đang còn phát triển
rất chậm. Nay Đà Nẵng đã tiến khá nhanh. Tôi chạy xe dọc theo đường cao
tốc từ khách sạn Furama ra đến Sandy Beach rồi chạy một lèo đến tận Hội
An (Quảng Nam) chỉ mất có khoảng 25 phút đồng hồ.
Dừng xe, tôi
lang thang trên các cồn cát ngay sát mặt biển gần núi Ngũ Hành Sơn, nơi
chế tác ra các hàng thủ công mỹ nghệ tuyệt phẩm bằng loại đá nổi tiếng
gọi là đá Non Nước hay đá Ngũ Hành. Có một bức tượng Phật bà Quan Âm
cao tới 5 mét, mà để tạc xong phải mất 3 tháng, trị giá bức tượng tới
gần 200 triệu đồng. Bức tượng này không phải dựng ở Việt Nam mà do một
gia đình Việt kiều đặt hàng, làm xong sẽ chuyên chở bằng tầu biển sang
tận Mỹ.
Tôi đi chầm chậm dọc theo bãi biển và chợt nhìn thấy
mấy con thuyền thúng đang nằm chơ vơ ngay sát mặt biển. Dọc theo miền
Trung tôi vẫn hay thấy những con thuyền như vậy như hồi ở Cửa Lò tôi
được Nam, một trong những tay chụp ảnh có tiếng ở đây đưa đi chơi bằng
thuyền thúng trên biển mà chỉ riêng sự dập dềnh trên biển trong cái
mênh mông và tối đen của trời đất đã khiến tôi không thốt nổi nên lời
vì... sợ.
Lâu lắm rồi mới gặp lại những chiếc thuyền thúng. Ba
ngư phủ, dáng người khoẻ mạnh, nước da bánh mật đang làm nốt những công
đoạn cuối cùng trước khi ra khơi. Mỗi con thuyền chỉ có một người chèo,
một mái chèo buộc bên thuyền và một can nước khoảng 10 lít.
Cái
can theo giải thích của các ngư phủ sẽ cứu họ nếu trong trường hợp gặp
nạn trên biển. Nó vừa là phao để người đi biển bám vào, vừa cung cấp
những hớp nước ngọt quý giá cho những ai lênh đênh trên biển. Các ngư
phủ xỏ một cái đòn qua hai quai thuyền và cùng hô "Hây". Chiếc thuyền
được đẩy chạy sền sệt trên mặt cát. Tôi cũng thử đẩy, và dù có vận cả
"12 thành công lực" cũng chẳng làm chiếc thuyền dịch chuyển chút nào.
Rồi cả mấy chiếc thuyền cùng đồng loạt ra khơi. Họ vẫy tay cười chào
tôi rồi lắc rất khéo tay chèo và dù sóng có to đến mấy thì chiếc thuyền
thúng nhỏ nhoi vẫn cưỡi trên những con sóng để ra khơi.
Khoảng
mươi phút sau, bóng những chiếc thuyền thúng chỉ còn là một cái chấm
nhỏ trên mặt biển mênh mông. Một ngư phủ kể với tôi, cả trăm năm trước
làng chài này vẫn ra khơi như thế và bây giờ cũng thế. Dường như cái
đường cao tốc rộng thênh thang ngoài kia, hay những bức tượng Phật bà
cao tới 5 mét giá tới cả vài trăm triệu đồng ở Ngũ Hành Sơn cũng như sự
sang trọng của khu Resort 4 sao Sandy Beach ngay sát bên làng chài này
dường như chẳng lay động đến cuộc sống của họ. Các ngư phủ vẫn cười và
như cả trăm năm trước mỗi ngày họ lại ra khơi trên những chiếc thuyền
thúng.
Chiếc cầu bị lãng quên ở Hội An
Hội
An với tôi quả thật để lại rất nhiều ấn tượng. Từ quán Cao Lầu của ông
Lại Hứa Xương trên đường Trần Phú, mà ông chủ vui tính và mến khách đến
mức cứ ôm cột mà kể chuyện cao lầu mặc cho khách cứ ăn, đến cửa hàng
may Thu Thuỷ nổi tiếng mà giá may tuy đắt nhưng khách vẫn vào rầm rập
cốt để đặt được một cái áo hay quần đích thị của Hội An, mà lại là may
lấy ngay.
Hội An cũng thật ấn tượng bởi những chiếc đèn lồng
treo cao vào buổi tối. Khách cứ đi đi lại lại mãi mà chẳng thấy chán dù
quanh quẩn chỉ trên vài ba con phố cổ. Sức cuốn hút của Hội An thật kỳ
lạ. Nhưng khi đã về đến Hà Nội rồi điều khiến tôi hay nhớ đến ở Hội An
lại chính là chiếc cầu bị lãng quên. Nó nằm ngay ở khúc sông chỗ Cửa
Đại, sau khách sạn Hội An. Cây cầu dựng bằng gỗ, từ đường Cửa Đại, qua
sông để bắc sang một cái cù lao.
Một nhân viên phục vụ kể, cái
cầu này được dựng từ rất lâu và sau đó có một doanh nghiệp quyết định
đầu tư vào cái cù lao thành chốn ăn chơi. Vài năm sau việc làm ăn thất
bát, chẳng ai còn bước trên cái cầu này để sang cù lao nữa. Rồi vào một
đêm mưa gió, một nhịp cầu gẫy gập xuống. Và chẳng còn ai dùng chiếc
cầu.
Buổi chiều, trong ráng chiều hoàng hôn, tôi cảm nhận thân
phận con người đôi khi cũng giống như chiếc cầu kia. Nó nằm đấy vẫn còn
một chút hiên ngang vắt qua dòng sông, nhưng khi nhịp của nó đã gãy, nó
sẽ bị quên lãng.
Bức tường đổ trong Đại nội Huế
Đến
Huế hầu như du khách nào cũng phải đi thăm lăng tẩm, đền đài của vua
chúa triều Nguyễn. Chúng tôi vào Đại nội, nơi trước đây các vua triều
Nguyễn thường thiết triều. Trong Đại nội chỉ có vua, các phi tần được
ở. Chính vì vậy mà sự uy nghiêm của nó cũng được thể hiện rất rõ.
Đứng
trước điện Cần Chánh, rồi lại trước những chiếc đỉnh lớn, thể hiện sự
quyền uy của vương triều và trong tôi dường như nghe như đâu đây tiếng
bước đi của đoàn người ngựa võng lọng khi vua lên thiết triều. Nếu nói
đến ông vua cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Đại thoái vị năm 1945 thì
thời gian đó đến nay cũng mới chỉ có hơn 60 năm, nhưng những gì của Đại
nội còn lại không khỏi khiến những người yêu Huế lo lắng.
Hai
bên Đại nội người ta đang dựng lại hai cung nghe nói ở vị trí trước
đây là cung dành cho các phi tần, cung nữ ở. Tôi nhìn thấy có quá nhiều
chỗ trong Đại Nội giờ chỉ là những đống hoang tàn đổ nát.
Thậm
chí những bước tường ngăn giữa cung này với cung khác cũng đang dần sụm
xuống. Hỏi ông Vĩnh Phan, cháu đời thứ 6 của vua Minh Mạng, hiện đang
là chủ một quán bún bò trên đường Lý Thường Kiệt về cái sự trùng tu Đại
Nội, ông nói, cũng có rất nhiều con cháu nhà Nguyễn đang cố gắng đóng
góp để trùng tu lại, nhưng số tiền không thấm vào đâu, nếu không có sự
đầu tư của nhà nước.
Ông Vĩnh Phan thỉnh thoảng vẫn vào Đại
Nội thắp hương cho tổ tiên, như rất nhiều người dòng dõi Nguyễn Phước
tộc khác vẫn làm và ông hiểu rằng nếu cứ để tình trạng này một lúc nào
đó Đại Nội sẽ không còn là Đại Nội nữa.
Tôi là người gốc Huế.
Được đứng ở một vùng đất đã từng là kinh đô của một vương triều với
biết bao thăng trầm của lịch sử tôi như cảm nhận được cả mạch đập của
từng viên đá vỡ, từng bức tường đổ. Những gì còn lại không nhiều của
quá khứ. Nếu không biết gìn giữ mọi thứ sẽ biến mất.
(Laodong)
|