Thế nhưng trong vòng vài năm gần đây,
hàng ngàn hiện vật thuộc dòng gốm này được biết đến như một phát hiện
có ý nghĩa trong lịch sử phát triển của vương triều Vijaya của người
Chăm (Bình Định).
Không chỉ hiện diện trong đời sống hàng ngày
của cư dân Chăm thế kỷ 11-15, mà gốm Gò Sành còn hé mở nhiều phát hiện
mới mẻ- Từ thế kỷ 11-15, cùng Hội An, Thị Nại đã là một điểm dừng quan
trọng trong con đường gốm sứ trên biển song song tồn tại với con đường
tơ lụa trên đất liền.
Từ trận bom tình cờ
Mùa
đông năm 1974, một loạt bom Mỹ thả xuống làng Gò Sành thuộc xã Nhơn
Hòa, huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Sức công phá của thuốc nổ đã làm lộ
diện một lò nung gốm cổ cùng hàng nghìn hiện vật bị vùi sâu dưới lòng
đất từ hàng trăm năm qua. Trận bom vô tình, không ngờ lại góp phần làm
sáng tỏ một thời kỳ lịch sử của chủ nhân vùng đất, đồng thời khai thông
nỗi bế tắc mà có một người đã nhiều năm mò mẩn tìm lối ra.
Đó
là ông Nguyễn Hượt, chủ lò gốm Kim Môn (Phù Mỹ-Bình Định). Trước đó
nhiều năm ông Hượt tình cờ phát hiện nhiều chum, lọ gốm thô và có men
lạ ở quanh vùng ông sinh sống. Vốn là một người sản xuất và buôn gốm sứ
lớn trong vùng, ông chuyên tâm tìm hiểu và xây dựng một bộ sưu tập. Do
phần lớn số hiện vật này tìm được trên vùng đất xưa người Chăm sinh
sống, nên ông đoán đó là gốm do dân tộc này sản xuất để sử dụng.
Thế nhưng trong thư tịch cổ lẫn hiện
trường, trên vùng đất Bình Định chưa hề hé lộ bất kỳ lò nung gốm nào có
niên đại tương đương. Vẫn có khả năng những vật đó được mua từ một nơi
xa mang về. Vì vậy sau khi lò gốm cổ vừa bị bom Mỹ phát lộ, ông đến
ngay. So sánh hiện vật tại chỗ với những gì lưu giữ trong bộ sưu tập,
ông nhận định vùng Gò Sành (Bình Định) và lân cận đã tồn tại một trung
tâm sản xuất gốm của tiền nhân Chăm phục vụ cho sinh hoạt của cư dân và
triều đình vương triều Vijaya lúc bấy giờ.
Cuối tháng 2.1974,
ông Hượt vào Sài Gòn công bố phát hiện của mình. Tuy vậy do điều kiện
khốc liệt của chiến tranh không có khả năng tổ chức tìm kiếm, khai
quật; thiếu dữ kiện trong các thư tịch... nên những tâm huyết của ông
chủ lò gốm Kim Môn gần như chưa tạo được sự quan tâm đúng mức của giới
nghiên cứu văn hoá.
Người kế thừa xuất sắc
Đầu
năm 2006, một nhà trưng bày gốm cổ tư nhân đầu tiên được khai trương
tại TP Quy Nhơn. Có khoảng hơn 200 hiện vật được trưng bày theo hai
dòng: gốm cổ và gốm hiện đại. Theo chủ nhân bộ sưu tập, dòng gốm cổ bao
gồm những sản phẩm của người Chăm (từ thế kỷ 11 đến 15) và gốm của
người Việt (từ thế kỷ 17 đến 18), được phân thành bốn nhóm sản phẩm: đồ
thờ tự và trang trí tôn giáo, đồ tế tự và ngự dụng, ngự lãm, xuất khẩu
và dân dụng.
Trong số các hiện vật được trưng bày tại đây, có
một số có giá trị đặc biệt, như nhiều tượng thần bằng đất nung, cặp
bình tai bèo cổ tiện, bộ đồ ngự dụng men trắng (bạch định)... ; có
hiện vật được xem là độc bản, được các nhà sưu tầm và nghiên cứu đánh
giá cao, như pho tượng đất nung Dravapala (môn thần), hay chiếc đĩa ngự
dụng rồng năm móng cỡ lớn, vẽ tích Long Vân Khánh Hội...
Điều bất ngờ lớn, bộ sưu tập
này thuộc sở hữu của anh Nguyễn Vĩnh Hảo, con ruột và là người kế thừa
ông chủ lò gốm Kim Môn -Nguyễn Hượt. Để tạo điểm trưng bày, ông Nguyễn
Vĩnh Hảo đã kỳ công xây dựng một khu nhà theo phong cách kiến trúc đan
xen giữa dáng vẻ tháp Chăm và kiểu nhà lá mái của Bình Định. Anh kể:
"Năm cha tôi gần 70 tuổi, ông bị bệnh huyết áp mà vẫn nhọc sức vì những
chuyến đi tìm cổ vật gốm Gò Sành.
Tôi
đành phải làm người lái xe cho ông suốt hai năm và từ đó nhiễm thú cổ
ngoạn lúc nào không hay". Những ngày dong ruổi đó đã buộc chặt cuộc đời
anh vào những chiếc lọ, chiếc bình gốm cổ mà người cha đổ vào đó cả tâm
huyết cuộc đời. Hiện bộ sưu tập của anh Hảo đã phát triển lên đến hơn
1.300 cổ vật có giá trị.
Độc đáo nhất trong bộ sưu tập, đó là
tượng thần Brahman, Vishnu, Siva, tu sĩ, bò thần Nadin... phù điêu, mặt
nạ (kala) bằng đất nung (đoán định niên đại TK 11-12), có nghệ thuật
đẽo khắc cực kỳ tinh xảo và không hề kém so với nhóm tượng điêu khắc
bằng sa thạch vốn phổ biến ở vùng Avamarati (Quảng Nam). Anh Hảo nhận
định: "Do vùng Vijaya không có sa thạch, nên nhiều khả năng người dân
đã sử dụng đất nung tạo tác tượng thần, phục vụ cho tế tự, thờ cúng,
trang trí trên các tháp... So với những gì tôi phát hiện được trong
những năm qua, thì ngoài điêu khắc đá, người Chăm cũng là bậc thầy về
đất nung".
Từ Chu Đậu đến Gò Sành
Gốm (thô
và có men) phục vụ cho dân dụng, hoặc thờ cúng của tiền nhân Chăm không
lạ và được phát hiện nhiều khắp miền Trung, suốt từ Quảng Bình đến
Quảng Ngãi. Thế nhưng những phát hiện về gốm Gò Sành đã gây sự chú ý
lớn cho giới nghiên cứu văn hóa Chăm trong và ngoài nước.
Trước
hết khác hẳn với dòng gốm men của vùng Avamarati, chủ yếu có màu nâu
đen, người thợ Gò Sành đã pha chế được loại men màu ngà (bạch định),
chính vì vậy nhiều chuyên gia về gốm nhầm lẫn đây là gốm Trung Hoa (đời
Tống). Mới đây, chủ nhân bộ sưu tập gốm Gò Sành đã công bố các khuôn
dùng để in hoa văn trên gốm Gò Sành, được tìm thấy tại vùng An
Nhơn-Bình Định để một lần nữa chứng minh xuất xứ nội địa của dòng gốm
này.
Điều
đáng lưu ý, hiện gốm Gò Sành được lưu giữ ở nhiều bảo tàng, hoặc là vật
gia bảo của các gia đình quyền quý tại các nước Indonesia, Thái Lan,
Singapore, Ai Cập, Anh... Điều đó chứng tỏ dòng gốm Gò Sành đã được
xuất khẩu, theo các thương thuyền đi rất xa.
Trong vài năm qua,
Bảo tàng Bình Định đã phát hiện được nhiều lò nung sản xuất gốm của
người Chăm ở Gò Sành, Gò Hời, Gò Ké, Trường Cửu, Cây Me... tất cả đều
nằm chung quanh thành Đồ Bàn và thành Cha. TS Đinh Bá Hòa nhận định:
"Điều này chứng tỏ TK 11-15 tại đây đã xuất hiện một trung tâm sản xuất
sản phẩm thủ công.
Hơn thế các lò gốm Gò Sành kéo dài từ thế
kỷ đến thế kỷ 14, tương đồng với khoảng thời gian Trung Quốc cấm vận,
không cho hàng hóa từ nội địa ra nước ngoài. Như vậy có khả năng trung
tâm sản xuất gốm của người Chăm tại Bình Định đã phát triển mạnh nhằm
bù đắp nhu cầu gốm dân dụng thiếu hụt trên thế giới. Và vùng Thị Nại
(Bình Định) cũng đã từng là một thương cảng sầm uất của người Chăm xưa,
đã góp vai trò lớn trong việc xuất khẩu sản phẩm này".
Phát hiện
này thật sự lý thú, vì cách đây không lâu, tại Cù Lao Chàm (Hội An)
Viện Khảo cổ đã phát hiện và trục vớt một tàu cổ chở đầy gốm Chu Đậu bị
đắm vào khoảng thế kỷ 12-13. Từ sự kiện này, kết hợp với nhiều tư liệu
được ghi trong lịch sử hàng hải thế giới, vùng Chu Đậu - Hải Dương cũng
được xác định là một trung tâm gốm sứ của người Việt cung cấp cho thị
trường thế giới trong thời điểm nói trên và cảng thị Hội An là một điểm
dừng quan trọng của con đường gốm sứ thế giới trên biển.
Từ Hội
An đến Thị Nại, từ Chu Đậu đến Gò Sành, những mảnh gốm cổ tưởng chừng
vô tri vô giác, nhưng lại ẩn chứa bên trong mạch sống của cả dân tộc.
Câu chuyện về gốm Gò Sành, Chu Đậu là một bằng chứng cho thấy, trong
quá khứ, cha ông ta đã biết chọn bước thích hợp nhất để tự tin bước ra
thương trường thế giới. Và có lẽ bài học này đến nay vẫn còn tính thời
sự trong những ngày đầu nền kinh tế đất nước tham gia vào Tổ chức
thương mại toàn cầu WTO.
(Laodong)