|
Phía bắc thôn Vụ Bổn (Palei Pabhan) xã Phước
Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, khoảng 3km trên đường đến đập
gạch (Binưk Kiak), ở vị trí làng Ma Vớ cũ (Palei Mưbơk), nơi có vết
tích của lò gạch dùng để xây tháp Po Rome, ngày nay xen lẫn với bạt
ngàn rẫy thuốc lá vườn cây ăn trái dọc theo Mương Ngựa (Ribaung Asaih)
có một lùm cây rậm rạp rộng khoảng hơn một sào đất, ở giữa có một cây
đa cổ thụ gốc phải đến 3 – 4 người ôm, dây leo chằng chịt, tán cây xòe
rộng phủ trùm cả một khoảng đất rộng, tạo nên một không khí âm u, huyền
ảo, khiến người gan dạ nhất cũng phải kiêng dè khi đi qua vào lúc tối
trời. Cùng với rất nhiều mẫu chuyện về sự linh thiêng của ngài, Po
Mưbơk dần dần được dân trong vùng coi như là thần của địa phương, chỗ
dựa cho đời sống tâm linh của người Chăm lẫn Kinh, được thờ phượng đều
đặn, long trọng và trang nghiêm.
Nằm dưới tán cây đa rậm rạp là một ngôi đền nhỏ
khoảng 16m vuông, cao 4m, mái hình bánh ú, lợp ngói âm dương rêu phong,
dáng cong cánh nhạn, đứng vững chải trên bốn trụ trơn đơn giản. Chính
giữa đền có một phiến đá kut tượng trưng cho ngài, được tẩy thể và mặt
lễ phục vào các ngày cúng giỗ. Theo các cụ già thôn Vụ Bổn kể lại rằng:
ngôi đền này được dựng lên vào thời điểm xây dựng tháp Po Rome, để ghi
nhớ công ơn của người sinh thành ra đấng minh quân này. Ngài là một
biểu tượng của thánh mẫu, người mẹ xứ sở vùng Mưbơk phía nam
Pangduranga như các bà mẹ xứ sở khác trong vùng Trung Việt.
Có người cho rằng trước đây đền Po Nưgar Mưbơk có tượng thờ, do
chiến tranh dai dẳng tàn phá và là vùng hẻo lánh nên sự cúng kiếng của
dân trong vùng bị gián đoạn. Mãi sau này hậu duệ của ngài là dòng tộc
Mưbơk sửa sang lại, dựng tạm đá kut để thờ giống như sự thờ cúng của
một dòng tộc. Người am hiểu văn hóa Chăm thì không chấp nhận được đây
là kut của dòng tộc Mưbơk, vì không có đá po di, đá bên nam, đá bên nữ…
như mô hình các kut khác, chỉ duy nhất có một phiến đá tượng trưng cho
Po Mưbơk. Đây chính là Po Nưgar Mưbơk đã bị lớp bụi thời gian và sự
nghèo khó kéo dài của dân làng Vụ Bổn làm cho thánh mẫu chỉ là mẫu của
một dòng tộc Mưbơk thay vì là mẫu của cả vùng nam Pangduranga như các
Po Nưgar Hamu Tanran. v.v…
Sự hoang phế kéo dài mãi đến năm 1955 thì có cụ “ông già Nhờ” vì
không có con gái, sợ mình sẽ bị tuyệt tự (theo chế độ mẫu hệ của người
Chăm), đã khấn cầu với ngài mong có được một người con gái nối dõi và
mang điều lành cho gia đình, xin được lợp mái ngói cho ngôi đền. Ngay
năm đó vợ chồng cụ sinh được cô Mua, nay cô đã có chồng và con cái vẫn
mạnh khỏe, an cư tại thôn Vụ Bổn. Gần đây được hợp tác xã nông nghiệp
Vụ Bổn cấp kinh phí, ngôi đền được xây mới, khang trang, tuy không giữ
được những nét cũ nhưng 4 cây cột đường kính 35cm được chạm trổ công
phu vẫn còn bên đền.
Hằng năm vào đầu tháng giêng, vào đầu tháng 4, và đặc biệt là vào
dịp lễ Katê đầu tháng 7 theo lịch Chăm, bà con xóm Mưbơk cũ, hay tộc họ
Mưbơk hiện còn giữ y trang – lễ phục của ngài, cùng toàn dân làng Vụ
Bổn, cư dân các rẫy vườn lân cận (cả người Chăm lẫn người Kinh), ai có
khấn cầu thường đem lễ vật dâng cúng trong ba dịp này hằng năm. Theo
quy định lễ dâng cúng này gồm 5 mâm cơm và một cặp gà do ông Chamưnei
(ông Từ) làm chủ lễ, được truyền từ đời này sang đời khác trong dòng
tộc Mưbơk; Nay ông Chín thôn Vụ Bổn là ông Từ và gia đình ông đang giữ
lễ phục của ngài.
Chẳng có một di ký, hay một bằng chứng rõ ràng nào (có thể là theo
chủ quan của người viết) về nguồn gốc của bà. Kẻ cho rằng bà là người
làng Mưbơk, người nói bà là mẹ của vua Po Rome, người gốc làng Rinhoh
(Ninh Hà) Phan Rí tên là Mưoa. Một hôm do ăn trúng đọt lim xanh trong
rừng nên có chửa, bị cha mẹ đuổi ra khỏi nhà. Trên đường tìm nơi nương
tựa, bà đến ở và sinh hạ Ja Kathaut (tên Po Rome khi nhỏ) tại làng
Tường Loan, sau đó lần bước đến làng Hamu Birơv (thôn Lạc Trị huyện Tuy
Phong) rồi đến trú ngụ, sinh sống tại làng Palei Pabhan.
Để có một kết luận thuyết phục cần thêm điều nghiên của các nhà
nghiên cứu về Chăm dựa trên các tài liệu cũ, kể cả lời kể người già, và
hoa văn trên y trang – lễ phục của bà hiện còn đang lưu giữ. Duy có một
điều chắc chắn rằng bà là người có công lớn đối với địa phương, làm
việc từ thiện, lấy việc giúp bà con làm ăn sinh sống đoàn kết hòa thuận
giữa Chăm và Bàni làm trọng, đặc biệt là giữa cư dân của 4 làng lân cận
trong vùng là: Nha Phân (Palei Pabhan, Chà Vin (Palei Chaping), Ma Vớ
(Palei Mưbơk) và Palei Hamu Kalauk, nay dấu tích của kut và thổ mộ
(ghur) của các làng đó vẫn còn. Cả 4 làng bị tập trung lại thành làng
Vụ Bổn trong thời kỳ ấp chiến lược. Để nhớ công đức lớn đó của bà người
đời đã lập đền và thờ phượng.
Theo chủ trương “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc” của Đảng và Nhà nước, chính quyền các cấp, các ngành
chức năng không ngừng chú ý nghiên cứu, khôi phục lại hình thức lễ hội
địa phương. Với quan điểm nhà nước và nhân dân cùng làm, đồng bào và
Ban quản lý các thôn cùng góp của, góp công tôn tạo, bảo tồn lại những
di sản tinh thần tốt đẹp, tạo môi trường giáo dục và gìn giữ bản sắc
độc đáo của cha ông, điều kiện cố kết cộng đồng, đảm bảo hòa nhập vững
vàng trước xu thế khu vực hóa đầu thiên kỷ mới, là sự góp phần thúc đẩy
quá trình phát triển nhanh các mặt của địa phương được đúng hướng và
vững chắc.
(Sưu tầm)
|